SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị : THPT Thống Nhất A
Mã số: ............................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
VIỆT NAM LỚP 10
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Dung
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn: Lịch sử
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác: ..................................
Có đính kèm:
Mô hình
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác: ..................................
Có đính kèm:
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Năm học 2016– 2017
Hiện vật khác
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy Dung
2. Ngày tháng năm sinh: 19/ 05/1980
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Ấp 5- Sông Trầu. Trảng Bom- Đồng Nai.
5. Điện thoại:
(CQ)/
phát triển. Nghị quyết trung ương 5 ( khóa XI) đã khẳng định: văn hóa Việt Nam
là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam
sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước... là kết quả giao lưu và tiếp
thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình.
Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm
rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.
- Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, một mặt thúc đẩy người lao
động không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của xã hội, mặt khác do xu thế toàn cầu hóa, với sự du nhập của
các yếu tố ngoại lai, lối sống thực dụng và những mặt trái của nền kinh tế thị
trường đã làm băng hoại những giá trị văn hóa truyền thống của đất nước.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới cũng từng khẳng định rằng:
Văn hóa soi đường cho quốc dân đi, dân tộc Việt Nam tồn tại được là nhờ có sức
mạnh của văn hóa và Hồ Chí Minh là người đã mở ra một nền văn hóa mới cho
dân tộc Việt Nam, Văn hóa Hồ Chí Minh mang âm hưởng hào hùng của cả nhân
loại trong sự nghiệp giải phóng con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta đã
làm rạng rỡ dân tộc Việt Nam bằng sự nghiệp văn hóa của chính mình.
- Tuy nhiên hiện nay, tình trạng suy thoái đạo đức lối sống đang diễn ra ngày càng
nhiều, biểu hiện của sự suy đồi về văn hóa đang diễn ra đâu đó trong nhà trường,
gia đình và xã hội, đó là hiện tượng học sinh gặp thầy cô không chào, là những
người con hất hủi khi cha mẹ già yếu, là lối sống buông thả, sống thử ở một bộ
phận thanh thiếu niên, là sự suy thoái về mặt đạo đức nhân cách của một bộ phận
nhỏ trong hàng ngũ cán bộ đảng viên...như vậy văn hóa đã và đang có sự suy
thoái .Chính vì lý do đó mà những giáo viên như chúng tôi luôn trăn trở, suy tư.
Làm sao góp phần ngăn chặn tình trạng đó, làm sao để văn hóa trở về đúng nghĩa
của nó là nền tảng tinh thần cho sự phát triển của xã hội. Là giáo viên, nhiệm vụ
chủ yếu của chúng tôi là giảng dạy cho nên thông qua các bài dạy của mình tôi đã
có gắng lồng ghép để giáo dục về đạo đức, về văn hóa cho học sinh. Đây là vấn
đề khiến tôi phải suy tư nhiều năm qua, vì vậy tôi quyết định viết đề tài sử dụng
di sản văn hóa trong dạy học lịch sử lớp 10. Đề tài này sẽ giúp tôi và các đồng
lực.
+ Phát triển sự nghiệp văn hóa nghệ thuật: khuyến khích tìm tòi, thể hiện mọi
phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích
cho công chúng. Chăm sóc đời sống vật chất tinh thần, tạo điều kiện và việc
làm cho giới văn nghệ sĩ. Làm tốt công tác bảo vệ bản quyền tác giả.
+ Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa: Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn
kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, nên phải hết sức coi trọng,
bảo tồn và kế thừa phát huy những giá trị văn hóa truyền thống.
+ Phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ.
+ Bảo tồn phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
+ Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa
- Trước sự định hướng của Đảng, việc giáo dục văn hóa hiện nay càng được coi
trọng hơn, bộ giáo dục cũng tổ chức các đợt tập huấn cho giáo viên về giáo dục
di sản văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giáo viên trong việc giáo dục di
sản ở nhà trường phổ thông. Từ đó việc tích hợp giáo dục văn hóa diễn ra nhiều
hơn trong các bài dạy của giáo viên trong đó đặc biệt là giáo viên dạy sử như
chúng tôi. Nhờ vậy mà các bài học lịch sử cũng không còn nhàm chán như
trước đây.
-3-
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1. Một số nét chính về di sản văn hóa của Việt Nam.
- Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn
hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học
được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Di sản văn hóa Việt Nam là những
giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu và kế thừa từ những nền văn minh nhân
loại, Di sản văn hóa Việt Nam đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể có sức sống
mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam .
+ 3 di sản thông tin tư liệu thế giới: Mộc bản Triều Nguyễn; 82 bia đá trong Văn
Miếu quốc Tử Giám; Mộc bản kinh phật chùa Vĩnh Nghiêm.
