SKKN nâng cao chất lượng dạy học môn công nghệ 11 theo hướng tích cực hóa người học tại trường THPT chuyên lương thế vi - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƢỜNG THPT CHUYÊN LƢƠNG THẾ VINH
Mã số: ................................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 11 THEO
HƢỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƢỜI HỌC TẠI TRƢỜNG THPT CHUYÊN
LƢƠNG THẾ VINH – BIÊN HÒA – ĐỒNG NAI”

Ngƣời thực hiện: NGUYỄN THỊ NGỌC TÚ
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phƣơng pháp dạy học bộ môn:

Công nghệ



- Lĩnh vực khác: ....................................................... 
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình

 Đĩa CD (DVD)

 Phim ảnh

 Hiện vật khác



“ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 11
THEO HƢỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƢỜI HỌC TẠI TRƢỜNG
THPT CHUYÊN LƢƠNG THẾ VINH – BIÊN HÒA – ĐỒNG NAI”
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với mục tiêu chung của ngành giáo dục, mục tiêu của giáo dục cấp
THPT đó là: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản; phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và
sáng tạo, hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam xã hội chủ nghĩa; chuẩn bị
cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Môn công nghệ một trong những môn học tạo nền tảng cơ bản cho
ngƣời học liên quan đến những lĩnh vực của cuộc sống từ kinh tế đến kĩ
thuật…Là môn học nhằm định hƣớng cho học sinh THPT xác định đƣợc năng
lực của bản thân. Lựa chọn một nghề là một việc làm hết sức quan trọng, lựa
chọn nghề phù hợp với bản thân lại càng quan trọng hơn. Bởi nghề nghiệp gắn
liền với tƣơng lai mỗi ngƣời, gắn bó suốt với cuộc đời của họ. Vì tầm quan
trọng của môn công nghệ giáo viên cần phải hết sức cẩn thận trong việc truyền
thụ kiến thức và hơn hết là thu hút đƣợc học sinh làm cho học sinh từ chỗ yêu
thích môn học đến việc chủ động tham gia vào quá trình tìm hiểu kiến thức,để
có thể tạo một hƣớng đi đúng cho bản thân. Đó là một vấn đề có ý nghĩa rất
quan trọng.
Hơn thế nữa, đại đa số học sinh của Trƣờng THPT chuyên Lƣơng Thế
Vinh là những học sinh giỏi, chƣơng trình học nặng do phải học những môn
chuyên. Tình trạng ngại học, coi nhẹ môn học do đây không phải là môn thi tốt
nghiệp và thi vào Đại học, Cao đẳng ...Nên đã dẫn đến một thực tế đáng buồn
là kết quả, hiệu quả của giờ học chƣa cao, chƣa đạt đƣợc nhiều theo mục đích,
yêu cầu đặt ra.
Nguyên nhân do nhiều phía: Xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp, sức
thuyết phục của chƣơng trình còn ở mức độ, tâm lí coi nhẹ môn học của học

Socrates (469 – 390 TTL), là triết gia lớn, cũng là nhà giáo dục đáng
kính của Hy Lạp. Ông đã đề ra phƣơng pháp dạy học đối thoại giữa hai hoặc
nhiều ngƣời để tìm ra sự thật: “Ông đặt câu hỏi để môn đệ, thính giả trả lời.
Sau đó, ông nhận định về các câu trả lời này, vạch ra điều nay, điều dở”.
M. Montaigne (1533-1592), nhà quý tộc Pháp nhân văn, chuyên nghiên
cứu về phƣơng pháp giáo dục qua hành động. Ông liện tục bắt học trò hành
động để học, học qua hành động. Dạy học không phải là giảng dạy một cách
giáo điều mà chủ yếu là ngƣời học phải biết vận dụng khả năng phán xét của

