ThiTÍCH HỢP GIAO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀO MÔN SPEAKING
TIẾNG ANH LỚP 11
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Thiên nhiên có thể phát triển không cần sự có mặt của chúng ta, nhưng
chúng ta không thể tồn tại bên ngoài thiên nhiên. Con người chỉ là một trong
những quần thể trong tự nhiên, cũng tuân theo quy luật tất yếu đó là sinh ra, lớn
lên và chết đi.
Tuy nhiên, bằng khả năng tư duy sáng tạo con người đã tận dụng mọi
tiềm năng của tài nguyên thiên nhiên và những tiến bộ của khoa học kỹ thuật để
ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống và song song đó con người đã và
đang không ngừng thải ra môi trường đủ mọi loại chất thải làm cho môi trường
ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Và bây giờ tự nhiên đã trả lại cho con
người những hậu quả do chính mình gây ra, đó là sự biến đổi khí hậu, ô nhiễm
môi trường, hiệu ứng nhà kính, thiên tai bão lụt trầm trọng,….
Ý thức được những vấn đề này mỗi người chúng ta phải chung tay cứu
lấy môi trường cũng là cứu lấy chính sự sống trên trái đất. Bằng những quyết
định và hành động cụ thể, mọi người đều có thể tham gia cải thiện môi trường
sống, khắc phục những hậu quả của ô nhiễm môi trường. Để thực hiện được
điều đó, ý thức của mỗi người đóng vai trò then chốt. Vì lẽ đó việc tích hợp
lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học có ý nghĩa to lớn, đặc biệt là ở
bộ môn Tiếng Anh nói chung và môn speaking nói riêng, đặt biệt là moo6n
speaking lớp 11 khi học sinh có kiến thức và vốn từ vựng khá tốt.
Để việc tích hợp lồng ghép mang lại hiệu quả tốt thì đòi hỏi mỗi giáo
viên không chỉ được trang bị các hiểu biết về môi trường một cách sâu rộng mà
cần phải có phương pháp khoa học phù hợp trong từng tiết dạy.
Đó cũng chính là lí do tôi xây sáng kiến kinh nghiệm này: “ Tích
hợp giáo dục môi trường vào môn speaking Tiếng Anh lớp 11”.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận:
- Môi trường: Bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô
tích Rừng bị thu hẹp nhanh chóng, 300 năm trở lại đây, rừng từ chỗ 72 triệu km2
giảm xuống còn 41 triệu km2 tức là độ che phủ từ 47% diện tích mặt đất xuống
27%. Ngày nay, mỗi năm thế giới mất hơn 15 triệu ha rừng, Đông Nam Á có
mức phá rừng cao nhất .
Lượng khí CO2 và các khí nhà kính khác ngày càng nhiều làm cho tầng ôzôn bị
phá hủy( mỏng và thủng ) làm ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu gây nên hiệu
ứng nhà kính. Nguy cơ khí hậu nóng lên thêm từ 1-3 oC làm cho lũ lụt và hạn
hán ngày càng khắc nghiệt hơn.
2
LỖ THỦNG TẦNG ÔZON
HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH
Lượng chất thải công nghiệp ngày càng nhiều, làm ô nhiễm môi trường và đe
dọa các loài thú biển trong vòng 40 năm qua. Trong vòng 100 năm trở lại đây tỉ
lệ CO2 tăng thêm khoảng 12% . Mưa axít ( có nguyên nhân từ các nhà máy
công nghiệp) đang phá hủy rừng nhiệt đới, ao hồ, đồng ruộng và các di tích lịch
sử.
Sự phát triển kinh tế không thích hợp ở một số nước đã gây nên một sức ép
mạnh mẽ lên hệ thống sinh thái tự nhiên. Các tài nguyên đất rừng khai thác quá
mạnh làm giảm đa dạng sinh học.
