MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Môi trường có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của con
người cũng như mọi sinh vật trong hành tinh. Tuy nhiên, trong những năm
gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường đang được đặt lên hàng đầu. Sự gia tăng
dân số, khai thác quá mức các nguồn tài nguyên, sự phát triển của khoa học
đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường toàn thế giới. Để BVMT, con
người đã, đang và sẽ phải thực hiện hàng loạt các biện pháp khác nhau. Một
trong những giải pháp hữu hiệu và lâu dài cho vấn đề này là GDMT. Chính
thông qua GDMT sẽ cung cấp cho mỗi cá nhân năng lực biết suy xét, thu thập
và xử lí thông tin dựa trên các khía cạnh sinh thái, xã hội, thẩm mĩ, đạo đức,
kinh tế; để đạt được hệ thống kĩ năng, tức là thấy được vấn đề và biết cách
giải quyết vấn đề đó. Điều quan trọng hơn, GDMT thúc đẩy mạnh mẽ những
thay đổi trong hành vi, giúp họ biết quyết định, biết tham gia BVMT một cách
tự giác và tích cực.
Ở trường Tiểu học, GDMT cho học sinh được thực hiện thông qua hai
con đường cơ bản. Con đường thứ nhất là tích hợp các nội dung GDMT qua
các môn học. Con đường thứ hai là GDMT thông qua tổ chức các hoạt động
giáo dục. Mỗi con đường đều có những ưu thế nhất định trong quá trình giáo
dục học sinh, không mâu thuẫn với nhau mà tạo thành một thể thống nhất
nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường. Nếu qua các tiết học trên
lớp, học sinh chủ yếu được hình thành kiến thức về MT và BVMT thì qua tổ
chức các hoạt động giáo dục không những mở rộng thêm kiến thức mà còn
hình thành ở học sinh thái độ, kĩ năng, hành vi BVMT. Nó huy động sự tham
gia của học sinh, đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức đã học một
cách tổng hợp, linh hoạt giải quyết vấn đề. Có thể coi tổ chức các hoạt động
1
giáo dục là con đường tốt nhất để hình thành ở học sinh ý thức, thái độ, tình
nghiệm đến đó” mà vẫn chưa có mô hình cụ thể để áp dụng.
Chính vì những lí do trên mà chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài:
“Xây dựng mô hình câu lạc bộ môi trường ở trường Tiểu học” nhằm khai thác
một loại hình hoạt động giáo dục môi trường với mong muốn nâng cao hiệu
quả giáo dục thông qua con đường vốn được cho là có nhiều ưu thế.
2. Lịch sử vấn đề
2.1 Trên thế giới
Câu lạc bộ ra đời ở Anh khoảng 300 năm trước đây. Thoạt đầu chức
năng chủ yếu là để giải trí, về sau nó lan sang các lĩnh vực khác như chính trị,
xã hội, khoa học, văn hóa, nghệ thuật, thể thao,… và tồn tại ở hầu khắp các
nước trên thể giới. Nó đã được nhân rộng, phát triển mạnh mẽ ở Liên Xô từ
những năm 60 của thế kỉ 20 và được đề cập đến trong nhiều tác phẩm như:
CLB là trung tâm công tác tuyên truyền cổ động, CLB nhà trường với thiếu
nhi, CLB công nhân của chúng tôi và Bàn về CLB thư viện,… Như vậy, có thể
thấy, trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, các CLB đã được
thành lập và phát triển ở nhiều lĩnh vực như giáo dục, chính trị, kinh tế. Trong
những tác phẩm nêu trên phải kể đến 2 tác phẩm là: Câu lạc bộ là trung tâm
công tác tuyên truyền cổ động, Câu lạc bộ nhà trường với thiếu nhi.