-4-
+ 8 khu dự trũ sinh quyển thế giới: Rừng ngập mặn Cần Giờ; Đảo Cát Bà; Khu dự
trữ sinh quyển ven biển và Biển đảo Kiên Giang; Khu dự trữ sinh quyển đồng bằng
châu thổ sông Hồng; Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An; Khu dự trữ sinh
quyển Cà Mau; Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm; Khu dự trữ sinh quyển Đồng
Nai
+ Di sản thiên nhiên thuộc mạng lưới công viên địa chất toàn cầu: Cao nguyên đá
Đồng Văn.
+ Ngoài ra còn hơn 3000 di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia.
Mọi di sản đều có giá trị khác nhau, di sản rất gần gũi với chúng ta nên cần khai
thác một cách trực tiếp, có hiệu quảDi sản văn hóa phi vật thể thường gắn bó một
cách chặt chẽ với di sản vật thể và di sản thiên nhiên, di sản văn hóa phi vật thể có
ở mọi nơi trong cuộc sống, gắn kết di sản văn hóa phi vật thể với giáo dục ở trường
phổ thông giúp cho các bài học sinh động, cảm xúc và có ý nghĩa giáo dục sâu sắc.
Đồng thời giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về việc bảo vệ di sản. Một di sản có
thể tích hợp nhiều giá trị thuộc các lĩnh vực khác nhau, việc nhận dạng các giá trị
đó, liên hệ thực tiễn và gắn kết với mục tiêu giảng dạy trong nhà trường giúp việc
truyền đạt sinh động, nhẹ nhàng hơn.
2.Một số di sản có thể sử dụng trong môn lịch sử lớp 10 phần Việt Nam
Sau nhiều năm giảng dạy môn sử lớp 10, tôi nhận thấy có nhiều di sản cần được
đưa vào tích hợp trong các bài học lịch sử của lớp 10, sau đây tôi xin liệt kê các di
sản thường được sử dụng trong chương trình lịch sử lớp 10 thông qua bảng thống
kê sau:
Bài số
Tên bài
Long( Hà Nội)
18
Công cuộc xây dựng và phát Lễ Cày ruộng Tịch Điền, Làng nghề
triển kinh tế trong các thế kỉ X- Bát Tràng( Hà Nội)
XV
19
Các cuộc kháng chiến từ thế kỉ Di tích phòng tuyến Sông Như
X- XV
Nguyệt(Bắc Ninh) Di tích bến Đông
Bộ Đầu ( Hà Nội).Di tích Lam Sơn
-5-
ở Thanh Hóa.
20
Xây dựng và phát triển văn hóa Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà
dân tộc trong các thế kỉ X-XV
Nội , Múa rối nước.
21
Sự biến đổi của Nhà nước Di tích thành Nhà Mạc ở Lạng Sơn,
phong kiến trong các thế kỉ Di tích sông Gianh Lũy Thầy ở
XVI-XVIII.
Quảng Bình.
26
Tình hình xã hội và phong trào Di tích Gia định thành
đấu tranh của nhân dân
3. Một số phương pháp giúp học sinh tiếp cận di sản trong chương trình lịch
sử Việt Nam lớp 10.
Giáo dục di sản có 2 cách đó là khai thác, sử dụng tài liệu về di sản để tiến hành
bài học ở trưởng phổ thông và tiến hành bài học tại nơi có di sản, tuy nhiên thực tế
tại các trường phổ thông hiện nay việc tiến hành bài học tại nơi có di sản không dễ
thực hiện do đó mà đa số giáo viên dạy sử như chúng tôi đều đang sử dụng phương
pháp sử dụng tài liệu về di sản để tiến hành bài học tại trường. Sau đây tôi xin giới
thiệu các phương pháp cụ thể thường sử dụng để giáo dục di sản qua trong nội
dung của các bài lịch sử Việt Nam lớp 10 .
* Bài 13: Việt Nam thời nguyên thủy
- Trong bài học này giáo viên sử dụng di sản Văn hóa Sơn Vi( Phú Thọ) để cho học
sinh tìm hiểu trước, giáo viên chốt ý kết luận.
-6-
Qua bài học này giáo viên giáo dục cho học sinh về di sản này như sau:
Văn hóa Sơn Vi –thuộc giai đoạn hầu kì đồ đá cũ trong lịch sử nước ta, thuộc xã
Sơn Vi, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Các nhà khảo cổ đã tìm được nhiều
công cụ lao động bằng đá được ghè đẽo của con người thời nguyên thủy.Thể
hiện bước tiến rõ rệt trong kĩ thuật chế tác đá, qua đó các em phải biết trân
trọng những giá trị văn hóa trong lịch sử dân tộc ta.
*Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam.
