Tổ chức không gian kiến trúc quảng trường tại các đô thị lớn ở việt nam - Pdf 43

bộ giáo dục đào tạo

bộ xây dựng

Trường đại học kiến trúc hà nội
-----------------------------------

Tạ Nam Chiến

tổ chức không gian
kiến trúc quảng trường
tại các đô thị lớn ở việt nam

Luận án tiến sĩ kiến trúc

Hà Nội-2012


bộ giáo dục đào tạo

bộ xây dựng

Trường đại học kiến trúc hà nội
---------

Tạ Nam Chiến

tổ chức không gian
kiến trúc quảng trường
tại các đô thị lớn ở việt nam


Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất cứ công trình khoa học nào.
Hà nội, năm 2011

NCS. Tạ Nam Chiến


1

Mục lục
a. mở đầu.

9

b. nội dung

13

chương 1: tổng quan về quảng trường trong không
gian và trong đời sống cộng đồng đô thị ...... 13
1.1.

Vai trò và ý nghĩa của quảng trường trong đô thị, sự cần thiết
nghiên cứu.
13

1.1.1. Vai trò và ý nghĩa của quảng trường trong đô thị.


21

1.4.3. Thời Phục Hưng ở châu Âu (thế kỷ XV đến thế kỷ XVI).

22

1.4.4. Thời Barốc ở châu Âu (Baroque - thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII).

23

1.4.5. Thời Cận đại ở các nước trên thế giới (TK XIX đến nửa đầu TK
XX).
25
1.4.6. Thời hiện đại ở các nước trên thế giới (từ giữa thế kỷ XX đến
nay).
26
1.4.6.1. Quảng trường ở các đô thị cũ trong quá trình hiện đại hóa.

26

1.4.6.2. Quảng trường xây dựng mới ở các đô thị cũ và mới.

27

1.5.

Sự hình thành và phát triển quảng trường trong các đô thị Việt
Nam.
27


1.6.1.1. Nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến quảng trường.

38

1.6.1.2. Nghiên cứu chuyên sâu về quảng trường.

45

1.6.2. Tổng hợp những nghiên cứu trước đây và xác định những nội
dung cần tiếp tục nghiên cứu.
49
1.6.2.1. Tổng hợp các nghiên cứu trước đây.

49

1.6.2.2. Các nội dung cần tiếp tục nghiên cứu.

50

chương 2: đối tượng, phương pháp nghiên cứu và cơ sở
khoa học cho việc tổ chức không gian kiến
trúc quảng trường tại các đô thị lớn ở việt
nam ...................................................................................... 53
2.1.

Xác định đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu.

53


Cơ sở lý luận cho việc tổ chức không gian kiến trúc quảng
trường.
56

2.2.1. Các quy định đối với quảng trường ở các đô thị Việt Nam hiện
nay.
56
2.2.2. Vị trí quảng trường trong cấu trúc không gian đô thị

58

2.2.3. Tổ chức không gian kiến trúc quảng trường.

60

2.2.3.1. Lối vào quảng trường.

60

2.2.3.2. Mặt bằng của quảng trường.

61

2.2.3.3. Các yếu tố giới hạn không gian quảng trường.

63

2.2.3.4. Yếu tố chủ đạo và các yếu tố phụ trợ, nghệ thuật khác.

64

71

2.2.6.1. Các phân loại quảng trường trước đây.

71

2.2.6.2. Tổng hợp phân loại quảng trường.

72

2.3.

Cơ sở thực tiễn từ việc tổ chức không gian kiến trúc và cải tạo
quảng trường ở các nước trên thế giới.

78

2.3.1. Tổ chức không gian kiến trúc quảng trường.

78

2.3.2. Cải tạo không gian kiến trúc quảng trường.

86

2.4.

Cơ sở thực tiễn về tổ chức không gian kiến trúc quảng trường ở
các đô thị Việt Nam.
96

không gian kiến trúc quảng trường hiện hữu.
111

2.5.1. Đánh giá chất lượng tổ chức không gian kiến trúc quảng trường.