Câu lạc bộ là trung tâm công tác tuyên truyền, cổ động đã đề cập nhiều
đến vai trò của CLB trong công tác tuyên truyền, cổ động. Nó phổ biến tư
tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ chính trị cũng như văn hóa của
nhân dân lao động đồng thời liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân. Có thể
nói “CLB là trường học giáo dục chính trị và văn hóa trong quần chúng”. Như
vậy, vấn đề chủ yếu tác phẩm đề cập là công tác tuyên truyền, cổ động của
CLB trong lĩnh vực chính trị. Xoay quanh vấn đề đó, tác phẩm nghiên cứu
những điều kiện cần thiết để tổ chức sinh hoạt CLB mà chủ yếu là các buổi
3
căn cứ vào những tài liệu chúng tôi thu thập được thì những nghiên cứu về
CLB xuất hiện ở nước ta muộn hơn rất nhiều.
Nghiên cứu về CLB ở bậc học phổ thông có những công trình nghiên
cứu khoa học của các tác giả Đặng Ngọc Diệp, Lưu Thu Thủy.
Cụ thể:
Tác giả Đặng Ngọc Diệp trong báo cáo kết quả bước đầu thực nghiệm
sinh hoạt CLB dành cho cha mẹ học sinh năm 1977 đã nêu những tác dụng
của CLB trong quá trình kết hợp cùng nhà trường giáo dục học sinh. Tác giả
cũng làm rõ nhiệm vụ của ban lãnh đạo CLB đồng thời đúc kết những kinh
nghiệm bước đầu qua quá trình thực hiện: về mặt nhận thức, về nội dung hoạt
động và về tổ chức.
Qua quá trình nghiên cứu đề tài Giáo dục chủ nghĩa tập thể cho học
sinh lớp 1 thông qua hoạt động câu lạc bộ (năm 1984), tác giả Lưu Thu Thuỷ
đã tìm hiểu vai trò của CLB trong việc giáo dục chủ nghĩa tập thể cho học
sinh thông qua thực nghiệm theo bốn chủ đề, với 4 hình thức sinh hoạt CLB.
Đó là: Chủ đề sinh hoạt, chủ đề hội học, chủ đề chơi tập thể, chủ đề kể
chuyện. Qua đó, tác giả đã thu được những kết quả ban đầu về vai trò của
CLB. Tuy nhiên, bài nghiên cứu chưa làm rõ được cơ sở lí luận về CLB, chưa
làm sáng tỏ về nội dung phương pháp và hình thức sinh hoạt CLB sao cho
phù hợp với từng độ tuổi học sinh mà chủ yếu thông qua thực nghiệm, qua tổ
chức hoạt động để giáo dục học sinh.
Nghiên cứu về CLB ở bậc đại học, có đề tài Kĩ năng tổ chức sinh hoạt
câu lạc bộ khoa học của sinh viên khoa Tâm lí giáo dục (năm 1988) của tác
giả Đinh Văn Vang. Tác giả nêu rõ những yêu cầu về kĩ năng tổ chức sinh
hoạt CLB của người cán bộ tổ chức. Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp
chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn đối với cán bộ tổ chức, người phụ trách
CLB. Đồng thời giúp chúng tôi nhận thức đầy đủ, chính xác hơn tầm quan
trọng của từng giai đoạn trong quá trình tổ chức sinh hoạt CLB.
6
Vấn đề CLB đã và được các nhà quản lí, các nhà giáo dục, nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu ở nhiều cấp độ, nhiều khía cạnh khác nhau và đã có
những đóng góp nhất định về lí luận và thực tiễn.
Trên cơ sở những vấn đề chung, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu việc
xây dựng CLB trong từng bậc học. Cấp tiểu học cũng giành được nhiều sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên
cứu đi sâu nghiên cứu vấn đề xây dựng, tổ chức hoạt động CLBMT cho học
sinh nói chung, học sinh tiểu học nói riêng nên đây là một vấn đề cần được
quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng
mô hình câu lạc bộ môi trường ở tiểu học”
3. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng mô hình CLBMT trong trường Tiểu học để nâng cao hiệu
quả GDMT cho học sinh tiểu học.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDMT ở trường Tiểu học.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục môi trường qua hình thức CLB ở trường Tiểu học.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được mô hình CLBMT với nhiều hoạt động phong phú,
đa dạng sẽ nâng cao được hiệu quả GDMT cho học sinh.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của mô hình CLBMT ở Tiểu học.