- mưa axit đã tàn phá hàng
trăm ha rừng
2.2/ Tình hình môi trường Việt Nam:
Dân số Việt Nam tăng nhanh: Năm 1945: có 25 triệu dân, đến tháng 6/1999 dân
số Việt Nam là 77.263.000 người. Cuối năm 2016 dân số Việt Nam khoảng
chôn rác thải chưa qua xử lí xuống đất gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Việc
người dân vứt xác lợn, gà bị dịch xuống sông, hồ. Hay sự việc công ty Men
Mauri trên địa bàn huyện Định Quán xả nước thải xuống sông La Ngà….Tất cả
những việc làm đó đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Theo thông báo của các tổ chức trên thế giới và của Bộ Tài nguyên và Môi
trường, Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của
biến đổi khí hậu vì có một đường bờ biển dài và các vùng châu thổ thấp. Đến
cuối thế kỷ này nhiệt độ trung bình của nước ta tăng gần 2oC, hàng ngàn km2
đồng bằng sông Cửu Long chìm dưới mực nước biển. Qua đó chúng ta thấy vấn
đề môi trường và ô nhiễm môi trường là vấn đề cấp bách của toàn xã hội, mọi
người đều phải có trách nhiệm tham gia bảo vệ và cải tạo môi trường. Vì vậy
việc tăng cường lồng ghép các nội dung giáo dục môi trường vào trong dạy học
các môn học ở THPT nói chung và môn Tiếng Anh nói riêng là rất cần thiết và
cấp bách trong giai đoạn hiện nay để góp phần nâng cao nhận thức và hành
động bảo vệ môi trường của các em học sinh cũng như toàn xã hội. Việc thực
hiện đề tài này tôi đả tiến hành qua các giải pháp sau:
3.1 Giải pháp 1: Thực hiện các nguyên tắc lồng ghép:
- Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường (BVMT) vào môn học là sự kết hợp
một cách có hệ thống các kiến thức giáo dục môi trường (GDMT) và kiến thức
môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên
những mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học, chú ý
không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục như là một bộ môn riêng
biệt hay một chủ đề nghiên cứu.
- Giáo dục BVMT phải trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức về môi
trường và kĩ năng BVMT, phù hợp với tâm lí, lứa tuổi. Hệ thống kiến thức và kĩ
năng được triển khai qua các môn học và các hoạt động theo hướng lồng ghép
nội dung qua các môn học, thông qua chương trình dạy học chính khoá và các
hoạt động ngoại khoá, đặc biệt coi trọng việc đưa vào chương trình Hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp.
3.2.1/ Lồng ghép giáo dục BVMT trong giờ học:
Giáo dục BVMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, vì vậy, được triển khai
theo phương thức lồng ghép. Nội dung giáo dục BVMT được tích hợp trong
môn Tiếng Anh thông qua các hoạt động nói ( speaking), viết (writing), reading
(đọc hiểu), bài cụ thể. Việc lồng ghép thể hiện ở 3 mức độ:
Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học phù hợp hoàn toàn
với mục tiêu và nội dung giáo dục BVMT. Với những bài này trong quá trình
dạy học chúng ta thực hiện lồng ghép giáo dục BVMT vào toàn bộ nội dung của
bài.
( Ex: : unit 4: Volunteer Work, Unit 7: World Population, Unit 10: Nature in
Danger, Unit 11: Sources of Energy.)
Mức độ bộ phận: Trong bài học chỉ có một phần có mục tiêu và nội dung
giáo dục BVMT (ex: Unit 2: Personal Experiences, Unit 9: The Post office,
Unit 13: Hobbies, Unit 16: the wonders of the world)
5
Mức độ liên hệ: ở dạng này, các kiến thức GDMT không được đưa vào
chương trình và SGK, không có trong mục tiêu bài dạy. Nhưng dựa vào nội
dung bài học, giáo viên có thể bổ sung kiến thức GDMT.
Mức độ lồng ghép
Mức độ toàn phần
Mức độ bộ phận
* Khái niệm: Động não là một kĩ thuật giúp cho người học trong một thời gian
ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về vấn đề nào đó.
8. Phương pháp giao cho học sinh làm bài tập thực hành ở nhà.( realistical
method)
4. Một số ví dụ minh họa cho đề tài:
4.1/ Dạng bài lồng ghép toàn phần:
Vi dụ: - unit 10 : NATURE IN DANGER
Why do people cut down the forests? What happen when all forests are
destroyed?
Acid rain, typhoon, storm, earthquakes, discharging chemical pollutants into the
environment. Burning forests, using fertilizers and pesticides for cultivation,
hunting animals for fur, skin or food....
Học sinh thảo luận “ Why are there so many desasters nowadays?- What did
people do to harm the environment so seriously?”
Mục tiêu bài học:
*Kiến thức: Học sinh nêu được nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở địa
phương và từ đó nêu được biện pháp khắc phục.
*Kỹ năng:
- Rèn luyện kỹ năng đi thực tế, quan sát, so sánh,
- Kỹ năng tích cực tìm tòi, phân tích và rút ra kết luận.
- Kỹ năng hoạt động nhóm- kỷ năng nghe, nói.
*Thái độ: HS có ý thức tham gia bảo vệ môi trường.
