Giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa vệ sinh thông qua một số trò chơi cho trẻ 5 6 tuổi trường mầm non mường bú b, mường la, sơn la - Pdf 43

TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

GIÁO DỤC THÓI QUEN ĂN UỐNG CÓ VĂN HÓA - VỆ SINH
THÔNG QUA MỘT SỐ TRÕ CHƠI CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI
TRƢỜNG MẦM NON MƢỜNG BÖ B, MƢỜNG LA, SƠN LA

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục

Sơn La, tháng 05 năm 2017


TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
GIÁO DỤC THÓI QUEN ĂN UỐNG CÓ VĂN HÓA - VỆ SINH
THÔNG QUA MỘT SỐ TRÕ CHƠI CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI
TRƢỜNG MẦM NON MƢỜNG BÖ B, MƢỜNG LA, SƠN LA

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục

Sinh viên thực hiện: Lèo Thị Quyên

Nam, Nữ: Nữ

Dân tộc: Thái

Cầm Thị Thu Thủy

Để hoàn thành đề tài: “Giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh thông
qua một số trò chơi cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trƣờng mầm non Mƣờng Bú B - Mƣờng La Sơn La” Chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS. Khúc Thị Hiền - Giảng
viên khoa Tiểu học - Mầm non, ngƣời đã hƣớng dẫn và giúp đỡ chúng em để hoàn
thành đề tài.
Chúng em xin cảm ơn phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, trung
tâm thông tin - thƣ viện trƣờng Đại học Tây Bắc và Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô
giáo khoa Tiểu học - Mầm non đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài.
Chúng em xin Ban giám hiệu và cảm ơn các cô giáo trƣờng Mầm non Mƣờng
Bú B - Mƣờng La - Sơn La đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng em thực hiện đề tài.
Sơn La, tháng….. năm 2017
Nhóm tác giả
Lèo Thị Quyên
Cầm Thị Thu Thủy
Vũ Ngọc Quỳnh
Vì Thị Huệ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ...........................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................................2
4. Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu ..........................................................2
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu .................................................................................2
6. Giả thuyết nghiên cứu ...................................................................................................3
7. Phƣơng pháp nghiên cứu ..............................................................................................3
8. Đóng góp của đề tài ......................................................................................................3
9. Cấu trúc của đề tài ........................................................................................................4
NỘI DUNG ......................................................................................................................5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............................5

3.2. Thời gian và đối tƣợng thực nghiệm .......................................................................47
3.3. Điều kiện và tiêu chí thực nghiệm...........................................................................47
3.4. Nội dung thực nghiệm .............................................................................................48
3.5. Kết quả thực nghiệm ................................................................................................49
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 .................................................................................................52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................................53
1. Kết luận .......................................................................................................................53
2. Kiến nghị .....................................................................................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................55
PHỤ LỤC


TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa: Tiểu học – Mầm non
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Thông tin chung:
- Tên đề tài: “Giáo dục thói quen ăn uống văn hóa - vệ sinh thông qua một số trò chơi cho trẻ
5- 6 tuổi tại trƣờng Mầm non Mƣờng Bú B, Mƣờng La, Sơn La.”
- Sinh viên thực hiện:
1) Lèo Thị quyên
2) Cầm Thị Thu Thủy
3) Vũ Ngọc Quỳnh
4) Vì Thị Huệ
- Lớp K55 ĐHGD Mầm non B
Năm thứ: 3

Khoa: Tiểu học - Mầm non

Số năm đào tạo: 4



Ngày…. tháng…. Năm 2017
Người hướng dẫn
( ký và ghi rõ họ tên)


TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa: Tiểu Học- Mầm Non
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN
CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I. SƠ LƢỢC VỀ SINH VIÊN:

Ảnh 4x6

Họ và tên: LÈO THỊ QUYÊN
Sinh ngày: 08 tháng 5 năm 1995
Nơi sinh: Xã Mƣờng Bú- Mƣờng La- Sơn La
Lớp: K55 ĐHGD Mầm Non B.

Khóa: K55

Khoa: Tiểu học - Mầm non
Địa chỉ liên hệ: Bản Nang Phai- Mƣờng Bú- Mƣờng La- Sơn La
Điện Thoại: 01659074200
Email:[email protected]
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP ( kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang học)
* Năm thứ 1 :
Ngành học: Giáo dục mầm non Khoa: Tiểu học- Mầm non
Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lƣợc thành tích: Tham gia các hoạt động nghiệp vụ sƣ phạm cấp lớp, cấp khoa.