- Xây dựng mô hình CLB và một số hoạt động của CLB.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của
hoạt động của CLB.
8
8.2.4 Phương pháp thống kê toán học
Các phương pháp thống kê toán học được sử dụng để phân tích và xử lí
các kết quả thu được qua điều tra và thực nghiệm.
9. Những đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu để làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận về GDMT, về hình thức
tổ chức hoạt động giáo dục MT trong nhà trường và khái quát chung về CLB.
- Khái quát được một số vấn đề về thực trạng dạy và học các nội dung
GDMT, đặc biệt qua mô hình CLB.
- Đề xuất quy trình xây dựng mô hình CLB nói chung, giới thiệu một
số hoạt động của CLB: Lao động vệ sinh làm sạch MT, trồng và chăm sóc cây
xanh, tham quan MT tổ chức một số cuộc thi GDMT và trao đổi tọa đàm về
vấn đề MT.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương
Chương 1: “Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng mô hình câu
lạc bộ môi trường ở tiểu học”
Chương 2: “Xây dựng mô hình câu lạc bộ môi trường ở tiểu học”
Chương 3: “Thực nghiệm sư phạm”
9
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH
CÂU LẠC BỘ MÔI TRƯỜNG Ở TIỂU HỌC
phát triển kinh tế xã hội mà không làm tổn hại đến MT sống của con người,
sao cho đạt đến sự hài hòa lâu dài, bền vững giữa phát triển sản xuất và MT.
Các khái niệm về MT rất phong phú, đa dạng, có nhiều cách diễn đạt
khác nhau. Tuy nhiên ta có thể hiểu MT là tất cả những gì xung quanh chúng
ta, tạo điều kiện để chúng ta sống, học tập và phát triển.
b) Bảo vệ môi trường
Cuộc sống của con người trên trái đất chúng ta không ngừng phát triển.
Tuy nhiên trong một thời gian khá dài người ta đã đặt mục tiêu kinh tế quá
cao, xem sự phát triển kinh tế là độ đo duy nhất của sự phát triển. Song cũng
chính từ sự phát triển ấy, con người đã khai thác đến mức cạn kiệt tài nguyên
thiên nhiên, trong quá trình sản xuất và sinh hoạt tạo ra nhiều chất thải ảnh
hưởng trực tiếp đến MT,…Những tác nhân ấy đã làm cho MT sinh thái dần
dần bị cạn kiệt, MT sống bị ô nhiễm, nhiều cảnh quan bị hủy hoại, chất lượng
cuộc sống của con người cũng từ đó bị giảm sút. Đứng trước nguy cơ đó, một
nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho toàn nhân loại là BVMT.
Luật BVMT của Việt Nam năm 2005 đã ghi rõ: “Hoạt động BVMT là
hoạt động giữ cho MT trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động
xấu đối với MT, ứng phó sự cố MT; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi
và cải thiện MT; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên
nhiên; bảo vệ đa đạng sinh học.”
Như vậy, việc BVMT ngày nay diễn ra trong điều kiện khai phá và sử
dụng các nguồn tài nguyên vẫn đang tiến hành một cách bình thường. Dó đó
khái niệm BVMT mang những nội dung chủ yếu sau:
Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ
cân bằng sinh thái.
11
Cải tạo, phục hồi tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt. Đối với những nơi
Trong kế hoạch hành động ASEAN 2000 - 2005, GDMT được xác định
là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính
quy, giúp con người có được sự hiểu biết, có kĩ năng và các giá trị cho phép
họ tham gia vào việc phát triển xã hội bền vững về sinh thái và công bằng về
xã hội, với tư cách là những công dân năng động và có tri thức.