4


mình. Ông cho rằng: “Giáo dục là một sự tiếp nhận tích cực sáng tạo và hòa
nhập qua thời gian, nhất là đối với trẻ em mà không phải là một sự ép buộc,
cƣỡng chế”.
Tiếp theo là J. Komensky (1592 – 1670) là một nhà tƣ tƣởng Slovakia. Ông
đã đƣa ra bí quyết về phƣơng pháp giáo dục là rèn luyện cho ngƣời học một
tâm hồn tích cực, tự do, chủ yếu dạy cho ngƣời học qua việc làm, chứ không
qua lời giảng.Thế kỷ XVII, một thiên tài lý luận của Pháp ở thời kỳ khai sáng
đó là J.J. Rousseu (1712-1778). Ông là cha đẻ của học thuyết “Lấy ngƣời học
làm trung tâm” (Paedocentrism). Ông coi trọng sự phát triển tự nhiên, coi trọng
tự giáo dục của trẻ, phản đối sự chèn ép cá tính trẻ. Ông cho rằng, đừng dạy trẻ
em khoa học mà để nó tự tìm tòi ra khoa học. Ngƣời giáo viên phải khêu gợi
tinh thần yêu chuộng khoa học và cung cấp cho các em phƣơng pháp học khoa
học, khi nào tinh thần yêu chuộng khoa học ở học sinh phát triển hơn thì đó là
nền tảng của nền giáo dục tốt. Năm 1762, với chủ trƣơng tôn trọng quyền tự do
và tự quyết của ngƣời học “Đừng bắt đứa trẻ làm điều gì mà nó không thích”,
J.J. Rousseu đã cho sản xuất hai tác phẩm nổi tiếng: “ Khế ƣớc xã hội” và “Bàn
về giáo dục”, những tác phẩm này chứa đựng rất nhiều quan điểm giáo dục tiến
bộ nhƣ: Giáo dục phù hợp với tự nhiên nghĩa là hoạt động giáo dục phải phù

đồng”. Sau một thời gian làm việc chung, nhóm đã trở thành một cá thể và lại
vì quyền lợi, vì ganh đua, cá thể đó trở thành ích kỷ.
Ở Pháp, năm 1920 đã thành lập những nhà trƣờng mới, chú trọng đến
vấn đề phát triển năng lực và trí tuệ của trẻ, khuyến khích các hoạt động tự
quản của học sinh. Các thông tƣ chỉ thị của Bộ giáo dục Pháp trong suốt những
năm 79, 80 đều chỉ đạo áp dụng phƣơng pháp dạy học tích cực cho các bậc
học. Ở Mỹ, năm 1921 chƣơng trình giảng dạy tích cực hóa ngƣời học đã đƣợc
áp dụng tại trƣờng Cao đẳng Antioch thuộc tiểu bang Ohio. Từ đó, nền giáo
dục Mỹ đã đạt đƣợc những thành công nhất định cho đến ngày nay. Ở Nga,
nhiều nhà giáo dục đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát huy tính tích cực của
ngƣời học nhƣ: Aristova, L. Babanxki, Iu. K. Đanhilov, I.F. Lecne…Họ đã
nghiên cứu con đƣờng dẫn đến sự chủ động, tích cực, độc lập và sáng tạo của
học sinh. Ở Nhật, Từ những năm 1970 thì chƣơng trình giáo dục đã mang tính
chất linh động và thực dụng nhằm giúp cho ngƣời học phát triển một cách tự
nhiên, họ có thể lựa chọn chƣơng trình giáo dục dựa vào sở thích và khả năng
riêng của mình.

6


Nhƣ vậy, tích cực hóa ngƣời học xuất hiện trên Thế giới từ thời Cổ đại.
Từ đó đến nay đã có rất nhiều nhà giáo dục, cơ sở giáo dục… kế thừa và phát
triển, thực hiện tốt và mang lại hiệu quả cao trong quá trình giáo dục và đào
tạo.
2.2. Ở Việt Nam
Từ năm 1960, vấn đề tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực cho
ngƣời ngƣời học đã đƣợc đề cập trong nền Giáo dục nƣớc ta. Trong giai đoạn
này, tất cả các trƣờng Sƣ phạm đã đề ra khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo
thành quá trình tự đào tạo”.
Đến năm 1965, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ở Miền Bắc, cả nƣớc