Một trong những phƣơng pháp dạy học đƣợc chú trọng ở bậc học mầm non là trò
chơi. Việc kết hợp trò chơi trong các hoạt động học có chủ đích mang lại ý nghĩa to
lớn trong việc: rèn luyện thể lực, sự khéo léo, nhịp nhàng, rèn luyện trí tuệ, sự nhanh
trí, óc phán đoán, cảm xúc thẩm mĩ, khả năng hoạt động nhóm tập thể, sự gắn kết của
tình bạn và đặc biệt nó góp phần xây dựng nhân cách cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ.
Trẻ em 5- 6 tuổi vốn là những chủ thể với những năng lực riêng, có khả năng tƣ
duy, thích khám phá thế giới xung quanh và trong một chừng mực nào đó, trẻ em có
thể khám phá ra những ý tƣởng trong những hoàn cảnh có mục đích, có ý nghĩa với
chúng. Đây là giai đoạn tốt để ngƣời lớn, cha mẹ và giáo viên mầm non hình thành
thói quen văn hóa - vệ sinh cho trẻ để chuẩn bị sẵn sàng cho trẻ bƣớc vào lớp một.
Thông qua các hoạt động có chủ đích và hoạt động sinh hoạt hàng ngày ở trƣờng
Mầm non, quá trình giáo dục thói quen ăn uống văn hóa - vệ sinh cho trẻ đƣợc giáo
viên lồng ghép vào hoạt động sinh hoạt hàng ngày và vào những hoạt động khác nhau,
để nhắc nhở trẻ luôn ghi nhớ và thực hiện việc ăn uống có văn hóa - vệ sinh hàng
ngày. Việc ăn uống không những đáp ứng nhu cầu sinh lý của cơ thể mà còn thể hiện
khía cạnh đạo đức, thẩm mĩ. Hành vi trên bàn ăn của mỗi cá nhân thể hiện sự tôn trọng
những ngƣời xung quanh. Chính vì vậy, thói quen ăn uống có văn hóa – vệ sinh cần
1


hình thành rất sớm cho trẻ. Không những thế việc lồng ghép các trò chơi vào các tiết
học để tiết học trở nên hấp dẫn, sinh động, bớt đơn điệu nhàm chán.
Từ lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Giáo dục thói quen ăn uống có
văn hóa - vệ sinh thông qua một số trò chơi cho trẻ 5 - 6 tuổi”
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ từ lâu đã đƣợc nhiều tác giả quan tâm,
nghiên cứu. Trong giáo trình Vệ sinh trẻ em của tác giả Hoàng Thị Phƣơng, tác giả đã
đề cập đến khái niệm, các bƣớc thực hiện và nội dung của việc giáo dục và hình thành
các thói quen vệ sinh nói chung cho trẻ mầm non và thói quen ăn uống văn hóa – vệ
sinh nói riêng. Tác giả Hoàng Thị Phƣơng cũng đƣa ra các phƣơng pháp và hình thức

5.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu: Giáo dục thói quen ăn uống có văn
hóa - vệ sinh thông qua một số trò chơi cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trƣờng Mầm non Mƣờng
Bú B - Mƣờng La - Sơn La.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Thực tế hiện nay cho thấy, việc giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh
cho trẻ mầm non đang là vấn đề cấp thiết, đã có rất nhiều các giải pháp đƣợc đƣa ra
tuy nhiên vẫn chƣa đạt hiệu quả cao. Do đó, nếu đề tài của chúng tôi đƣợc nghiên cứu
một cách khoa học, sẽ góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả giáo dục
thói quen ăn uống văn hóa - vệ sinh, đồng thời cung cấp kiến thức và hình thành kỹ
năng cơ bản cho trẻ Mầm non để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, tổng hợp.
- Hệ thống hóa kiến thức trong các tài liệu liên quan đến nội dung giáo dục thói
quen vệ sinh và phƣơng pháp sử dụng trong dạy học trẻ mầm non.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phƣơng pháp điều tra
- Phƣơng pháp quan sát
- Phƣơng pháp hỏi đáp
- Phƣơng pháp thực nghiệm
8. Đóng góp của đề tài
Nếu nhƣ đề tài của chúng tôi đƣợc nghiên cứu thành công thì sẽ là một tài liệu có
cơ sở khoa học vững chắc, có tính khả thi cao cho sinh viên ngành giáo dục mầm non
nói riêng và giáo viên mầm non nói chung trong giáo dục thói quen ăn uống có văn
hóa- vệ sinh, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thói quen vệ sinh văn minh cho trẻ
mầm non.
3



