Tác phẩm vừa online của Darwin: "Nguồn gốc muôn loài"
bản mới?
Mới đây, toàn bộ tác phẩm của Charles Darwin đã được đưa lên mạng Internet. Chúng ta có
thể tìm thấy rất nhiều điều bất ngờ trong bản thảo On the origin of species (Nguồn gốc
muôn loài, xuất bản năm 1859). Những bí mật dữ dội của tự nhiên, sự tương tác máu thịt
giữa con người và loài vật, sự bất tử của phả hệ.... Nhằm giúp bạn đọc tiếp cận với bản
in đầu tiên của tác phẩm Nguồn gốc muôn loài (1859), Vietimes trân trọng giới thiệu một
bản dịch mới về tác phẩm này.
Khi chúng ta để ý đến những cá thể cùng loài hoặc loài bậc thấp hơn những cây trồng và vật nuôi
từ xa xưa, một trong những điểm đầu tiên đập vào mắt chúng ta là thường thì chúng khác nhau
hơn rất nhiều so với bất cứ chủng loại nào hay loài nào trong môi trường tự nhiên
Khi chúng ta suy ngẫm về tính đa dạng rộng lớn của những loài cây và những vật nuôi đã thay đổi
qua nhiều kỉ qua dưới tác động của nhiều hoàn cảnh khí hậu khác biệt nhất, tôi nghĩ là chúng ta đã
đi đến kết luận rằng tính biến thiên lớn này đơn giản chỉ vì những sản phẩm thuần hoá của chúng
ta đã tăng lên dưới các điều kiện của đời sống không đồng nhất về hình thức, và phần nào khác
với những cái mà chủng loại gốc đã thải loại dưới điều kiện tự nhiên.
Mặt khác, khi ta thấy những động vật và cây trồng được thuần hoá, dù thường cằn cỗi và yếu ớt,
song sinh sản hoàn toàn thoải mái dưới sự giam cầm; và mặt khác, khi ta thấy những cá thể, con
non lấy từ tự nhiên, được thuần hoá một cách hoàn hảo, sống lâu và khoẻ mạnh (tôi có thể đưa ra
nhiều ví dụ minh hoạ), hệ thống sinh sản của chúng còn bị tác động nghiêm trọng như nhau bởi
những nguyên nhân không nhận thấy dẫn đến thất bại, chúng ta không cần ngạc nhiên về cơ thể
này, vì chúng hoạt động dưới sự giam cầm và, hoạt động không hoàn toàn đều đặn, và đem lại kết
quả không hoàn chỉnh như bố mẹ chúng hoặc hay thay đổi về lượng.
Sự mất khả năng sinh sản được cho là tai ương trong việc làm vườn. Nhưng trên phương diện
này ta công nhận sự thay đổi là nguồn gốc của những nguyên nhân giống nhau gây ra sự mất khả
năng sinh sản; và sự hay biến đổi là điểm bắt đầu cho sự chọn lọc những sản phẩm tốt nhất trong
vườn.
Tôi có thể thêm vào, rằng vì các sinh vật sẽ sinh sản rất thoải mái dưới những điều kiện không tự
nhiên nhất (ví dụ, thỏ và chồn sương ở trong chuồng), cho thấy rằng vì thế cơ quan sinh sản
không bị ảnh hưởng, do đó các cây trồng và vật nuôi sẽ chống lại sự thuần hoá và nuôi dưỡng, và
Thói quen cũng có một ảnh hưởng nhất định, như trong giai đoạn ra hoa, cây được chuyển từ
vùng khí hậu này tới vùng khí hậu khác. Ở động vật, có một ảnh hưởng rõ rệt hơn; ví dụ, tôi thấy
trong những con vịt nuôi xương cánh nhẹ hơn và xương phần lưng nặng hơn rất nhiều, tương
xứng với toàn bộ xương sườn, so với những bộ phận xương tương tự của vịt trời; và tôi phỏng
đoán rằng sự thay đổi này chắc chắn có thể được quy cho những con vịt nuôi ít bay hơn nhiều, và
bước nhiều hơn con vịt hoang dã.
Sự phát triển lớn và được di truyền của bộ phận vú ở bò cái và dê ở những vùng chúng thường
xuyên bị vắt lấy sữa, so với những cơ thể đó ở các vùng khác, là ví dụ khác về hiệu quả sử dụng.
Không phải một vật nuôi riêng lẻ có thể được định rõ tên mà ở nhiều vùng nó không có đôi tai cụp.