Có thể thấy trong thực tiễn của hoạt động dạy học từ lâu nay, ngƣời giáo viên
đã từng bƣớc có sự nhận thức rõ về việc phát huy “tính tích cực học tập” và
“tích cực hóa” tới đối tƣợng dạy học bằng hệ thống các phƣơng pháp và biện
pháp dạy học phong phú, đa dạng. Bởi nguyên tắc “tích cực hóa việc học tập
của học sinh” đã từng đƣợc xác định và gần đây lại đƣợc nhấn mạnh trong việc
thay đổi chƣơng trình SGK vào năm 2003.
Vấn đề “tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh” xét theo góc độ giáo dục
và nghiệp vụ sƣ phạm là vấn đề cốt lõi của quá trình dạy học văn. Đặc biệt với
quan điểm giáo dục tích cực theo xu thế của nhà trƣờng hiện đại thì nó lại nổi
lên nhƣ chiến lƣợc dạy học.
Vấn đề “tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh” trong giờ học là một
khâu quan trọng trong hoạt động sƣ phạm của ngƣời giáo viên. Qua đó, trình
độ kiến thức khoa học, năng lực nghiệp vụ của ngƣời thầy đƣợc thử thách,
kiểm chứng. Vì thế, từ khi triển khai đổi mới việc dạy học, đây là vấn đề đƣợc
ngƣời dạy quan tâm học hỏi và chú ý trau dồi thƣờng xuyên. Trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ đào tạo của nhà trƣờng thời gian qua, vấn đề phát huy tính
tích cực học tập của học sinh đã đƣợc đề cập khá nhiều. Từ các Nghị quyết về
Giáo dục của Đảng và Nhà nƣớc, các văn bản chỉ thị hƣớng dẫn của Bộ GD &
ĐT, các bài viết chuyên đề đăng tải trên các tạp chí chuyên san giáo dục, vấn
đề này đã đƣợc quan tâm nghiên cứu. Nhờ đó, ngƣời giáo viên dạy ở nhà
trƣờng THPT có những căn cứ để xác định phƣơng hƣớng cùng tiến hành
những cách thức dạy học cụ thể nhằm thúc đẩy việc “tích cực hóa hoạt động
học tập” của học sinh trong giờ học.
2.3.

Đặc điểm môn Công nghệ 11

 Tính cụ thể và tính trừu tƣợng

8

nguyên tắc kỹ thuật tổng hợp)

9


- Tích hợp, theo cách hiểu thông thƣờng lá sự thống nhất các phần tử khác
nhau trong một chỉnh thể thống nhất, kết quả của quá trình đó là sự ra đời một
hệ thống mới mà trong đó các phần tử liên hệ với nhau chặt chẽ hơn và bản
thân thuộc tính của các phần tử cũng có sự thay đổi. Nội dung môn học KTCN
mang tính tổng hợp và tích hợp vì nó là môn học ứng dụng, hàm chứa những
phần tử kiến thức thuộc nhiều môn khoa học khác nhau: Toán học, hoá học,
vật lí học, kinh tế học, xã hội học…nhƣng lại liên quan, thống nhất với nhau
trong việc phản ánh những đối tƣợng kỹ thuật cụ thể. Chẳng hạn: trong vẽ kỹ
thuật, phép chiếu song song là cơ sở xây dựng chiều dài trục đo. Phép chiếu
phối cảnh là cơ sở xây dựng hình chiếu phối cảnh; trong chế tạo cơ khí, các
thiết bị phƣơng pháp gia công dực trên các nguyên tắc truyền và biến đổi
chuyển động – năng lƣợng - lực; trong kỹ thuật điện, việc chế tạo các thiết bị
điện/máy điện đều dực trên nguyên lý cảm ứng điện từ, thiết kế mạch điện phải
dực trên định luật ôm; các linh kiệm điện tử đều dực trên ttính chất của các lớp
tiếp giáp của 2 chất bán dẫn NPN.
2.4.

Đặc điểm và đặc trƣng của dạy học tích cực

 Đặc điểm của dạy học tích cực
 Về mục tiêu dạy học
Dạy học tích cực hƣớng vào việc chuẩn bị cho ngƣời học khả năng độc
lập, tự khám phá, tìm tòi tri thức và làm chủ đƣợc tri thức, khả năng, thích ứng
cao với xã hội, hòa nhập và phát triển cộng đồng.
 Về nội dung dạy học

 Đặc trƣng của dạy học tích cực


Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học

sinh
Để nhằm kích thích tính tích cực nhận thức của học sinh thì giáo viên
phải tổ chức nhiều hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện cho ngƣời học tham
gia vào quá trình tìm kiếm và phát hiện ra kiến thức mới. Chỉ có tham gia vào
một quá trình hoạt động nào đó thì ở ngƣời học mới nảy sinh đƣợc hứng thú,
động cơ học tập, khi đó tính tích cực của ngƣời học phần nào cũng đƣợc phát
huy. Dạy và học đều là những hoạt động quan trọng trong quá trình dạy học,
trong đó hoạt động dạy định hƣớng hoạt động học. Hoạt động định hƣớng này
phải bao gồm cả việc truyền thụ tri thức két hợp với hƣớng dẫn hành động.