UNIT4: VOLUNTEER WORK
I. Getting started:
- Do you like to join the campaignto protect the environment?
-Can you swim in the river with the water like this?
-Should you waste rubbish in the river? Where should you put garbage?
7
What do you do when you see this case?
*Ví dụ: UNIT 7: WORLD POPULATION
The population is increasing every year so
there are not enough jobs to support so many
people that is the reason why many people
from country move to city to find jods, this
makes city more crowded. What problems about environment do the cities face
to?
-Học sinh thảo luận và đưa ra nhận xét.
Mục tiêu bài học: giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, ý thức cư xử nơi công
cộng
IV.KẾT QUẢ:
Sau khi thực hiện các giải pháp của chuyên đề, tôi nhận thấy:
- Khả năng ứng xử và phản ứng với các tình huống của học sinh mà giáo viên
đưa ra tốt hơn. Vốn từ và kiến thức về môi trường của các em học sinh phong
phú hơn. Kỷ năng nói của các em vì thế mà có cải thiện hơn. Cụ thể điểm số
môn speaking như sau:
Năm học
Lớp
2015-2016
2016-2017
B5(32hs)
A10(33hs)
Học kỳ 1
Học kỳ 2
Giỏi Khá Tb Yếu kém Giỏi Khá Tb Yếu kém
- Ý thức giữ gìn vệ sinh chung, bảo vệ môi trường của học sinh được nâng cao.
Các em biết bỏ rác đúng nơi quy định.
9
- Ý thức bảo vệ cây xanh tốt hơn, tham gia đầy đủ và tích cực hơn trong các
buổi lao động vệ sinh.
- Đã có học sinh mạnh dạn đề xuất ý kiến đề nghị nhà trường và địa phương
trang bị thêm nhiều sọt rác trên đường đi để tránh việc xả rác bừa bãi.
- Học sinh hứng thú, ham thích việc tìm hiểu về môi trường, tranh luận sôi
nổi về các vấn đề môi trường và ô nhiễm môi trường trong giờ học.
- Học sinh tích cực tham gia các buổi lao động vệ sinh, bảo vệ môi trường.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
1. Đối với giáo viên:
- GDMT ở đây chỉ là hoạt động lồng ghép, do đó thời gian dành cho việc lồng
ghép không kéo dài . Tình huống mà GV đưa ra để GDMT phải gắn liền với nội
dung kiến thức bài học. Khi soạn giáo án, phần tích hợp GDMT có trong
chương nào, bài nào, phần nào nhất định phải đưa vào để thực hiện.
- Phải thẩm thấu bài giảng. Giáo viên cần linh hoạt phối hợp nhuần nhuyễn
các hình thức tích hợp giáo dục môi trường trong từng tiết dạy
- Phải thường xuyên cập nhật các tài liệu về môi trường đặc biệt là các tư liệu
trong đời sống địa phương có liên quan đến bài dạy để đưa vào lồng ghép sinh
động đối với học sinh.
- Giáo viên có tâm huyết, phải làm tấm gương trong việc BVMT
- Cần lắng nghe ý kiến của học sinh. Khuyến kích, khen thưởng kịp thời đối
với những học sinh có thái độ, ý tưởng và hành động tích cực
2. Đối với học sinh:
- Phải có ý thức tích cực, tự giác trong học tập.
- Trang bị đầy đủ các loại sách vở, thường xuyên tham khảo thêm các tài liệu
và nắm bắt tình hình môi trường ở địa phương mình để phục vụ cho tiết học.
ghép giáo dục môi trường trong các bài học sinh học là vô cùng quan trọng. Có
thể xem đây là việc làm thường xuyên, liên tục và không thể thiếu ở mỗi trường
học, mỗi cấp học. Trên đây là một số phương pháp trong việc lồng ghép giáo
dục môi trường vào mỗi bài học mà tổ tôi đút kết được trong quá trình giảng
dạy.
Tôi tin tưởng rằng các giải pháp của đề tài không chỉ thực hiện tốt trong việc
giảng dạy bộ môn Tiếng Anh mà có thể áp dụng tốt cho các bộ môn khác như:
môn hoá học, vật lý, địa lý, giáo dục công dân…
Tôi hy vọng rằng, qua chuyên đề này giáo viên sẽ có nhận thức đầy đủ
hơn về môi trường, có được hướng đi tốt trong việc lồng ghép GDMT vào mỗi
bài dạy giúp các em học sinh có nhận thức sâu sắc về môi trường, có ý thức
trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất.
11