HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
-----------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ TRONG GIÁO DỤC
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG
THPT CAO BÁ QUÁT - GIA LÂM - HÀ NỘI”
Người thực hiện
: NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
Lớp
: MTD
Khóa
: 57
Chuyên ngành
: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG
HÀ NỘI – 2016
HÀ NỘI – 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới Th.S Nguyễn Thị Hương
Giang, giảng viên bộ môn Quản lí Môi trường - Khoa Môi trường, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các giáo viên trường
THPT Cao Bá Quát- Gia Lâm đã ủng hộ và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài tại trường.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ, gia đình và bạn
bè đã động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện khóa
luận này.
Do kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên
không tránh khỏi những sai sót trong quá trình thực hiện đề tài, vì vậy tôi rất
mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý thầy cô và các bạn sinh viên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Người thực hiện
Nguyễn Thị Bích Ngọc
i
1.2. Mục đích nghiên cứu............................................................................................................2
PHẦN II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU............................................................................3
2.1. Tổng quan về giáo dục môi trường.....................................................................................3
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục môi trường trên thế giới và ở Việt Nam.................3
2.1.2. Định nghĩa GDMT....................................................................................................................... 6
2.1.3. Các yếu tố của GDMT................................................................................................................. 8
2.2.1. Các vấn đề môi trường toàn cầu................................................................................................. 11
2.2.2. Các vấn đề môi trường tại Việt Nam.......................................................................................... 16
2.3. Giới thiệu một số mô hình giáo dục môi trường đang được áp dụng hiện nay..............19
2.3.1 Một số mô hình GDMT trên thế giới..........................................................................................19
2.3.2. Một số phương pháp GDMT tại Việt Nam.................................................................................20
2.4. Những chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước về BVMT và GDMT tại Việt Nam
....................................................................................................................................................25
PHẦN III. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................28
3.1. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu.....................................................................................28
3.2. Phạm vi nghiên cứu............................................................................................................28
3.3. Nội dung nghiên cứu..........................................................................................................28
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu...................................................................................................... 28
3.4.2 Phân tích SWOT........................................................................................................................ 29
3.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả chương trình hoạt động thí điểm của CLB.................................30
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu.......................................................................................................... 30
PHẦN VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...............................................................................31
4.1 Hiện trạng giáo dục môi trường và khả năng xây dựng CLB Môi trường tại trường
THPT Cao Bá Quát- Gia Lâm- Hà Nội...................................................................................31
4.1.1. Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu............................................................................................. 31
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Những môn học có tích hợp nội dung GDMT:...........................................................32
Bảng 4.2. Mức độ hiểu biết và thường xuyên thực hiện các biện pháp bảo vệ và tiết kiệm nước
của học sinh (%)........................................................................................................................ 47
Bảng 4.3. Thái độ của học sinh trong vấn đề bảo vệ và tiết kiệm nguồn nước (%)......................49
Bảng 4.4. Các vấn đề của học sinh trong việc tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước...........................50
Bảng 4.5. Các mục tiêu của chương trình thí điểm.....................................................................51
Bảng 4.6. Chương trình hoạt động trong “ Tuần lễ Nước sạch và vệ sinh môi trường” do CLB
Môi trường CGC thực hiện........................................................................................................ 52
Bảng 4.7. Phân tích sự tham gia và mối quan tâm của các nhóm chiến lược...............................53
Bảng 4.8. Phân tích sự tham gia của các bên liên quan...............................................................54
Bảng 4.9. Đánh giá của đối tượng truyền thông về hiệu quả của chương trình (%).....................56
Bảng 4.10. Đánh giá của học sinh về hiệu quả của các phương tiện truyền thông của chương trình
(%)............................................................................................................................................ 57
Bảng 4.11. Sự thay đổi nhận thức của học sinh về việc bảo vệ và tiết kiệm nguồn nước trước và
sau chương trình (%).................................................................................................................. 57
Bảng 4.12. Sự thay đổi về mức độ thực hiện các biện pháp bảo vệ và tiết kiệm nguồn nước trước
và sau chương trình (%)............................................................................................................. 59
Bảng 4.13. Sự thay đổi thái độ của học sinh trong việc bảo vệ và tiết kiệm nguồn nước trước và
sau chương trình (%).................................................................................................................. 59
v
DANH MỤC HÌNH
CGC
: CBQ Green Club
CLB
: Câu lạc bộ
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GDMT
: Giáo dục môi trường
HS
: Học sinh
IPCC ( Intergovermental Panel on Climate Change) : Ủy ban Liên
chính phú về Biến đổi khí hậu
IUCN ( International Union for Conservation of Nature anh Natural
Resources): Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
UNEP (United Nations Environment Program): Chương trình Môi
trường Liên Hợp Quốc
vii
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học, kỹ thuật con người
- Xây dựng mô hình CLB Môi trường nhằm giáo dục, nâng cao nhận thức
về môi trường cho học sinh Trường THPT Cao Bá Quát- Gia Lâm- Hà Nội.