Dạy và học chú trọng rèn luyện khả năng tự học.

11


Dạy học theo hƣớng tích cực không chỉ xem việc rèn luyện khả năng tự
học cho ngƣời học là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục
tiêu dạy học.Vì đây là một trong những mục tiêu hƣớng đến của dạy học tích
cực, khả năng tự học của ngƣời học cần phải đƣợc rèn luyện vì học là một quá
trình diễn ra lâu dài, diễn ra trong suốt cuộc đời của một con ngƣời. “Học, học
nữa, học mãi”, vì thế cần phải trang bị cho ngƣời học cách học nhƣ thế nào sao
cho có hiệu quả, để từ đó ngƣời học có khả năng tự học suốt đời. Với khối
lƣợng kiến thức vô cùng lớn của nhân loại, con ngƣời không thể nào nhồi nhét
vào đầu khối lƣợng kiến thức nhiều nhƣ vậy trong một thời gian ngắn. Cho nên

tác dụng trong quá trình dạy học.
Chính vì vậy, việc xây dựng những phƣơng pháp dạy và học mới trên
nội dung chƣơng trình môn công nghệ là thực sự cấp thiết góp phần nâng cao
chất lƣợng dạy và học môn công nghệ tại trƣờng THPT chuyên Lƣơng Thế
Vinh.
3.2. Các giải pháp nhằm thu hút và thúc đẩy quá trình học tập theo
hƣớng tích cực hóa ngƣời học
3.2.1. Xác định học tập là mục tiêu tự thân
Các GV trƣớc khi dạy tri thức, rèn luyện kỹ năng, phải dạy cho ngƣời
học biết rằng: Học tập là mục tiêu tự thân. Chỉ khi nào HS tự xác định đƣợc
hay nhà trƣờng giúp HS xác định đƣợc những mục tiêu học tập đúng đắn cho
chính họ làm động cơ tự thân thì họ mới tích cực nổ lực học tập. Vậy thì mục
tiêu học tập mà chúng ta cần hƣớng cho HS là gì để thu hut đƣợc họ nhiệt tình
học tập? Theo UNESCO (1996) các mục tiêu trụ cột của việc học trong thời đại
ngày nay là "học để biết, học để làm, học để chung sống với nhau và học để tồn
tại". Có sự liên quan gì giữa những mục tiêu học tập này với sự nhiệt tình học
tập của ngƣời học?
 Học để biết (learning to know)
Học trƣớc tiên để hiểu biết (learn to know) và là mục tiêu truyền thống
của việc học. Khi ngƣời học khao khát muốn biết thì sẽ say sƣa học tập để tìm
kiếm kiến thức. Chính vì thế mà các nền giáo dục tiên tiến nhƣ giáo dục Mỹ
đang dày công giúp cho học sinh, HS có "khuynh hƣớng muốn biết". Giáo dục
Thái Lan đặt cũng ra mục tiêu “giúp cho HS khao khát tìm kiếm tri thức mới,
khám phá bản thân và cuộc sống”. Tuy nhiên, kiến thức nhân loại, dù trong
một lĩnh vực chuyên môn hẹp, không ngừng đƣợc cập nhật và trong xã hội đầy
biến động làm sao một con ngƣời có thể hiểu biết hết tất cả những gì xung
quanh và sử dụng lƣợng kiến thức học đƣợc ở trƣờng đại học trong một số năm
để tác động vào thực tiễn? Cách duy nhất là học để không ngừng cập nhật kiến

13

Chính vì thế, để khắc phục những nhƣợc điểm của cách tiếp cận giáo dục nói
trên, hiện nay các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới hƣớng tới một cách tiếp
cận hiện đại kết hợp giữa truyền thống và nhân văn. Quan niệm về việc học
hiện đại bên cạnh việc nhấn mạnh việc học có hƣớng dẫn cũng đề cao việc tự
học, tự định hƣớng và sự tự chịu trách nhiệm cho việc học của mình.
Trong bối cảnh của thời kỳ mới và trong giai đoạn mới của sự phát triển
giáo dục, ngƣời ta nêu ra 3 tiêu chí quan trọng để đổi mới phƣơng pháp dạy và
học nhƣ sau:
- Tiêu chí bao quát hàng đầu của việc dạy và học là dạy cách học;
- Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính chủ động của ngƣời học;
- Công cụ cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin.