111

2.5.1.1. Về vị trí quy hoạch và quan hệ với đô thị.

111

2.5.1.2. Về công năng và các hoạt động sử dụng quảng trường.

112

2.5.1.3. Về các yếu tố cấu thành và phụ trợ.

112

2.5.1.4. Về tiếp cận và tổ chức giao thông quảng trường.

113

2.5.1.5. Về vi khí hậu, tiện nghi sử dụng, hạ tầng kỹ thuật và vệ sinh.

114

2.5.2. Đặc điểm tổ chức không gian kiến trúc các quảng trường hiện
hữu.
114


3.1.2.1. Về công năng sử dụng .

123

3.1.2.2. Về tổ chức không gian kiến trúc quảng trường.

124

3.1.2.3. Về tổ chức giao thông quảng trường và cách thức tiếp cận.

127

3.1.2.4. Về cải thiện vi khí hậu và tiện nghi sử dụng.

127

3.2.

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn chỉnh hệ thống quảng
trường tại các khu vực đô thị cũ.

127

3.2.1. Quan điểm và giải pháp cải tạo, kiện toàn không gian kiến trúc
các quảng trường hiện hữu.
128
3.2.1.1. Quan điểm cải tạo, kiện toàn không gian kiến trúc các quảng
trường hiện hữu.
128


3.4.3. Cải tạo nút giao thông ngã 5 Trần Hưng Đạo - Lê Thánh Tông.

143

3.5.

145

Bàn luận về nội dung và kết quả nghiên cứu.


5

3.5.1. Bàn luận về định nghĩa và phân loại quảng trường của luận án.

145

3.5.2. Bàn luận về nội dung nghiên cứu của luận án.

146

3.5.2.1. Bàn luận về phương pháp và lô-gíc nghiên cứu.

146

3.5.2.2. Bàn luận về đối tượng khảo sát.

148


Danh mục các tài liệu tham khảo............................................... 164
D - Phụ lục của luận án
Phụ lục 1 : Tóm tắt các nội dung khảo sát quảng trường.
Phụ lục 2 : Bản vẽ hiện trạng các quảng trường.

171


6

Danh mục các bảng
Bảng 2. 1: Chỉ tiêu đất khu dân dụng. ........................................................ 56
Bảng 2. 2: Diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng ngòai đơn vị ở ......... 57
Bảng 2. 3: Thống kê các hoạt động phù hợp với không gian công cộng ..... 67
Bảng 2. 4: Thống kê các quảng trường đã nghiên cứu. ............................... 78
Bảng 2. 5: Thống kê các quảng trường cải tạo đã nghiên cứu. .................... 86
Bảng 2. 6: Thống kê đối tượng khảo sát. .................................................... 97
Bảng 2. 7: Thống kê các số liệu đã khảo sát............................................... 99
Bảng 2. 8: Quan hệ về quy mô quảng trường với đô thị. .......................... 100
Bảng 2. 9: Sơ đồ hình thái không gian kiến trúc và tổ chức lối vào. ......... 101
Bảng 2. 10: Xếp phân loại quảng trường theo vị trí, công năng sử dụng
và hình thái không gian........................................................... 106
Bảng 2. 11: Số lượng người được phỏng vấn. ............................................. 109
Bảng 2. 12: Tổng hợp nội dung phỏng vấn................................................. 110
Bảng 2. 13: Tổng hợp kết quả khảo sát, điều tra, phỏng vấn về quảng
trường ..................................................................................... 111
Bảng 2. 14: Các nội dung và phương hướng giải quyết nhằm nâng cao
chất lượng tổ chức không gian kiến trúc quảng trường. ........... 116
Bảng 3. 1: Tiêu chuẩn diện tích đất xây dựng quảng trường. .................... 121
Bảng 3. 2: Đề xuất các tiêu chuẩn, chỉ tiêu kỹ thuật của quảng trường..... 122

Hình 1.7.
Hình 1.8.
Hình 1.9.
Hình 1.10.
Hình 1.11.
Hình 1.12.
Hình 1.13.
Hình 1.14.
Hình 1.15.
Hình 1.16.
Hình 1.17.