- Xây dựng chương trình hoạt động thí điểm cho CLB.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của CLB thông qua hoạt động
thí điểm và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của CLB
Môi trường cho học sinh THPT.
2
PHẦN II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về giáo dục môi trường
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục môi trường trên thế giới và ở
Việt Nam
2.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục môi trường trên thế giới
Khái niệm Giáo dục môi trường (GDMT) được hình thành ở nước Anh,
do giáo sư Sir Patrick Geddes – một nhà thực vật học người Scotland. Ông là
người tiên phong trong lĩnh vực quy hoạch thị trấn và nông thôn. Ông đã chỉ
ra mối liên hệ quan trọng giữa chất lượng môi trường với chất lượng giáo dục
từ năm 1892. Geddrs cũng là người đi đầu trong việc giảng dạy những chiến
lược tạo cơ hội cho người học tiếp xúc với môi trường xung quanh.
Sau khi mối quan hệ giữa chất lượng giáo dục và chất lượng môi
trường được thừa nhận vào cuối thế kỷ XVIII, khái niệm GDMT đã phát triển
rất nhanh, với nhiều cách nhìn nhận khác nhau về khái niệm, cách thực hiện
và kết quả của GDMT.
Trước những năm 1960, lĩnh vực gần gũi nhất với GDMT là các nghiên
cứu thiên nhiên, nghiên cứu nông thôn và điều tra hiện trường. Vào thời gian
này việc nghiên cứu các loài được thực hiện riêng lẻ để tìm hiểu về đặc điểm
riêng, hành vi và nhu cầu của chúng. Sau đó, khái niệm Sinh thái ra đời, mối
lược chung nhằm định hướng phát triển bền vững cho quốc gia của mình,
nghĩa là “phát triển để thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh
hưởng đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Hội nghị
cũng nhất trí rằng bảo vệ môi trường và phát triển không chỉ gây ra nhiều
xung đột mà trên thực tế còn có quan hệ tương tác lẫn nhau trên mọi phạm vi,
từ cấp địa phương, cấp quốc gia, cấp vùng đến cấp toàn cầu. Điều này làm
cho GDMT bao hàm thêm nội dung liên quan đến “phát triển”.
Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững
được tổ chức tại Johannesbug, Nam Phi. Tại hội nghị, các đại biểu đã nhất trí
rằng bản chất của việc phấn đấu để đạt được phát triển bền vững là một quá
4
trình học hỏi. Để phát triển bền vững, cần có những công dân năng động, có
kiến thức, đồng thời cần có những người ra quyết định nhiệt huyết, được
thông tin đầy đủ và có khả năng đưa ra quyết định đúng đắn về những vấn đề
phức tạp, liên đới mà xã hội đang phải đối mặt như kinh tế, xã hội và môi
trường. Như vậy, mục đích của GDMT là một phần mục đích của tất cả các
hoạt động giáo dục.
2.1.1.2. Tình hình giáo dục môi trường ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ năm 1966 Chủ tích Hồ Chí Minh đã phát động phong
trào Tết trồng cây để giữ gìn và làm đẹp môi trường sống. Cho đến nay phong
trào này vẫn được duy trì và phát triển mạnh mẽ.
Trong kế hạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền
vững của Việt Nam giai đoạn 1996-2000, GDMT được ghi nhận như một bộ
phận cấu thành.
Từ năm 1995, dự án GDMT trong nhà trường phổ thông Việt Nam của
Bộ Giáo dục và Đào tạo do UNDP tài trợ đã nhắm vào mục tiêu cơ bản:
+ Hỗ trợ xây dựng một chính sách và chiến lược thực hiện quốc gia về
Thuật ngữ “GDMT” cũng đã được sử dụng trong Hội nghị toàn cầu lần
thứ nhất về Môi trường nhân văn tại Stokholm năm 1972, nhưng chỉ đến Hội
nghị ở Belgrade, GDMT mới được định nghĩa trên quy mô toàn cầu. Kể từ đó,
cộng đồng quốc tế thừa nhận định nghĩa về GDMT là “quá trình nhằm phát
triển một cộng đồng dân cư có nhận thức rõ ràng và quan tâm đến môi trường
cũng như các vấn đề liên quan, có kiến thức, kỹ năng, động cơ và sẵn sàng
làm việc độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề hiện
tại và phòng chống các vấn đề có thể nảy sinh trong tương lai”.