Tác giả Nguyễn Nhƣ Ý trong đại từ điển giải thích: Thói quen là lối, cách sống
hay hành động do lặp lại lâu ngày trở thành nếp rất khó thay đổi.
Nhà tâm lí học John F. Tristany cho rằng: Thói quen là một loạt các hành vi
thâm căn cố đế do học hỏi mà có và đƣợc liên tục củng cố bởi các yếu tố môi trƣờng,
cảm xúc và tâm lí. Nó dựa trên nguyên tắc khoái lạc của con ngƣời là chỉ muốn có
niềm vui và tuyệt đối tránh khó khăn, đau khổ.
Trong tâm lí học, quan niệm thói quen đƣợc nhiều nhà khoa học đồng tình nhƣ
sau: Thói quen là hành động tự động hóa ổn định trở thành nhu cầu của con ngƣời.
Trong lí luận dạy học: Thói quen mang tính nhu cầu, nếp sống. Gắn với tình
huống cụ thể, bền vững, ăn sâu vào nếp sống.
Nhƣ vậy: Thói quen thƣờng để chỉ những hành động của cá nhân đƣợc diễn ra
trong điều kiện ổn định về thời gian, không gian và quan hệ xã hội nhất định. Thói
5


quen có nội dung tâm lí ổn định và thƣờng gắn với nhu cầu cá nhân. Khi đã trở thành
thói quen, mọi hoạt động tâm lí đều trở nên cố định, cân bằng và khó loại bỏ.
Sự hình thành thói quen
Sự hình thành thói quen có thể là do bắt chƣớc hoặc cũng có thể đƣợc hình thành
do giáo dục. Chính vì vậy thói quen đƣợc hình thành ở trẻ, trẻ sẽ có cả thói quen tốt và
thói quen xấu, ngƣời lớn và giáo viên mầm non cần chú ý thực hiện và hƣớng dẫn các
thói quen có lợi để giúp ích cho sự phát triển của trẻ nhỏ.
Nhƣ vậy quá trình hình thành thói quen gồm có 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Hiểu cách làm
Giáo viên cần hƣớng dẫn cho trẻ hiểu mỗi hành động gồm những thao tác nào?
Các thao tác đó diễn ra theo trình tự nhƣ thế nào? Cách tiến hành mỗi thao tác cụ thể.
- Giai đoạn 2: Hình thành kỹ năng
Hƣớng dẫn trẻ biết vận dụng những tri thức đã biết để tiến hành một hành động
cụ thể nào đó. Việc tiến hành các hành động ở giai đoạn này đòi hỏi sự tập trung chú
ý, có nỗ lực về ý chí và biết vƣợt qua khó khăn.

cầu sinh lý của cơ thể mà còn có khía cạnh đạo đức, thẩm mỹ. Hành vi ăn uống có văn
hoá vệ sinh là thể hiện sự tôn trọng mọi ngƣời xung quanh. Vì vậy, cần giáo dục cho
trẻ mẫu giáo những quy định về ăn uống nhƣ: Trƣớc khi ăn: Biết rửa mặt, rửa tay sạch
sẽ, lấy ghế và ngồi vào đúng vị trí của mình, biết mời mọi ngƣời xung quanh. Trong
khi ăn: Trẻ biết sử dụng dụng cụ ăn uống (cầm thìa bằng tay phải, bát bằng tay trái;
cách giữ thìa, bát...), biết nhai và nuốt đồ ăn (ngậm miệng khi nhai, ăn uống từ tốn,
nhai kỹ…), biết quý trọng đồ ăn thức uống (không để thừa thức ăn, không làm vãi, đổ
thức ăn..), không nói chuyện, đùa nghịch khi ăn. Sau khi ăn: Tập cho trẻ biết để bát,
thìa, bê ghế cất đúng nơi quy định; biết tự dùng khăn lau miệng, lau tay; biết uống
nƣớc súc miệng, không chạy nhảy đùa nghịch…
- Thói quen tiến hành hoạt động có văn hóa: Đối với trẻ mẫu giáo, thói quen hoạt
động có văn hoá vệ sinh đƣợc thể hiện ở hành vi của trẻ khi tham gia vào các hoạt
động học tập, vui chơi, lao động và các sinh hoạt khác. Giáo dục cho trẻ có thói quen
hoạt động có văn hoá vệ sinh là giáo dục trẻ biết giữ ngăn nắp nơi hoạt động, giữ gìn
đồ dùng - vật liệu - sản phẩm hoạt động; không vứt rác bừa bãi. Sau khi chơi, học bài
xong biết cất đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định; không làm hỏng đồ dùng, đồ chơi;
biết đƣợc mục đích hoạt động; thích đƣợc làm việc giúp đỡ ngƣời lớn; biết hoàn thành
nhiệm vụ đƣợc giao…
- Thói quen giao tiếp có văn hóa: Thể hiện ở chỗ trẻ phải nắm đƣợc một số quy
định về giao tiếp của trẻ với ngƣời lớn và bạn, trên cơ sở tôn trọng và có thiện chí; biết
sử dụng các phƣơng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ; biết chào hỏi mọi ngƣời thể hiện