Nói một cách cụ thể GDMT là quá trình tác động thường xuyên để tạo
cho con người những tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm và các quyết tâm cho
phép họ giải quyết những vấn đề MT hiện tại và tương lai, cũng như đáp ứng
những nhu cầu của bản thân và xã hội mà không làm ảnh hưởng đến thế hệ
mai sau.
Như vậy có thể nói GDMT là một bộ phận của quá trình giáo dục nhân
cách và bản thân nó là một quá trình giáo dục tổng thể vì nó không chỉ hình
thành cho người học hệ thống những tri thức về MT, về mối quan hệ giữa tự
nhiên, con người và xã hội mà còn hình thành quan điểm, niềm tin để có thể thay
đổi thái độ, hành vi của mỗi cá nhân trong khi tác động đến MT. Do đó, GDMT
cần được tiến hành bằng nhiều con đường khác nhau với sự tham gia của nhiều
lực lượng giáo dục. Mục đích cuối cùng của GDMT chính là để BVMT.
1.1.1.2 Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục môi trường
a) Khái quát về hình thức tổ chức hoạt động giáo dục
Cùng với hoạt động dạy học trong nhà trường, giáo dục còn được tổ
chức thông qua các hoạt động phong phú, đa dạng. Học đi đôi với hành là một
trong những nguyên lí cơ bản của giáo dục ở Việt Nam. Thực tế cũng cho
thấy, toàn bộ cuộc sống của con người là một hệ thống liên tục các hoạt động
và con người lớn lên cùng với các hoạt động đó. Vì thế, đưa con người vào
hoạt động thực tế là con đường giáo dục có hiệu quả, kể cả GDMT.
Tổ chức hoạt động giáo dục là một trong hai con đường cơ bản để
GDMT cho học sinh tiểu học. Như trên đã nói, cùng với việc tích hợp các nội
13
14
Các hoạt động lao động BVMT có thể tổ chức theo lớp, tổ, hoặc thông
qua các tổ chức như Đội Thiếu niên, Sao Nhi đồng, Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh,… nhận chăm sóc một khu vườn, một khóm cây hay một
đoạn đường,…
Tổ chức các cuộc thi về MT
Các cuộc thi tìm hiểu, sáng tác theo chủ đề về MT không chỉ giúp học
sinh hiểu sâu hơn về các vấn đề MT mà quan trọng là tạo nên những ý tưởng
sáng tạo và học sinh được tự do biểu đạt ý kiến của mình. Đây là một hình
thức giáo dục quan trọng, là một trong những con đường để thực hiện đổi mới
công tác giáo dục theo hướng “Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh” (học
mà chơi - chơi mà học)
Như vậy, GDMT được tổ chức dưới hình thức các cuộc thi là điều kiện
thay đổi trạng thái thần kinh sau những giờ học căng thẳng, đồng thời phù
hợp với nhu cầu hứng thú và đặc điểm nhân cách của người tham gia. Chính
vì thế mà nội dung GDMT cũng được truyền tải nhẹ nhàng, nhưng có tác
dụng sâu sắc đến học sinh.
Có thể nói GDMT qua các cuộc thi đã tạo ra một con đường, điều kiện,
phương tiện để hình thành và phát triển nhân cách mới cho học sinh. Khi
tham gia hoạt động GDMT qua các cuộc thi, chính hoạt động của cá nhân học
sinh đã quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của
chính các em.
Cuộc thi có thể diễn ra trong phạm vi một lớp, một trường hoặc một cụm
trường, một tỉnh hoặc có thể là toàn quốc. Căn cứ vào mục tiêu mà lựa chọn chủ
đề cho cuộc thi. Ví dụ cuộc thi viết, vẽ, sáng tác thơ, văn về vấn đề MT, thi sử
Đây là hai hoạt động luôn dành được sự quan tâm của đông đảo học
sinh nhất là học sinh nhỏ tuổi. Sau những thời gian học tập căng thẳng, được
16
tham gia vào những hoạt động vui chơi, cắm trại các em sẽ được thư giãn đầu
óc, thoải mái tinh thần tạo điều kiện tiếp thu kiến thức được tốt hơn. Chính vì
vậy, các em luôn hứng thú mong đợi những kì nghỉ hè, những buổi vui chơi,
dã ngoại.