Từ đó đến nay, ý nghĩa và khái niệm GDMT đã có nhiều thay đổi. Ban đầu,
nội dung của GDMT rất hạn chế, chỉ tập trung vào dạy và học các vấn đề môi
trường địa phương, kể cả môi trường tự nhiên và nhân tạo. Nội dung giáo dục
cũng chỉ tập trung vào những mặt sinh học và địa lý khi nghiên cứu môi trường.
Hội nghị Liên chính phủ lần thứ nhất về GDMT tại Tbilisi (Liên Xô cũ)
năm 1977 đã kêu gọi đại biểu đưa ra một cách tiếp cận mới mang tính toàn
6
diện và liên ngành hơn. Tại hội nghị này, cộng đồng quốc tế đã khẳng định và
nhất trí với định nghĩa về GDMT ở trên, đồng thời nhất trí về các mục tiêu
của GDMT như hiện nay.
Khi cách nhìn nhận về môi trường thay đổi, kỳ vọng về thành tựu của giáo
dục cũng thay đổi. Nhiều khái niệm mới liên quan đến giáo dục đã được phát triển
như: GDMT, giáo dục phát triển, giáo dục nhân cách, giáo dục nhân quyền, giáo
dục hòa bình và giáo dục để phát triển bền vững. Trừ khái niệm GDMT và giáo
dục để phát triển bền vững, những khái niệm “giáo dục” khác có rất ít điểm chung
và chỉ tập trung vào một lĩnh vực hẹp, cụ thể. Những người làm GDMT nhận thấy
khi trọng tâm giáo dục được mở rộng, các khái niệm cơ bản như phát triển, môi
trường, nhân quyền, hòa bình … sẽ bổ sung cho nhau.
Với quan điểm và cách nhìn như vậy, một định nghĩa tương đối mới về
- Khuyến khích, củng cố và phát huy những thái độ và hành vi tích cực
đối với môi trường hiện có.
2.1.3.2. Mục tiêu của GDMT.
- Kiến thức: GDMT cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng những
kiến thức, sự hiểu biết cơ bản về môi trường và mối quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau giữa con người và môi trường.
- Nhận thức: GDMT thúc đẩy các cá nhân, cộng đồng tạo dựng nhận
thức và sự nhạy cảm đối với môi trường cũng như các vấn đề môi trường
- Thái độ: GDMT khuyến khích các cá nhân, cộng đồng tôn trọng và
quan tâm tới tầm quan trọng của môi trường, khuyến khích họ tham gia tích
cực vào việc cải thiện và bảo vệ môi trường.
- Kỹ năng: GDMT cung cấp các kỹ năng cho việc xác định, dự đoán,
ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường.
- Sự tham gia: GDMT cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng cơ hội
tham gia tích cực vào giải quyết các vấn đề môi trường cũng như đưa ra các
quyết định môi trường đúng đắn.
2.1.3.3. Nguyên tắc của GDMT.
Hội nghị Tbilisi đã thống nhất 6 nguyên tắc của GDMT:
8
+ Nguyên tắc 1. Coi môi trường là một tổng thể. Xem xét môi trường
trên mọi khía cạnh tự nhiên, nhân tạo, công nghệ và xã hội (kinh tế, kỹ thuật,
lịch sử – văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ) như sau:
- Tự nhiên: Các yếu tố hữu sinh như động, thực vật và các yếu tố vô
sinh như đất, nước, không khí tác động qua lại lẫn nhau trong các hệ thống và
thực hiện các chức năng sinh thái hỗ trợ cho cuộc sống.
- Xã hội: Những người sống cùng nhau, tác động lẫn nhau và hình
thành nên cách sống với nhiều quy tắc và cách ứng xử văn hóa khác nhau.
nhân loại và của mỗi Quốc gia. Nguyên nhân cơ bản gây suy thoái môi trường
là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người. Giáo dục bảo vệ môi
trường là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính
bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và
phát triển bền vững đất nước. Thông qua giáo dục, từng người và cộng đồng
được trang bị kiến thức về môi trường, ý thức bảo vệ môi trường, năng lực
phát hiện và xử lý các vấn đề môi trường. Giáo dục bảo vệ môi trường còn
góp phần hình thành người lao động mới, người chủ tương lai của đất nước.