7


nhu cầu, thể hiện sự ân hận khi mắc lỗi, thể hiện sự quan tâm; biết nói lời cảm ơn, xin
lỗi khi cần thiết; khi giao tiếp không đƣợc nói trống không …
1.1.3. Giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh cho trẻ mầm non
1.1.3.1. Vai trò của việc giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh cho trẻ mầm non
Trong công tác chăm sóc và giáo dục mầm non, hình thành và rèn luyện các thói

Giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh cho trẻ mầm non còn ảnh hƣởng
lớn đến sự phát triển trí tuệ của trẻ. Giúp trẻ hình thành những tri thức sơ đẳng khác
nhau, hình thành những biểu tƣợng, khái niệm đúng về hành vi ăn uống có văn hóa vệ sinh, cũng nhƣ những hiện tƣợng đơn giản khác của cuộc sống xung quanh trẻ, nhờ
các hoạt động cảm nhận phong phú, chính xác tƣ duy sẽ trở nên nhạy bén, thông qua
đó trẻ có thể tự rèn cho bản thân những thái độ đúng đắng chuẩn mực với mọi hành vi,
việc làm và điều chỉnh những cảm xúc của bản thân.
Giáo dục kỹ năng, kỹ xảo, thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh hàng ngày cho
trẻ có vai trò vô cùng quan trọng nó góp phần hình thành ở trẻ các phẩm chất đạo đức
tốt thông qua việc hình thành những tình cảm, xúc cảm của bản thân. Đồng thời, nó
cũng rèn cho trẻ tính kiên trì, tự giác và có ý thức cao trong mọi hoạt động.
Ngoài ra, giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh cho trẻ qua các trò
chơi còn giúp trẻ phát triển thẩm mĩ, giáo dục các thói quen lao động, tự phục vụ đơn
giản. Trong thế giới xung quanh trẻ chứa bao điều mới lạ, hấp dẫn. Việc tác động vào
tâm hồn trẻ những tình cảm tốt đẹp, những hành vi, những thói quen có văn hóa là
những điều vô cùng quan trọng giúp trẻ nhanh nhẹ, khéo léo, hứng thú với mọi hoạt
động để phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ, từ những sự tri giác việc bồi đắp cho
trẻ những hành vi, thói quen ngay từ những năm tháng đầu đời sẽ giúp trẻ biết tự điều
chỉnh theo đúng chuẩn của xã hội.
Việc giáo dục những thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh cho trẻ là một trong
những điều kiện thuận lợi giúp trẻ phát triển tâm sinh lí, tình cảm và khả năng nhận thức
của trẻ. Nhờ vào việc thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh sẽ giúp trẻ hiểu đƣợc thái độ
tự phục vụ khi ăn uống, vệ sinh khi ăn uống ở trƣờng cũng nhƣ ở nhà và giúp trẻ hình
thành tính tự giác cho bản thân, giúp đỡ bạn bè và mọi ngƣời xung quanh.
Nói tóm lại, việc giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh cho trẻ vô cùng
quan trọng, nó giúp trẻ phát triển toàn diện từ nhân cách, trí tuệ, thẩm mĩ, đạo đức… và
dần tạo ra một con ngƣời phát triển toàn diện.
1.1.3.2. Nhiệm vụ giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh cho trẻ mầm non
Nhiệm vụ quan trọng trong việc giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh
cho trẻ mầm non nhằm hình thành những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định về các
hoạt động ăn uống từ đó hình thành các thói quen tốt cho trẻ. Vì ở lứa tuổi này, cơ thể