Danh mục các hình minh họa
Một số dạng Agora ở Hy-Lạp.
Hệ thống Forum ở La-Mã.
Quảng trường Campo -TP. Siena-Italy.
Quảng trường St. Peter ở Vatican.
Quảng trường St. Mark (San Marco) ở Venice-Italy.
Quảng trường Del Popolo ở Roma-Italy.
Quảng trường Concord ở Paris-Pháp.
QT Thiên An Môn ở Bắc Kinh-Trung Quốc.
Sơ đồ Thăng Long TK XV.
Bản đồ Thăng Long thế kỷ XIX.
Bản đồ TP Sài Gòn thế kỷ XIX .
QT Tròn theo quy hoạch của người Pháp , nay là QT. Ba
Đình- Hà Nội.
Quảng trường trước Nhà hát Lớn, nay là QT Cách mạng
tháng tám-Hà Nội.
Quảng trường trước tòa Đốc Lý năm 1819, nay là nhà UBND
TP.HCM.

24
25
25
29
29
32
33
33
33
33
36
36
61
62
63
64
64
65
75
75
76
77
78
81
83
83
84
84
85


trường.
Bổ sung công năng phù hợp cho các quảng trường.
Cải thiện vi khí hậu và cung cấp tiện nghi cho quảng trường.
Tổ chức các hoạt động văn hóa - xã hội.
Mặt đứng quảng trường Chợ Cần Thơ.
Mặt đứng quảng trường trung tâm TP. Rạch Giá.
(a,b,c,d,e,f): Minh họa hình thái không gian mở của quảng
trường thời hiện đại.
Sơ đồ minh họa hệ thống quảng trường.
Quan điểm định hướng cho việc cải tạo, kiện toàn tổ chức
không gian kiến trúc các quảng trường hiện hữu.
Minh họa mô hình quảng trường phù hợp.
Mặt bằng hiện trạng quảng trường Lý Thái Tổ và Ngân hàng
Nhà nước- TP. Hà Nội.
Minh họa phương án cải tạo quảng trường Lý Thái Tổ và
Ngân hàng Nhà nước.
Mặt bằng hiện trạng quảng trường Cách mạng tháng Tám TP. Hà N ội.
Minh họa phương án cải tạo quảng trường Cách mạng tháng
Tám - TP. Hà Nội.
Mặt bằng hiện trạng (a) và minh họa phương án cải tạo
(b,c,d) nút giao thông ngã 5 Trần Hưng Đạo - Lê Thánh
Tông, TP. Hà Nội trở thành quảng trường.
Lô-gíc nghiên cứu của luận án.
Vị trí các thành phố đã được khảo sát ứng với các vùng khí
hậu, địa hình, điều kiện tự nhiên sinh thái.

các chữ viết tắt sử dụng trong luận án
CNXH
CTCC
HCM

90
92
92
93
94
95
96
113
113
116
120
129
140
141
141
142
143
144
147
148


9

a. mở đầu.
Sau hai cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc và thống nhất đất nước, sau
thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế theo mô hình kế
hoạch hóa và tập trung bao cấp, từ năm 1986, Việt Nam bước vào Đổi mới,
tiến hành công cuộc hiện đại hóa và công nghiệp hóa, phát triển nền kinh tế
thị trường và hội nhập quốc tế. Nhờ đó, nền kinh tế và xã hội đã có những