Các thầy, cô giáo cần nhận thức được tầm quan trong của công tác giáo dục
bảo vệ môi trường cho học sinh, có trách nhiệm triển khai công tác giáo dục
bảo vệ môi trường phù hợp với điều kiện của nhà trường và địa phương.
2.1.3.5. Phương pháp tiếp cận trong giáo dục bảo vệ môi trường:
+ Tích hợp và lồng ghép: GDBVMT là giáo dục tổng thể nhằm trang bị
những kiến thức về môi trường cho học sinh – sinh viên những kiến thức về
môi trường thông qua từng môn học và chương trình riêng phù hợp với từng
đối tượng. Việc giáo dục này chủ yếu dựa theo phương thức lồng ghép và liên
hệ trong các nội dung giảng dạy của các môn học.
+ Tính phù hợp ở từng bậc học: Nội dung GDBVMT là việc cung cấp
những thông tin về môi trường cùng những biện pháp bảo vệ môi trường cần
được cung cấp theo những cách thức phù hợp với trình độ và khả năng nhận
thức của từng nhóm đối tượng; nội dung GDBVMT cần là giáo dục trong môi
trường và vì môi trường; GDBVMT là nhìn thấy rõ trách nhiệm và rèn luyện
10
kỹ năng để bảo vệ môi trường.
+ Tính tổng hợp và đa dạng: Trong đời sống xã hội, những nhân tố tự
nhiên và nhân tố xã hội luôn luôn có những tác động qua lại và ảnh hưởng
trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của mỗi cá nhân và của cộng đồng dân cư; do
đang được chuyển đổi thành các khu công nghiệp.
Từ trước đến nay, lượng CO 2 có trong khí quyển luôn ổn định nhờ sự
quang hợp của cây xanh. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một diện tích lớn
rừng bị phá hủy, nhất là rừng rậm nhiệt đới, do đó hàng năm, có khoảng 6 tỷ tấn
CO2 được thải thêm vào khí quyển trên toàn thế giới, tương đương khoảng 20%
lượng khí CO2 thải ra do sử dụng các nhiên liệu hóa thạch (26 tỷ tấn/năm).
Điều đó có nghĩa là việc giảm bớt sử dụng nhiên liệu hóa thạch và
khuyến khích bảo về rừng và trồng rừng để giảm bớt tác động của biến đổi
khí hậu là rất quan trọng. Theo báo cáo thứ tư của IPCC, có thể giảm phát thải
khoảng 1,3 đến 4,2 tỷ tấn CO 2 hàng năm bằng cách tăng cường trồng rừng và
bảo vệ rừng. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta cũng chưa thể nói dự kiến đó có
thể hiện thực hay không, vì rằng rừng ở nhiều vùng trên thế giới, nhất là ở
Nam Mỹ, châu Phi và Nam Á vẫn đang tiếp tục bị suy thoái nghiêm trọng
2.2.1.2. Suy giảm đa dạng sinh học
Từ khi cuộc sống trên Trái đất phồn thịnh, hành tinh của chúng ta có số
lượng loài hết sức đa dạng. Vào khoảng 250 triệu năm trước đây, trên Trái đất
ước tính chỉ có khoảng 250.000 loài sinh vật, nhưng từ khi các sinh vật
chuyển được từ môi trường biển cả lên môi trường đất liền, thì số loài tăng
lên rất nhanh và hiện nay đã có ít nhất khoảng vài ba triệu loài đang sinh sống
trên Trái đất.
Có bao nhiêu loài đã bị tuyệt chủng trong những năm qua? Theo nghiên
cứu của các nhà khoa học thì ước tính đã có khoảng 40% số loài đã mất đi trong
khoảng từ 1970 đến 2000. Riêng các loài ở nước ngọt đã mất đi khoảng 50%.
Thế thì có bao nhiêu loài hiện đang tồn tại có nguy cơ bị tuyệt chủng?
Con người đã biết được có khoảng 1,6 triệu loài sinh vật hiện đang sống trên
12
Trái đất. Hầu hết các loài động vật có xương sống đã được biết, số loài chưa
thải các chất thải sinh hoạt và công nghiệp ngày càng nhiều, đến mức thiên
nhiên không thể phân hủy kịp, đã và đang gây ô nhiễm đất, nước, không khí.