hoá vệ sinh là thể hiện sự tôn trọng mọi ngƣời xung quanh. Vì vậy, cần giáo dục cho
trẻ mẫu giáo những quy định về ăn uống nhƣ:
- Trƣớc khi ăn: Biết rửa mặt, rửa tay sạch sẽ, lấy ghế và ngồi vào đúng vị trí của
mình, biết mời mọi ngƣời xung quanh.
- Trong khi ăn: Trẻ biết sử dụng dụng cụ ăn uống (cầm thìa bằng tay phải, bát
bằng tay trái; cách giữ thìa, bát...), biết nhai và nuốt đồ ăn (ngậm miệng khi nhai, ăn
10


uống từ tốn, nhai kỹ…), biết quý trọng đồ ăn thức uống (không để thừa thức ăn, không
làm vãi, đổ thức ăn… không nói chuyện, đùa nghịch khi ăn).
- Sau khi ăn: Tập cho trẻ biết để bát, thìa, bê ghế cất đúng nơi quy định; biết tự dùng
khăn lau miệng, lau tay; biết uống nƣớc súc miệng, không chạy nhảy đùa nghịch…
Trẻ bắt chƣớc rất nhiều thói quen từ ngƣời lớn, đặc biệt là thói quen ăn uống
hàng ngày cho nên để chỉnh sửa thói quen cho trẻ thì ngƣời lớn, đặc biệt là cô giáo cần
chú ý đến việc chỉnh sửa thói quen ở bản thân để trẻ học hỏi.
Trẻ nhỏ giai đoạn này, học hỏi đƣợc rất nhiều điều thông qua trò chơi nên giáo
viên cần lồng ghép những trò chơi vào trong các hoạt động sinh hoạt cho trẻ nhƣ các
trò chơi nấu cơm và ăn cơm để thông qua đó dạy trẻ các thói quen ăn uống có văn hóa
- vệ sinh.
1.1.3.4. Phương pháp giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa - vệ sinh cho trẻ
mầm non.
Giáo dục thói quen văn hóa vệ sinh cho trẻ mẫu giáo, giáo viên mầm non có thể
sử dụng các phƣơng pháp sau:
 Nhóm phƣơng pháp giáo dục tình cảm đối với hành vi văn hóa cho trẻ:
Để giáo dục tình cảm đối với hành vi văn hóa cho trẻ có thể bằng cách:
- Tạo xúc cảm cho trẻ đối với môi trƣờng xung quanh, từ đó giúp trẻ hành động
hƣớng tới mục đích. Mục đích của phƣơng pháp này nhằm giáo dục sự nhạy cảm cho
trẻ, chuẩn bị tâm thế đón nhận hành vi, bởi thực tế khi trẻ có cảm xúc tốt trẻ sẽ dễ thể
hiện điều đó trong hoạt động và giao tiếp.

biệt là cách thức tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi của trẻ. Mục đích là
trang bị cho trẻ những tri thức chủ yếu về vệ sinh, giúp trẻ nắm đƣợc các thao tác
thực hiện trong từng hành động vệ sinh một cách chính xác, đúng đắn, làm cơ sở
để luyện tập trong sinh hoạt hàng ngày. Các tiết vệ sinh có thể tổ chức theo từng
nhóm nhỏ từ 8 – 10 trẻ vào các thời điểm làm vệ sinh cá nhân, trƣớc khi ăm cơm,
trƣớc khi ngủ trƣa… Trong quá trình tổ chức tiết học vệ sinh cá nhân, giáo viên
có thể sử dụng các dụng cụ trực quan nhƣ tranh ảnh hoặc các dụng cụ vệ sinh cá
nhân (vật thật)… để giúp trẻ dễ dàng nắm đƣợc cách thức thực hiện, có hứng thú
với việc thực hiện hành vi văn hoá vệ sinh.
Tổ chức các hoạt động vui chơi chứa đựng nội dung giáo dục thói quen văn hoá
vệ sinh: Chơi là quá trình trẻ học làm ngƣời, trải nghiệm những xúc cảm, tình cảm,
hành vi của con ngƣời qua các vai khác nhau. Với các chủ đề chơi về “gia đình”, “cửa
hàng bách hoá”, “trƣờng học”, “bệnh viện”… Khi trẻ tham gia vào trò chơi cũng chính
là quá trình trẻ tiếp nhận tri thức, kỹ năng, hình thành xúc cảm, tình cảm một cách tự
nhiên không ép buộc… Ví dụ trong chủ đề “gia đình” giáo viên có thể tiến hành cho
trẻ chơi các trò chơi với búp bê, kết hợp với các dụng cụ vệ sinh, hoặc sử dụng các trò
12