16


Để học tốt một điều gì đó ngƣời học không chỉ cần nghe thấy, mà phải
đƣợc nhìn thấy và để tạo hứng thú và phát huy mạnh mẽ tính chủ động của ngƣời
học, việc đổi mới phƣơng pháp giảng dạy hiện nay cần đi vào các hƣớng sau đây:
 Tổ chức tốt bài giảng và cách giảng bài
Cho đến nay giảng bài truyền thụ nhƣ một phƣơng pháp để phổ biến kiến
thức cho HS. Nó đã tỏ ra là một công cụ không dễ bỏ qua. Giảng giải là
phƣơng pháp tốt nhất để truyền đạt các kiến thức chung và thông tin, nhất là
trong điều kiện lớp đông nhƣ ở các trƣờng THPT hiện nay. Vấn đề là phải cải
tiến phƣơng pháp này để lôi cuốn đƣợc sự chú ý hơn của ngƣời học. Dù nội
dung có nhƣ thế nào thì một bài giảng tốt đều phải đƣợc bố cục tốt và giảng
giải một cách rõ ràng. Để các HS dễ tiếp thu thì GV phải phác thảo, định rõ,
nhắc lại những khái niệm quan trọng nhất, có minh hoạ phù hợp và tóm tắt
ngắn gọn. Kỹ năng trình bày là rất quan trọng và GV phải luôn nhớ hƣớng sự
chú ý của HS vào nội dung bài chứ không phải vào ngƣời giảng. Chẳng hạn,
GV nên đƣa ra một vấn đề trƣớc khi giảng để định hƣớng HS vào những thông

Dùng những hình minh hoạ trực quan để làm cho bài giảng bớt trừu tƣợng
và sau thời gian nói liên tục phải có giờ giải lao. Để học đƣợc một vấn đề,
nhiều ngƣời đòi hỏi phải đƣợc nhìn tận mắt ngay cả khi vừa đƣợc nghe về nó.
Do vậy, GV nên sử dụng các phƣơng tiện nhƣ: biểu đồ, đồ thị, bảng,
máy chiếu, bằng video để hỗ trợ giảng dạy.Tuy nhiên, nếu dùng các phƣơng
tiện nghe nhìn chỉ để thay phấn viết bảng thôi thì hậu quả sẽ
tiêu cực bởi vì thực chất đó vẫn là phƣơng pháp thuyết trình một chiều.Mục
đích việc dùng các phƣơng tiện nghe nhìn là làm cho bài giảng sinh động hơn,
tiết kiệm thời gian viết bảng để giành thời gian cho giảng viên giải thích, cho
HS đặt câu hỏi và thảo luận.
 Chuẩn bị các tài liệu bổ sung
Trƣớc khi giảng bài, nhất là khi GV sử dụng bài giảng PowerPoint, nên
phân phát đề cƣơng cho HS. Các tài liệu này giúp ngƣời học dễ theo dõi những
ý chính, tóm tắt nội dung, phát triển các ý và áp dụng chúng. Ngoài ra GV có
thể phát hay giới thiệu nguồn tài liêu đọc thêm liên quan để HS có thể nghiên
cứu sâu hơn về vấn đề đã đƣợc giảng trên lớp.
 Khuyến khích học tập theo nhóm và tăng cường thảo luận
Khi cho HS học tập theo nhóm kết quả thƣờng tốt hơn là học một mình.
Học tập, cũng nhƣ làm việc, nếu có tính tƣơng hỗ và xã hội sẽ tốt hơn là cạnh
tranh và biệt lập. Làm việc cùng với những ngƣời khác sẽ hứng thú hơn và tăng