trì chủ yếu cho các hoạt động tự phát và không được kiện toàn về phương
diện kiến trúc đô thị, ở thời muộn hơn, biến thành những nút giao thông.
Qua nhiều thập kỷ mở mang và xây dựng đô thị ở nửa sau thế kỷ XX,
đã hình thành nhiều cấu trúc đô thị và đô thị mới, song quảng trường vẫn chỉ
là hãn hữu. Ngay trong số không nhiều quảng trường ấy, hầu hết chưa được
kiện toàn về phương diện đô thị, hoặc chỉ phát huy vai trò của mình với tư
cách là những nơi để tổ chức các sự kiện chính trị, huy động quần chúng.
Ngày nay, khi dân cư đô thị đã sở hữu khá đầy đủ những điều kiện để
đáp ứng những nhu cầu sát sườn và nhất thiết về ăn, ở, đi lại, thì ngày càng có
nhu cầu về sinh hoạt cộng đồng, không chỉ giới hạn ở các công trình ăn uống,
giải trí, thể thao. Người đô thị ngày càng cần những không gian rộng lớn,
những khoảng xanh rộng lớn ngay trong thành phố, để cởi trói và giải tỏa cho
mình, để tự do cùng làm những gì mà chỉ có thể trong đám đông, trên những
không gian ít bị hạn chế, mà không e ngại giao thông, tiếng còi tuýt của công
an, sự phản ứng của xóm giềng. Quảng trường, thiết chế kiến trúc đô thị
mang bản chất cộng đồng, bản chất dùng chung, chính là những khoảng
trống mà không hẳn đã trống ấy.
Trong khi đó các quảng trường cũ ở các thành phố lớn rất ít ỏi, lại lạc
hậu, chưa kiện toàn về kiến trúc đô thị, bị giao thông chiếm lĩnh hòan tòan.
Các quảng trường mới hãn hữu mới được quy hoạch. ở hầu hết các thành phố
lớn nhỏ, quảng trường chỉ là nơi diễn ra các sự kiện chính trị, nơi ngự trị của
các kiến trúc cơ quan lãnh đạo hoặc quản lý Nhà nước, người dân thường ít
lui tới, chưa nói là để sinh hoạt cộng đồng. Quảng trường rộng 16 ha ở trung


11

tâm Thành phố Vinh, quảng trường ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột là
những ví dụ cho quan sát này.
Vấn đề quảng trường đô thị, không có gì mới trong xây dựng đô thị

không gian kiến trúc đối với các quảng trường xây mới, ở các khu vực đô thị
mới và tạo lập hoàn chỉnh hệ thống quảng trường ở các khu vực đô thị cũ.
Mục tiêu 3: Xác định mô hình quảng trường phù hợp với các đô thị
lớn ở Việt Nam nhằm định hướng cho việc tổ chức không gian kiến trúc và
cải tạo quảng trường.


13

b. nội dung
chương 1: tổng quan về quảng trường trong không
gian và trong đời sống cộng đồng đô thị
1.1.

Vai trò và ý nghĩa của quảng trường trong đô thị, sự cần thiết
nghiên cứu.

1.1.1. Vai trò và ý nghĩa của quảng trường trong đô thị.
Quảng trường là một thành phần không thể thiếu trong cấu trúc không
gian các đô thị từ xưa đến nay. Về bản chất, quảng trường là không gian công
cộng, vừa đóng vai trò tạo thị và tính chất thành thị cho mỗi đô thị, vừa đóng
vai trò tổ chức và gắn kết cộng đồng dân cư đô thị với đặc trưng nổi trội là sự
cân bằng giữa cái riêng và cái chung, thể hiện rõ trong việc đảm nhận
những chức năng công cộng và chung sống của đô thị, với tư cách là nơi tổ
chức hoạt động sự kiện xã hội, những sinh hoạt văn hóa lễ hội, buôn bán
và, đơn giản, là nơi để thị dân xum họp hoặc dạo chơi.
Quảng trường trong các đô thị xưa và nay, ở mức độ nào đó, phản ánh
và thể hiện tầng bậc phát triển văn hóa và cái riêng của mỗi đô thị. Cùng với
đó, quảng trường bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo trong cấu trúc không gian
và hình thái cùng diện mạo kiến trúc - cảnh quan của mỗi chốn đô thị. Về

phố quy mô nhỏ hơn, quảng trường hoặc không có, hoặc có ở dạng sân bãi,
hoặc ở dạng chưa kiện toàn những yếu tố cấu thành.
- Những quảng trường và không gian mở dạng quảng trường, hình
thành từ cuối thế kỷ XIX, hầu hết chỉ ở dạng triển khai dở dang, chưa kiện
toàn về mặt kiến trúc - cảnh quan đô thị, đặc biệt thiếu sự hiện diện của
những công trình kiến trúc và quần thể kiến trúc định hình chúng, thiếu
những thành phần kiến trúc nhỏ và các tác phẩm mỹ thuật, những tiện nghi
phục vụ cộng đồng đô thị.
- Tuy đang mở rộng mạnh mẽ các đô thị cũ, tuy đang xây dựng mới
hàng trăm đô thị và cấu trúc đô thị, song trên thực tế, quảng trường chưa