Và quan điểm được một vài tác giả đưa ra, rằng sự cụp xuống là vì sự không dùng đến cơ tai, từ
những động vật không bị hoảng sợ lắm bởi mối đe doạ, có vẻ là có thể chấp nhận được.
Có nhiều quy luật quy định sự biến thể, một vài trong số đó có thể được nhìn thấy một cách mập
mờ, và từ nay trở đi sẽ được đề cập đến một cách ngắn gọn. Ở đây tôi sẽ chỉ nói đến những điều
mà có thể được gọi là thể tương quan của sự phát triển.
Bất cứ sự thay đổi nào trong phôi thai hoặc ấu trùng gần như tất nhiên sẽ gây ra những thay đổi ở
động vật trưởng thành. Ở những vật quái dị thể tương quan giữa những bộ phận hoàn toàn riêng
biệt rất lạ lùng; và nhiều ví dụ đã được đưa ra trong tác phẩm xuất sắc của Isidore Geoffrog St.
Hilaire về vấn đề này.
Những người gây giống cho rằng phiến lá dài gần như luôn được phụ thêm vào bởi phần đầu có
hình thon dài. Vài ví dụ về thể tương quan đúng là hơi kì quái. Do đó những con mèo với đôi mắt
xanh lúc nào cũng điếc, màu sắc và nét đặc biệt về thể chất gắn với nhau, những cái mà nhiều ví
dụ đặc biệt có thể được mang lại trong động vật và thực vật. Từ những cơ sở lập luận được
Heusinger rút ra, hình như cừu trắng và lợn bị tấn công theo cách khác nhau từ những cá thể da
màu bởi những chất độc thực vật nào đó. Những con chó không có lông có hàm răng không hoàn
chỉnh; những động vật có lông dài và thô có khuynh hướng, như đã được khẳng định, có râu nhiều
và dài; chim bồ câu với đôi chân có lông có lớp da giữa hai ngón chân bên ngoài; chim bồ câu mỏ
ngắn có chân nhỏ và mỏ dài thì chân ngắn.
Do đó, nếu con người tiếp tục chọn lọc thì làm tăng thêm, bất cứ nét đặc biệt nào, anh ta sẽ gần
như chắc chắn vô tình sửa đổi những bộ phận khác trong cấu trúc, vì những quy luật khó giải thích
về sự tương quan của sự phát triển.
hiện ở các cá thể đực giống thuần hoá thường được truyền riêng hoặc mức độ lớn hơn cho riêng
các cá thể đực.
Một nguyên tắc quan trọng hơn nhiều, mà theo tôi là có thể tin tưởng được là ở bất cứ giai đoạn
nào trong vòng đời lúc đầu sự lập dị xuất hiện, nó có chiều hướng xuất hiện ở cá thể con trong giai
đoạn thích hợp, dù có lúc sớm hơn. Ở nhiều trường hợp điều này có thể khác; do đó những lập dị
được di truyền ở sừng gia súc có thể chỉ xuất hiện ở con con gần trưởng thành; những lập dị ở
tằm được biết là xuất hiện ở sâu bướm tương ứng hoặc giai đoạn làm kén. Nhưng những bệnh di
truyền và vài sự kiện khác làm tôi tin rằng quy luật có sự mở rộng hơn, và nếu không có lý do rõ
ràng tại sao một lập dị lại xuất hiện ở giai đoạn cụ thể, nó còn xuất hiện ở con con cùng một giai
đoạn mà trước đó đã xuất hiện ở các cá thể cha mẹ. Tôi tin rằng quy luật này có ý nghĩa nhất
trong việc giải thích những định luật phôi học. Những nhận xét này tất nhiên bị hạn chế với sự xuất
hiện đầu tiên của biến dị, mà không phải với những nguyên nhân nguyên sinh, điều có thể diễn ra
ở các tế bào trứng hoặc yếu tố đực, theo dạng gần giống như trong cá thể con lai được sinh ra từ
cá thể bò cái sừng ngắn với một cá thể bò đực sừng dài, sừng dài hơn, dù xuất hiện muộn màng
trong vòng đời, rõ ràng là do yếu tố đực.