Trong lúc đó, nhu cầu ngày càng tăng nhanh của con người về nguồn nước
ngọt đã làm thay đổi các dòng nước tự nhiên, thay đổi quy trình lắng đọng và
làm giảm chất lượng nước. Tình trạng thiếu nước trên thế giới ngày càng lan
rộng, nạn khô hạn kéo dài, gây nhiều hậu quả về kinh tế và xã hội cho nhiều
vùng rộng lớn. Tất cả những điều đó đều tác động tiêu cực lên sự phát triển,
làm suy giảm đa dạng sinh học và chức năng của các hệ thống thủy vực trên
thế giới.
2.2.1.4. Mức tiêu thụ năng lượng ngày càng cao và nguồn năng lượng hóa
thạch đang cạn kiệt
Trong lúc vấn đề cạn kiệt nguồn chất đốt hóa thạch đang được mọi
người quan tâm như dầu mỏ và khí đốt, thì Trung Quốc và Ấn Độ với diện
tích rộng và dân số lớn, đang là những nước đang phát triển nhanh tại châu Á.
Đặc biệt là Trung Quốc, có nguồn than đá và khí đốt thiên nhiên dồi dào, đang
tăng sức tiêu thụ nguồn năng lượng này một cách nhanh chóng.
Ở Trung Quốc, sức tiêu thụ loại năng lượng hàng đầu này, từ 961 triệu
tấn (tương đương dầu mỏ) vào năm 1997 lên 1.863 triệu tấn vào năm 2007,
tăng gần gấp đôi trong khoảng 10 năm. Tất nhiên, lượng CO 2 thải ra cũng
tăng lên bằng gần 1/2 lượng thải của Mỹ năm 2000, và đến nay, Trung Quốc
đã trở thành nước thải lượng khí CO 2 lớn nhất trên thế giới, vượt qua cả Mỹ
năm 2007. Nếu Trung Quốc và Ấn Độ, với số dân khổng lồ, vẫn theo con
đường tiêu thụ nhiều năng lượng, thì nguồn tài nguyên chất đốt dự trữ sẽ sớm
cạn kiệt, chúng ta sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về môi trường toàn thế giới,
khó lòng có thể hồi phục do bị ô nhiễm nặng và tình trạng nóng lên toàn cầu
vẫn không thể khống chế được. ( UNEP, 2010)
2.2.1.5. Hạn hán ngày càng gia tăng đang ảnh hưởng đến sản xuất lương
14
những vùng đất thấp ven biển. Điều đó đã xảy ra tại một vài đảo quốc như
Tuvala và Maldives.
2.2.1.7. Dân số thế giới đang tăng nhanh Dân số thế giới đang tăng nhanh
Hiện nay, dân số loài người đã đạt 7,3 tỷ và rồi đây còn có thể tăng lên
đến 8-9 tỷ. Tất nhiên, một lượng lớn tài nguyên thiên nhiên toàn cầu sẽ được
động viên để duy trì sự tồn tại và phát triển của số dân này.
Theo tính toán trước đây, loài người đã sử dụng hết khoảng 1/3 toàn bộ
tài nguyên thiên nhiên toàn cầu. Con số đó có lẽ quá thấp vì còn có nhiều thứ
con người không trực tiếp sử dụng, nhưng do hoạt động của con người mà đã
bị suy thoái (đất bị xói mòn nặng, quá nhiều chất thải). Với kết quả phân tích
chi tiết tại một số nước thuộc châu Âu và từ đó suy ra thì có lẽ loài người đã
tiêu thụ đến khoảng 50% tổng tài nguyên thiên nhiên toàn cầu. Con người
đang tìm mọi cách để chiếm đoạt các sản phẩm được tạo ra do quang hợp
cùng với nhiều hoạt động khác để phát triển xã hội rất phức tạp, và vì thế mà
loài người đã gây nên tác động cực kỳ lớn lên các chu trình sinh địa hóa. Con
người đã làm thay thế những vùng rộng lớn của Trái đất có hệ sinh thái tự
nhiên phức tạp và đa dạng về loài bằng những hệ sinh thái đơn giản, đặc biệt
cho sản xuất nông nghiệp. Bằng cách phá rừng, đốt củi và than, canh tác trên
các loại đất, sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch trong công nghiệp, loài
người đã tăng cường hoạt động chuyển cacbon hữu cơ vào khí quyển.
2.2.2. Các vấn đề môi trường tại Việt Nam
2.2.2.1. Suy giảm đa dạng sinh học ở Việt Nam
- Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam
Á giàu về đa dạng sinh học. Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích
đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên
tính đa dạng sinh học cao ở Việt Nam. Hiện đã thống kê được 310 loài thú,
870 loài chim, 296 loài bò sát, 162 loài ếch nhái, trên 1.000 loài cá nước ngọt,