chơi đóng kịch (bằng các vở kịch có nội dung ngắn gọn, có thể do giáo viên soạn thảo
dựa trên những hành vi của trẻ đã quan sát đƣợc), để rèn luyện cho trẻ các thói quen
văn hoá vệ sinh thông qua các bƣớc tổ chức trò chơi nhƣ: Chuẩn bị cho trẻ chơi: Cho
trẻ làm quen với đời sống xung quanh (qua dạo chơi, tham quan, trò chuyện, trao đổi
với trẻ…). Trong quá trình đó cần hƣớng trẻ chú ý tới hành động của con ngƣời, mối
quan hệ của họ, kết hợp với giải thích động cơ hành động, tạo môi trƣờng hoạt động,
giúp trẻ dễ dàng sử dụng các vật liệu có sẵn và hoàn cảnh xung quanh để chơi. Tổ
chức cho trẻ chơi: Cho trẻ đàm thoại trƣớc khi chơi, đàm thoại giúp trẻ có cơ hội độc
lập chuyển tri thức và kỹ năng đã biết để đạt mục đích chơi, lập kế hoạch tổ chức thực
hiện và xác định những điều kiện cần thiết. Trong quá trình tổ chức, điều kiển quá
trình chơi của trẻ, giáo viên có thể tham gia trực tiếp vào trò chơi với trẻ, giúp trẻ phát

hỏng đồ chơi…
Khi trẻ thực hiện các hành động cô giáo cần giám sát, kiểm tra, đánh giá, động
viên khen ngợi kịp thời những trẻ làm đúng, làm tốt, hƣớng dẫn, uốn nắn, điều chỉnh
những trẻ làm chƣa đúng. Thông qua việc luyện tập thƣờng xuyên, hàng ngày, với sự
giúp đỡ và giám sát chặt chẽ của giáo viên, trẻ sẽ có đƣợc những kỹ năng thực hiện
hành động có văn hoá vệ sinh, dần dần những kỹ năng đó sẽ trở thành thói quen, thành
nhu cầu bên trong của trẻ.
Phối hợp với gia đình trong quá trình giáo dục trẻ: Hàng ngày trẻ chỉ sinh hoạt ở
trƣờng mầm non với thời gian nhất định, còn lại trẻ sống ở gia đình, chịu sự giáo dục
của gia đình. Vì thế, nếu có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trƣờng để thống
nhất về nội dung, phƣơng pháp, hình thức tổ chức giáo dục tác động đến trẻ một cách
đồng bộ, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, hình thành hành vi văn hoá vệ
sinh cho trẻ. Hồ Chủ tịch đã dạy “Giáo dục ở nhà trƣờng chỉ là một phần, còn cần có
sự giáo dục ở gia đình, ngoài xã hội. Giáo dục nhà trƣờng dù có tốt đến mấy nhƣng
nếu thiếu giáo dục ở gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn ”. Để
phối hợp với gia đình trong việc giáo dục thói quen văn hoá vệ sinh cho trẻ, giáo viên
cần tiến hành trao đổi thƣờng xuyên với phụ huynh trẻ thông qua giờ đón và trả trẻ
hàng ngày, qua đó nắm bắt những đặc điểm, hành vi của trẻ ở gia đình. Đồng thời
thông báo cho gia đình biết tình hình, những biểu hiện của trẻ ở lớp, những nội dung,
yêu cầu giáo dục của cô đối với trẻ. Từ đó có cách thức tác động, phối hợp giữa gia
đình và nhà trƣờng trong việc giáo dục, rèn luyện hành vi văn hoá cho trẻ.
1.1.4. Trò chơi
1.1.4.1. Các vấn đề về trò chơi
a) Khái niệm:
Trong Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992, chữ “trò” đƣợc hiểu là một hình
thức mua vui bày ra trƣớc mặt mọi ngƣời, chữ “chơi” là một từ chung để chỉ các hoạt
14