Sau khi đã nói đến vấn đề lại giống, giờ tôi có thể xem xét các báo cáo mà các nhà tự nhiên hay
đưa ra.- cụ thể là, các giống loại thuần hoá, khi sống trong môi trường hoang dã, dần dần nhưng
nhất định các đặc tính trở lại gốc nguyên sơ. Vì vậy, người ta đã tranh cãi rằng không một điều
suy luận nào được đưa ra từ những giống thuần hóa tới những chủng loại hoang dã. Tôi đã cố
gắng vô ích để tìm ra những cơ sở lập luận quyết định mà báo cáo trên được tạo nên một cách
liều lĩnh và rất thường xuyên. Sẽ có khó khăn trong việc chứng minh tính đúng đắn của nó. Ta có
thể kết luận chắc chắn rằng rất nhiều giống loài thuần hoá rõ ràng nhất không thể sống trong môi
trường hoang dã.
Ở nhiều trường hợp ta không rõ gốc ban sơ là gì, và vì vậy không thể nói sự trở lại hình thái
nguyên thuỷ (lại giống) gần như hoàn toàn có xảy ra hay không. Điều đó rất cần thiết, để ngăn cản
tác động của giao phối lai chéo, mà chỉ một giống đơn lẻ bị yếu đi trong môi trường sinh sống mới
của nó. Tuy nhiên, vì các giống loại thuần hoá của ta chắc chắn thỉnh thoảng một vài đặc tính của
chúng trở lại hình dáng của tổ tiên chúng, đối với tôi nó hình như không chắc có thực, rằng nếu ta
thành công trong việc làm hợp thuỷ tổ(nhập tịch), hoặc trồng trọt, trong nhiều thế hệ, nhiều loài, ví
những chuyên gia khác là đời con của các loài vốn riêng biệt. Nếu bất kì sự tương phản đáng kể
nào tồn tại giữa các giống thuần hoá và các chủng loại, nguồn ngờ vực này không thể tái diễn quá
thường xuyên.
Khí hậu hay Thượng đế đã thuần hóa muôn loài?
Người ta thường cho rằng con người chọn con vật và cây cối để thuần hoá có chiều hướng
biến đổi vốn khác thường, và tương tự có khuynh hướng chống lại được các kiểu khí hậu
hay thay đổi. Tôi không tranh cãi rằng những khả năng này đã làm tăng thêm một múc độ
lớn giá trị những sản phẩm mà ta đã thuần hoá; nhưng làm thế nào người nguyên thuỷ có
thể biết được; nếu là lần đầu tiên họ thuần hoá chúng, nó sẽ thay đổi trong những thế hệ
tiếp theo không, và nó sẽ chịu được kiểu khí hậu khác không?
Người ta thường cho rằng các dòng thuần hoá không khác nhau về những đặc tính phân loại
giống loài. Tôi nghĩ có thể cho rằng báo cáo này khó mà chính xác, nhưng các nhà tự nhiên rất bất
đồng trong việc định rõ những đặc điểm gì là đặc điểm chung của giống loài, tất cả mọi đánh giá
đó là theo thí nghiệm. Và theo ý kiến về dòng dõi các giống mà tôi sẽ đưa ra sau đây, chúng ta
không có quyền mong đợi luôn gặp phải những điểm khác nhau của giống loài trong những sản
phẩm đã được thuần hoá của chúng ta. Khi ta cố gắng ước lượng độ khác nhau về cấu trúc giữa
giống loài thuần hoá với các chủng loại tương tự, chúng ta sớm hồ nghi việc không biết chúng có
tổ tiên là một hay vài chủng loại cha mẹ.
Ý kiến này, nếu có thể được làm sáng tỏ, sẽ rất thú vị; ví dụ nếu nó chỉ ra được rằng chó săn màu
xám, chó săn, chó sục, chó xpanhơn, và chó sói đực, mà chúng ta đều biết bản tính chúng rất
trung thành, là đời con của những chủng loại đơn lẻ bình thường, thì những cơ sở lập luận như
thế sẽ có tác dụng lớn trong việc làm chúng ta nghi ngờ về tính không biến đổi của những chủng
loại có quan hệ gần hoặc có quan hệ máu mủ (cận huyết)- ví dụ về nhiều con cáo sống ở các miền
khác nhau trên thế giới. Như hiện thời chúng ta thấy, tôi không cho rằng tất cả những loài chó của
ta có nguồn gốc từ một chủng loại hoang dã, nhưng trong trường hợp của vài giống thuần hoá
khác có chứng cứ có cơ sở, thậm chí là chắc chắn củng cố cho ý kiến này.
Sự thay đổi nhỏ của lừa, gà Nhật hay khả năng chống lại sức nóng của hươu nai, chống lại cái
lạnh của loài lạc đà thông thường có cản trở việc thuần hoá của họ hay không? Tôi không thể