Qua cắm trại, học sinh vừa được vui chơi, vừa có cơ hội thể hiện năng
khiếu, phát huy được tính năng động, sáng tạo của bản thân và trí tuệ tập thể,
tinh thần đoàn kết tương trợ giữa các bạn trong lớp, các bạn khác lớp được thể
hiện rất rõ qua hoạt động chung. Bên cạnh đó, qua hoạt động cắm trại, ý thức
bảo vệ môi trường của các em được nâng cao. Bắt đầu từ công tác chuẩn bị,
sử dụng các vật liệu làm trại, không sử dụng hoang phí, dùng các sản phẩm đã
qua sử dụng để trang trí trại, không chặt cành cây xanh ở quanh khu vực cắm
trại về trang trí trại. Sau khi cắm trại, thu dọn sạch sẽ, không để giấy rác
quanh khu vực trại, thu gom, bảo quản những vật liệu còn sử dụng được để sử
dụng cho những lần sau.
Để hoạt động cắm trại đạt hiệu quả, cần phổ biến cho ban phụ huynh kế
hoạch cắm trại, giải thích để họ nắm rõ kế hoạch hoạt động cũng như sự quản
lí chặt chẽ của nhà trường trong mọi hoạt động. Đề nghị phụ huynh có điều
kiện tham gia hoạt động phối kết hợp với các lực lượng khác: Ban tổ chức
liên hệ với địa phương nơi dự định cắm trại thuê mượn địa điểm, họp thường
trực phụ huynh yêu cầu phối hợp tổ chức, yêu cầu cơ quan công an địa
phương giúp đỡ về vấn đề an ninh.
Theo dõi môi trường
MT trên toàn thế giới đang biến đổi hằng ngày hằng giờ. Vì vậy, theo
dõi những biến đổi đó để hạn chế những tác động tiêu cực ảnh hưởng xấu đến
điểm của những mẫu vật đó và xin phép người trên để lấy mẫu vật mang đến
lớp. Quá trình đó mang đến cho các em nhiều bài học bổ ích. Các em biết trân
trọng những mẫu vật mà mình sưu tầm được, có ý thức giữ gìn bảo vệ nó. Ví
dụ để dạy bài Lá cây (Tự nhiên và xã hội lớp 3), giáo viên yêu cầu học sinh
18
giờ học sau mang đến những lá cây khác nhau để cùng quan sát. Cây xanh
trong sân trường rất nhiều, có nhiều loại lá có hình dạng, kích thước khác
nhau, thuận lợi để sử dụng trong tiết học. Nếu các em quên chuẩn bị có thể dễ
dàng hái được. Tuy nhiên, các em không được hái lá ở vườn trường, trong quá
trình sưu tầm lá cây, chú ý chỉ lấy lá không được bẻ cả cành, giữ lá còn tươi.
Sau khi học xong bài, không được vứt bừa bãi ra ngoài lớp học mà bỏ gọn
vào sọt rác hết buổi học sẽ đổ đúng nơi quy định.
Câu lạc bộ môi trường
Đây là một hình thức giáo dục đã và đang được áp dụng trong nhà
trường phổ thông nói chung và trường Tiểu học nói riêng. Cùng với các câu
lạc bộ khác, CLBMT góp phần không nhỏ trong việc hình thành cho học sinh
kĩ năng, hành vi và tình cảm, thái độ đúng đắn với các vấn đề môi trường.