15

được chú trọng đưa vào quy hoạch và chưa được đầu tư đúng mức từ mọi
phương diện.
- Các quảng trường hầu hết biến thành các nút giao thông với mật độ
và với cường độ chuyển động cao của các phương tiện. Các chức năng công
cộng, văn hóa, giao lưu cộng đồng, ngay cả vai trò của chúng trong diện mạo
kiến trúc đô thị cũng bị lu mờ hoặc triệt tiêu.
b/ Thực trạng nêu trên đặt ra nhiều vấn đề bức xúc đối với các cơ quan
quản lý đô thị, đối với các nhà quy hoạch phát triển đô thị, đối với giới kiến
trúc sư và giới hoạt động văn hóa. Trong đó:
- Các giải pháp trong điều chỉnh quy hoạch và giao thông, trong tạo lập
môi trường kiến trúc và cảnh quan, nhằm khôi phục vị trí và các chức năng
ban đầu của các quảng trường, trong việc tái gắn kết chúng với toàn bộ cơ thể
đô thị hiện hữu và, đặc biệt, trả lại chúng cho cuộc sống cộng đồng dân cư đô
thị hiện đại.
- Khả năng bổ sung các quảng trường hoặc các không gian mở trong
quá trình cải tạo và hiện đại hóa các quỹ đô thị đã hình thành, trong điều kiện

thường có những kiến trúc thích hợp, để dùng làm chỗ hội họp, mít tinh lớn,
diễu binh lớn trong những ngày lễ trọng thể [72, tr.456].
- Quảng trường đô thị là một yếu tố cấu thành đô thị gắn kết với
mạng lưới giao thông, là nơi sinh hoạt chính trị, văn hoá của đô thị, đồng thời
cũng là đầu mối phân luồng giao thông [32, tr.294].
- Quảng trường: Khoảng trống và rộng ở trong đô thị dùng làm nơi tụ
tập dân cư trong sinh hoạt của dân cư đô thị vào những dịp kỷ niệm hoặc tổ
chức lễ hội, mít tinh (quảng trường trung tâm đô thị); cũng có thể là nơi tập
trung giao thông ở chỗ giao nhau của nhiều tuyến giao thông quan trọng
(quảng trường giao thông); cũng có thể là khỏang trống tạo tầm nhìn trước
các công trình lớn, trước lối lên cầu... trong ngôn ngữ ở miền Nam thường
được gọi là công trường (khoảng trống và rộng có chức năng công cộng).
[33, tr.381].
Trên cơ sở các định nghĩa nêu trên, từ phương diện công năng và vị trí
quảng trường trong cấu trúc đô thị, từ các dạng hình thái không gian của
chúng, xin đưa ra định nghĩa tổng hợp sau đây:
Quảng trường là khoảng không gian để trống trong đô thị, gắn kết
với cấu trúc công năng và với hệ thống giao thông đô thị, dành cho các


17

hoạt động đa dạng của đời sống chính trị, văn hóa và giao lưu của cộng
đồng dân cư mỗi đô thị. Quảng trường được cấu thành bởi các cấu trúc vật
thể đóng vai trò giới hạn không gian và/hoặc bởi sự liên kết của các thành
tố đô thị khác liên quan đến nó.
ở định nghĩa này, chúng tôi lồng tải những đặc điểm chính làm cho
quảng trường khác biệt so với các thành phần khác của đô thị, đó là:
- Quảng trường hầu như bao giờ cũng có vị trí quan trọng bậc nhất và
nổi trội trong sơ đồ cấu trúc đô thị;