18


thêm cơ hội học tập đƣợc lẫn nhau. Chia sẻ ý tƣởng của nhau và phản ứng
trƣớc hành động của ngƣời khác sẽ làm cho suy nghĩ sắc bén hơn và hiểu biết
đƣợc sâu sắc hơn.Thảo luận là trao đổi trực tiếp giữa các HS để đạt đƣợc một
mục đích học tập cụ thể. Nó có thể là trao đổi thân mật, không hình thức hoặc
đƣợc tổ chức với mục tiêu và nhiệm vụ nhất định, thời gian đƣợc giới hạn, lịch
trình chuẩn bị trƣớc và có thể có hoặc không có ngƣời chủ trì. GV có thể bắt

cho việc học đƣợc tốt hơn. Trong quá trình học HS cần có cơ hội để bộc lộ
những gì họ đã học đƣợc, biết những gì họ cần phải làm để tiếp tục học tốt hơn.
Do vậy sự đánh giá và phản hồi kịp thời của GV đối với HScó tác dụng rất lớn
đối với việc chủ động học tập của HS.
 Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng thời gian học tập
Học tập là bằng thời gian cộng với công sức. Không gì thay thế đƣợc
thời gian trong học tập. Học cách sử dụng tốt thời gian có ý nghĩa quyết định
đối với HS cũng nhƣ các nhà chuyên môn. HS cần đƣợc giúp đỡ để biết
quý thời gian và biết cách sử dụng thời gian học tập một cách có hiệu quả nhất.
Phân bổ thời gian tốt có nghĩa là học có hiệu quả đối với HS và dạy có hiệu quả
đối với GV.
 Đặt kỳ vọng cao cho HS
Có kỳ vọng cao trong cuộc sống và học tập là hết sức cần thiết cho mọi
ngƣời. Thƣờng thì khi GV đặt kỳ vọng cao cho HS thì họ sẽ phải tích cực phấn
đấu học tập hơn. Nếu GV quá dễ dãi, học ít thi vẫn điểm cao, thì HS sẽ không
chịu học. Do vậy, kỳ vọng HS phải nổ lực học tập là một giải pháp mang tính
cƣỡng bức cần thiết để thúc đẩy HS chủ động học tập nhằm đạt đƣợc kết quả
cao.
 Tôn trọng tài năng và phương pháp học đa dạng của HS
Có nhiều cách thức học tập khác nhau. HS mang đến trƣờng với những
năng lực và kiểu học tập rất khác nhau. Nhƣng HS xuất sắc trong lớp học có
thể lại rất vụng về trong phòng thí nghiệm. Nhƣng HS thực hành tốt chƣa chắc
đã học tốt về lý thuyết. Do vậy mỗi HS cần có cơ hội để thể hiện tài năng riêng
của họ và đƣợc học theo cách hữu hiệu nhất. Chẳng hạn, mỗi HS đều có
phƣơng pháp ghi chép riêng riêng nhƣng dù sao giáo viên cũng nên hƣớng dẫn
về các vấn đề nhƣ: thông tin có trong sách hay trong tài liệu có đƣợc phát
không? Có cần thiết phải ghi quá chi tiết không? Các con số và sự kiện cụ thể
có quan trọng không? Liệu trong bài kiểm tra có hỏi về chúng không?
 Tăng cường các bài kiểm tra


phải có tâm huyết, giành rất nhiều thời gian và công sức để nâng cao trình độ
chuyên môn và đổi mới phƣơng pháp giảng dạy, tận tuỵ với công việc chuyên
môn thì việc thực hiện các giải pháp nhƣ nêu trên là hoàn toàn khả thi.
3.3. Vận dụng

21


3.3.1. Các kĩ thuật
 Kĩ thuật “khăn trải bàn”
– Kĩ thuật “khăn trải bàn” Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác
kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm: Kích thích, thúc đẩy
sự tham gia tích cực – Tăng cƣờng tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS –
Phát triển mô hình có sự tƣơng tác giữa HS với HS.
Kĩ thuật “khăn trải bàn” trong dạy học tích cực
– Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn” Hoạt động theo nhóm (4ngƣời
/nhóm) Mỗi ngƣời ngồi vào vị trí nhƣ hình vẽ minh họa. Tập trung vào câu hỏi
(hoặc chủ đề,…). Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn
(về chủ đề…). Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút. Kết thúc
thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các
câu trả lời. Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn.
 Kĩ thuật “Các mảnh ghép”
– Kĩ thuật “Các mảnh ghép” Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá
nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm: Giải quyết một nhiệm vụ phức
hợp – Kích thích sự tham gia tích cực của HS để nâng cao vai trò của cá nhân
trong quá trình hợp tác (không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải
truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2).
– Cách tiến hành kĩ thuật “Các mảnh ghép” Vòng 1- Vòng 2 1 11 11 1 2 22 22
2 3 33 3 33.
VÒNG 1: Hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 ngƣời. Mỗi nhóm đƣợc giao một

sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp
học. Là một môi trƣờng học tập với cấu trúc đƣợc xác định cụ thể. Kích thích
HS tích cực học thông qua hoạt động. Đa dạng về nội dung và hình thức hoạt
động. Mục đích là để học sinh đƣợc thực hành, khám phá và trải nghiệm qua
mỗi hoạt động.
*Ví dụ: 3 góc cùng thực hiện một nội dung và mục tiêu học tập nhƣng theo các
phong cách học khác nhau và sử dụng các phƣơng tiện/ đồ dùng học tập khác
nhau. Đọc tài liệu, xem băng, làm thí nghiệm, áp dụng (trải nghiệm), (quan
sát), (phân tích), (áp dụng).
* Các bƣớc dạy học theo góc
Bƣớc 1: Lựa chọn nội dung bài học phù hợp.
Bƣớc 2: Xác định nhiệm vụ cụ thể cho từng góc.

23


Bƣớc 3: Thiết kế các hoạt động để thực hiện nhiệm vụ ở từng góc bao gồm
phƣơng tiện / tài liệu (tƣ liệu nguồn, văn bản hƣớng dẫn làm việc theo góc; bản
hƣớng dẫn theo mức độ hỗ trợ, bản hƣớng dẫn tự đánh giá,…)
Bƣớc 4: Tổ chức thực hiện học theo góc – HS đƣợc lựa chọn góc theo sở thích
– HS đƣợc học luân phiên tại các góc theo thời gian quy định (ví dụ 10’ – 15’
tại mỗi góc) để đảm bảo học sâu.
Bƣớc 5: Tổ chức trao đổi/ chia sẻ (thực hiện linh hoạt): Tiêu chí học theo góc
1. Tính phù hợp
2. Sự tham gia
3. Tƣơng tác và sự đa dạng
* Một số lƣu ý của dạy học theo góc: Chọn nội dung bài học phù hợp với đặc
trƣng của học theo góc. Chuẩn bị đầy đủ các thiết bị, tƣ liệu phù hợp với nhiệm
vụ học tập mỗi góc. Đảm bảo cho HS thực hiện nhiệm vụ luân phiên qua các
góc (Học sâu và học thoải mái)

còn lại.
– HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao.
– HS/nhóm HS trình bày kết quả.
– Gv hƣớng dẫn cả lớp cùng bình luận, đánh giá
3.3.2. Cơ cấu nội dung môn học theo hƣớng tích cực hóa
Bài học
Bài 20
Khái quát
về động
cơ đốt
trong

Mục tiêu
- Trình bày đƣợc
khái niệm và cách
phân loại ĐCĐT.
- Trình bày dƣợc
cấu tạo chung của
ĐCĐT.

Nội dung chính
- Sơ lƣợc lịch sử phát
triển của ĐCĐT
- Khái niệm và phân
loại ĐCĐT
- Cấu tạo chung của
ĐCĐT

Bài 21
Nguyên

diễn giảng, giải thích để HS
biết động cơ đốt trong đƣợc
cấu tạo gồm những bộ phận
chính nào.
-PP trực quan (chiếu một đoạn
phim về hoạt dộng của piston
trong xylanh) kết hợp với diễn
giảng, giải thích để làm rõ một
số khái niệm cơ bản của động
cơ đốt trong.
-Kỹ thuật mảnh ghép đƣợc vận
dụng để tim hiểu nguyên lý
làm việc của động cơ diesel 4
kỳ.
-Kỹ thuật khăn phủ bàn: GV tổ
chức hoạt động học tập của học
sinh theo kỹ thuật khăn phù
bàn để tìm hiểu nguyên lý làm
việc của động cơ 2 kỳ.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status