Thông qua hoạt động định kì hay theo chủ đề của câu lạc bộ, các thành viên
có cơ hội được mở rộng kiến thức, phát triển kĩ năng, hình thành hành vi và
thái độ đúng đắn với các vấn đề môi trường. Vấn đề vai trò, xây dựng mô
hình CLBMT chúng tôi sẽ đề cập chi tiết hơn ở phần sau luận văn.
1.1.2 Câu lạc bộ
1.1.2.1 Khái niệm
Theo Hoàng Phê, “câu lạc bộ là tổ chức lập ra cho nhiều người tham
gia sinh hoạt văn hóa, giải trí trong những lĩnh vực nhất định.”
Câu lạc bộ cũng có thể hiểu là “Nhà dùng làm nơi tổ chức các hoạt
động văn hóa, giải trí như thế”
động và hướng tới những nội dung nhất định. Trong buổi sinh hoạt đó, các em
được trau dồi những kiến thức có thể các em chưa biết hoặc biết chưa rõ ràng
thông qua người báo cáo, thông qua trao đổi thảo luận giữa các thành viên của
CLB. Ví dụ những bài toán khó, những cách giải hay được đem ra chia sẻ
giữa các thành viên sẽ giúp các em khám phá ra những chân trời mới.
20
Không những bổ sung, mở rộng thêm những kiến thức mới về một lĩnh
vực nào đó, các CLB còn góp phần phát huy tính độc lập, sáng tạo của học
sinh, hình thành óc sáng tạo, óc thực tế, khả năng vận dụng sáng tạo tri thức
vào cuộc sống. Các CLB tổ chức nhiều hoạt động cho các thành viên thông qua
sinh hoạt định kì và sinh hoạt theo chủ đề. Nhiều hoạt động có thể được tổ
chức như: thi tìm hiểu về một vấn để, thi giải toán, thi sáng tác văn thơ,… các
hoạt động đó có thể được tổ chức theo nhóm hoặc cá nhân nhưng khi tham gia
vào các hoạt động đó, các thành viên phải vận dụng hết năng lực, kiến thức mà
mình có để giải quyết vấn đề đặt ra. Ví dụ hoạt động biểu diễn thời trang với
nhiều chủ đề khác nhau, học sinh có thể trình bày rất nhiều ý tưởng sáng tạo,
độc đáo qua các mẫu trang phục, qua chất liệu làm trang phục cũng như cách
biểu diễn gây ấn tượng do không bị khống chế về số lượng cũng như chất liệu
nên học sinh hoàn toàn chủ động sáng tạo trong công việc mình.
CLB là mái nhà chung của các thành viên. Các thành viên trong mái
nhà chung đó phải có ý thức, trách nhiệm gắn bó với tập thể, xây dựng CLB
ngày càng vững mạnh, hoạt động có hiệu quả. Khi đăng kí tham gia vào CLB,
học sinh phải đồng ý với điều lệ CLB, hiểu rõ được quyền lợi và nghĩa vụ của
bản thân. Vì vậy, tất cả mọi hoạt động của các thành viên đều thống nhất. Các
hoạt động trong nhóm của CLB góp phần không nhỏ trong việc hình thành ý
thức, trách nhiệm gắn bó với tập thể của các thành viên. Đứng trước mỗi
nhiệm vụ, các thành viên thống nhất phương án giải quyết, phân chia công
Qua sinh hoạt CLB học sinh hình thành được một số năng lực: năng lực
tổ chức quản lí, năng lực tự hoàn thiện, năng lực giao tiếp, năng lực hoạt động
chính trị - xã hội, khả năng diễn đạt trước đám đông, khả năng phản xạ nhanh,
hình thành quan niệm sống đúng đắn, biết đấu tranh với những biểu hiện sai
trái của bản thân và của người khác.