thị giác của các bề mặt giới hạn không gian quảng trường (cả bề mặt ngang
và bề mặt đứng), tạo nên bởi hình khối của các công trình hoặc cấu trúc vật
thể, sự sắp xếp, bố cục các công trình hoặc cấu trúc vật thể đó; hình thức,
màu sắc, chất liệu... của các bề mặt giới hạn.
Không gian kiến trúc quảng trường là sự tổng hòa về kiến trúc của
quảng trường, kết hợp khoảng trống, các công trình kiến trúc, các vật thể
khác trong sự liên hệ với các không gian đô thị liền kề. Tính chất, hình ảnh
và ý nghĩa của không gian một quảng trường trong sự nhận thức của con
người phụ thuộc vào sự bố cục, tỷ lệ các chiều, tương quan khối tích, các yếu
tố cảm nhận và thị giác của bề mặt các vật thể, giới hạn hay ngăn chia không
gian đó. Vì vậy, không gian kiến trúc quảng trường là sự hợp thành một thể
của các yếu tố cấu thành, tạo nên hình ảnh và mang lại cảm xúc về không
gian đó.
Hình thái không gian quảng trường là các thuộc tính thị sở của
không gian một quảng trường, tạo nên bởi các yếu tố như hình dạng của mặt
bằng; quy mô, tỷ lệ và tính chất của không gian; bố cục của các công trình và
cấu trúc vật thể giới hạn; hình thức và diện mạo của bề mặt đứng của các yếu
tố kiến trúc cấu thành quảng trường.
1.4.

Tổng quan về quảng trường ở các đô thị trên thế giới.
Trong lịch sử xây dựng đô thị trên thế giới, các đô thị cổ ở nhiều quốc

gia và xứ sở như Ai Cập, Lưỡng Hà, Hy Lạp, La Mã, Trung Hoa, ấn Độ đã
hiện hữu nhân tố quảng trường, dưới hình thức những không gian bỏ trống,
quây quần bởi các kiến trúc trang nghiêm và hoành tráng, hoặc những không
gian để trống trong khu dân cư đô thị, đảm nhiệm chức năng công cộng và
họp chợ.





20

đón hướng gió lành, đảm bảo sức khoẻ cho dân cư, điều này liên quan mật
thiết đến quy hoạch hệ thống đường, ngõ. Tiếp đến là: xem xét vấn đề
chọn địa điểm xây dựng các đền thờ, quảng trường và tất cả những địa điểm
công cộng khác với quan điểm có ích thiết thực và tiện lợi chung. Nếu thành
phố ở ven biển, chúng ta chọn đất gần bến cảng làm nơi xây dựng quảng
trường (forum); nhưng nếu là nội địa thì làm quảng trường ở giữa thành phố
[45, tr.31]. Các Agora được bố trí ở trung tâm, những công trình quan trọng
cũng được bố trí ở đây.
Ban đầu các Agora có bố cục đối xứng nghiêm ngặt đối với từng công
trình kiến trúc và nguyên tắc không đối xứng đối với tổng thể công trình. Do
đó các Agora thường có dạng mặt bằng tự do và yếu tố điều kiện địa hình tự
nhiên đóng vai trò quyết định. Các công trình cộng cộng trên quảng trường
thường trang trí đơn giản, có hàng hiên thoáng, rộng phía trước nhìn về
quảng trường.
Từ thế kỷ thứ V-TCN, do ảnh hưởng quan niệm xây dựng đô thị của
Hippodammus (công dân thành Milet - thế kỷ V TCN), đối xứng trở thành
nguyên tắc chủ đạo của bố cục các quảng trường công cộng. Vì vậy, mặt
bằng các Agora thời này thường có dạng hình chữ nhật hoặc hình vuông.
Cũng trong thời này, các Agora có xu hướng liên kết với nhau tạo
thành một phức hợp không gian, với các chức năng được phân biệt rõ ràng
như quảng trường hành chính, quảng trường tôn giáo, quảng trường thương
mại và quảng trường cảng.
Người La Mã, từ thế kỷ VII TCN, đến năm 235, tiếp thu của người
Etrusk nguyên tắc phòng vệ quân sự và của người Hy Lạp kinh nghiệm xây
dựng các trung tâm sinh hoạt công cộng. Đó là các quảng trường mà người
La Mã gọi là Forum, có nguồn gốc từ Agora của Hy Lạp. Các chi tiết kiến



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status