động lúc nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc nhằm mục đích giải trí là chính. Từ đó, trò chơi

đều mang lại hiệu quả giáo dục. Học trong quá trình chơi là quá trình lĩnh hội tri thức,
15


vốn sống, kinh nghiệm xã hội một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, không gò bó phù hợp với
tâm sinh lí của trẻ mầm non “học mà chơi, chơi mà học” sẽ khơi dậy hứng thú tự
nguyện, làm giảm sự căng thẳng thần kinh ở trẻ, giữ đƣợc sự hồn nhiên của trẻ thơ.
Chính vì vậy việc vận dụng trò chơi để giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa – vệ
sinh thì hiệu quả giáo dục sẽ đƣợc nâng cao, cụ thể là:
- Mục tiêu cuối cùng của vấn đề giáo dục thói quen ăn uống có văn hóa – vệ sinh
là hình thành những hành vi đúng đắn. Trong khi đó, nội dung trò chơi sẽ minh họa
một cách sinh động các mẫu hành vi này. Nhờ đó, các hành vi này sẽ tạo những biểu
tƣợng rõ rệt ở trẻ, giúp trẻ ghi nhớ dễ ràng và lâu bền.
- Qua trò chơi, trẻ có thể nghiệm những chuẩn mực hành vi về thói quen ăn uống
có văn hóa – vệ sinh. Chính nhờ sự thể hiện này, sẽ hình thành đƣợc ở trẻ niềm tin về
những chuẩn mực hành vi đã học, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi về thói
quen ăn uống có văn hóa – vệ sinh.
- Qua trò chơi, trẻ sẽ đƣợc lựa chọn những hành vi đúng đắn về thói quen ăn
uống có văn hóa – vệ sinh ở trong cuộc sống.
- Qua trò chơi trẻ đƣợc hình thành năng lực quan sát, đƣợc rèn luyện kĩ năng
nhận xét, đánh giá hành vi của ngƣời khác là phù hợp hay không phù hợp với chuẩn
mực hành vi về thói quen ăn uống có văn hóa – vệ sinh.
- Trò chơi là một lợi khí chính yếu trong những phƣơng pháp giáo dục, giúp trẻ
em rèn luyện và phát triển toàn mỹ các giác quan chính, làm cho trẻ khéo léo hơn, trí
tƣởng tƣợng phong phú hơn. Trò chơi còn giúp trẻ biết quan sát và phản ứng nhanh,
biết tôn trọng kỷ luật, biết tự chủ, từ đó nảy nở tình đồng đội, đoàn kết thƣơng yêu
nhau. Trò chơi đƣợc xem nhƣ một hình thức tổ chức cuộc sống cho trẻ, nó đƣợc xem
nhƣ một phƣơng tiện giáo dục trẻ có hiệu lực nhất, vì qua đó nó ảnh hƣởng đến sự phát
triển toàn diện của trẻ, nó còn là phƣơng cách nhận thức thế giới của trẻ em.
Trong phƣơng pháp giáo dục hiện đại, trò chơi là một môn huấn luyện quan

vụ, biết quý trọng lao động.
- Giáo dục thẩm mỹ:
Thông qua trò chơi, trẻ phản ánh đƣợc mối quan hệ xã hội của ngƣời lớn và cũng
qua đó, trẻ cảm thụ đƣợc cái đẹp.
d) Đặc trưng:
+ Trò chơi mang tính tự do, tự nguyện và tính độc lập
Một trong những nét đặc thù của trò chơi chính là tính tự do, tự nguyện và tính
độc lập ở trẻ rất cao. X.L. Rubinstêin cho rằng động cơ chơi chủ yếu là phục vụ cho
việc bắt chƣớc một mặt nào đó của cuộc sống thực có ý nghĩa đối với trẻ. Tính tự do,
tự nguyện và tính độc lập của trẻ đƣợc biểu hiện ở việc lựa chọn trò chơi hoặc nội
dung chơi; tự lựa chọn bạn chơi; tự do tham gia và tự do rút lui khỏi trò chơi,… Khi
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status