22
Tóm lại tổ chức CLB trong trường tiểu học chính là việc rèn kĩ năng
sống vì trong một môi trường mới có nhiều cơ hội phát triển bản thân, các em
sẽ tận dụng và phát huy những khả năng của mình, tạo điều kiện thực hành
những điều đã học nhằm ngày càng tự hoàn thiện mình hơn trong cuộc sống
cũng như phát triển tối đa khả năng còn tiềm ẩn trong mỗi cá nhân. Thông
qua cuộc sống và sự trải nghiệm của chính bản thân, CLB sẽ cung cấp cho các
em một MT rộng lớn để rèn luyện bản thân, bồi dưỡng năng lực tổng hợp,
năng lực thực tiễn, khả năng sáng tạo và phẩm chất cá tính, thể hiện mình và
phục vụ cho xã hội - cơ sở cho việc phấn đấu trở thành nhân tài có tố chất cao
dám đi vào thực tế và dám sáng tạo nhằm trước hết hoàn thiện con người như
một chủ thể chứ không phải một phương tiện.
1.1.2.3 Các loại hình câu lạc bộ
Trong thực tế tồn tại rất nhiều loại hình CLB: CLB thẩm mỹ, CLB
chứng khoán, CLB bóng đá,…. Tuy nhiên, trong giới hạn của luận văn, chúng
tôi chỉ xin đề cập đến một số loại hình CLB thường được tổ chức trong các
nhà trường phổ thông.
a. Câu lạc bộ Văn – Tiếng Việt
Là một loại hình CLB dựa trên sự tham gia tự nguyện của các em học
sinh nhằm vào việc khuyên khích các em học tập, tìm hiểu, mở rộng kiến thức
Tiếng Việt và thực hiện các hoạt động nhằm một mặt làm giàu các kiến thức
Tiếng Việt mặt khác biết vận dụng những kiến thức đó vào trong cuộc sống
Tiếng Anh là ngôn ngữ ngày càng được sử dụng ở hầu khắp các nước
trên thế giới. Nó trở thành ngôn ngữ quốc tế, tham gia vào hoạt động của tất
cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… Vì vậy, việc dạy tiếng
Anh trong các nhà trường phổ thông là việc làm cần thiết. Ngày nay, tiếng
Anh được đưa vào dạy ở hầu hết các trường Tiểu học và một số thành phố lớn
tiếng Anh được dạy ngay từ bậc Mầm non. Hầu hết các học sinh và phụ
huynh đều nhận thấy được vai trò của ngôn ngữ này. Vì thế việc học tiếng
24
Anh ngày càng trở nên quan trọng. Để việc học tiếng Anh đạt hiệu quả cao,
có nhiều con đường, cách thức khác nhau trong đó tham gia vào các CLB là
lựa chọn của nhiều học sinh.
Đây là loại hình CLB cũng dựa trên sự tham gia tự nguyện của học sinh
nhằm khuyến khích các em học tập, tìm hiểu, mở rộng kiến thức tiếng Anh và
thực hiện các hoạt động nhằm một mặt làm giàu các kiến thức trong lĩnh vực
đó, mặt khác biết vận dụng những kiến thức đó vào trong cuộc sống để hoàn
thiện các kĩ năng giao tiếp hướng tới mục tiêu sử dụng thành thạo tiếng Anh
như ngôn ngữ thứ hai.
Khi tham gia vào các CLB học sinh được trau dồi thêm kiến thức, rèn
các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết; trao đổi những kinh nghiệm học tiếng Anh có
hiệu quả. Những hoạt động này sẽ góp phần đắc lực vào bổ trợ kiến thức cho
các giờ học Tiếng Anh chính khóa.
Các CLB tiếng Anh có thể tổ chức cho học sinh trong phạm vi mỗi
trường, trong khu phố hay trong phường, xã. CLB có thể tổ chức các hoạt
động cho các em là: tổ chức các buổi tọa đàm, các cuộc thi nói, viết, kể
chuyện, hát, đóng kịch sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ chủ đạo, tổ chức các
buổi tham quan, giao lưu nói chuyện với người nước ngoài,…
d. Câu lạc bộ Mỹ thuật