- Trong bài này tôi sử dụng 2 di sản là Trống đồng Đông Sơn và tín ngưỡng thờ
Qua Di tích này giáo viên sẽ giáo dục học sinh nội dung sau đây:
Sông Bạch Đằng là con sông chảy giữa hai tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng, là
đường thủy tốt nhất để đi vào Thăng Long xưa. Hiện nay có 2 bãi cọc được
phát hiện, cọc được làm bằng gỗ lim, gỗ táu dài từ 2m đến 2,8m được cắm
theo hình chữ chi xuống lòng sông. Bạch Đằng gắn liền với 3 chiến công của
dân tộc ta đó là trận thủy chiến năm 938 của Ngô Quyền đánh tan quân Nam
Hán, trận thủy chiến năm 981 của Lê Hoàn đánh tan quân Tống và trận thủy
chiến năm 1288 của Trần Quốc Tuấn đánh tan quân Mông- Nguyên. Hiện nay
ở cửa sông Bạch Đằng có 3 ngôi đền thờ 3 vị anh hùng Ngô Quyền, Lê Đại
Hành và Trần Quốc Tuấn.Qua đó các em có thể tự hào về truyền thống đấu
tranh hào hùng của dân tộc ta, phải biết tôn kính đối với các anh hùng dân
tộc.
* Bài 17: Qúa trình hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến.
- Di sản được sử dụng trong bài học này là Di tích Hoàng Thành Thăng Long.
- Trước khi học bài này tôi giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà tìm hiểu về di tích
Hoàng Thành Thăng Long. Trong tiết dạy giáo viên cho học sinh lên trình bày về
Di tích Hoàng Thành Thăng Long tại Hà Nội ngày nay , sau đó giáo viên bổ sung
chốt ý và kết luận về di tích.
-9-
-10-
Một số hình ảnh về Di tích Hoàng Thành Thăng Long
Qua bài học này giáo viên giáo dục cho học sinh về di sản Hoàng Thành
Thăng Long như sau:
-12-
Lược đồ trận Như Nguyệt năm 1077
Hình ảnh về bến đò Như nguyệt ( Bắc Ninh)
-13-
Trước khi tìm hiểu bài học này giáo viên sẽ chuẩn bị sẵn bản đồ sông Như nguyệt,
sau đó gọi học sinh lên xác định trên bản đồ và rình bày về trận đánh trên sông
Như Nguyệt, giáo viên bổ sung chốt ý, kết luận.
Sông Như Nguyệt( sông cầu ngày nay) thuộc tỉnh Bắc Ninh, là nơi Lý Thường Kiệt
đánh bại quân Tống năm 1077. Tại đây Lý Thường Kiệt đã cho xây dựng phòng
tuyến vững chắc bên bờ sông đánh bại quân của Quách Qùy. Ngày nay các em
hãy tự hào về truyền thống đấu tranh kiên cường của dân tộc ta,kính trọng đối với
các vị anh hùng có công với đất nước
.
* Bài 20: Xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc trong các thế kỉ X-XV
- Di sản sử dụng trong bài này là Văn Miếu Quốc Tử Giám
-14-
Một số hình ảnh về Văn Miếu Quốc Tử Giám
Trước khi tìm hiểu bài học này giáo viên sẽ cho học sinh về nhà tìm hiểu về di tích
Văn Miếu ( Hà Nội).Sau đó gọi đại diện học sinh lên trình bày, giáo viên kết luận.
Qua bài học này giáo viên sẽ giáo dục cho học sinh về di tích này như sau:
Văn Miếu Quốc Tử Giám ở tại Hà Nội ngày nay là công trình được xây dựng để
thờ Khổng Tử, được xây dựng dưới triều nhà Lý. Nằm ở phía Nam kinh thành
tượng vua Quang Trung rất to lớn.Các em phải biết tôn kính đối với các vị anh
hùng của đất nước, biết tự hào về những chiến công hiển hách của cha ông ta .
* Bài 24: Tình hình văn hóa trong các thế kỉ XVI-XVIII
- Di sản sử dụng trong bài này là Chùa Thiên Mụ.
- Đối với bài học này giáo viên sẽ giao cho học sinh về nhà tìm hiểu trước về di
tích Chùa Thiên Mụ( Huế), sau đó gọi học sinh lên trình bày,giáo viên kết luận,
chốt ý như sau.
-17-
Chùa Thiên Mụ hay còn gọi là chùa Linh mụ, được xây dựng dưới đời chúa
Nguyễn,nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương.Với cảnh quan thiên
nhiên thơ mộng chùa Thiên Mụ trở thành ngôi chùa đẹp nhất đất Đàng
Trong.Ngày nay các em phải biết trân trọng đối với những công trình văn
hóa của đất nước ta. Các em có quyền tự hào về những công trình đó.
Bài 25: Tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa dưới triều Nguyễn.
- Di sản sử dụng trong bài này là Quần thể kiến trúc cố đô Huế và Nhã nhạc cung
đình Huế.
-18-
Một số hình ảnh về Cố đô Huế
Qua bài học này giáo viên giáo dục cho học sinh về di sản này như sau:
Quần thể kiến trúc Cố Đô Huế là kinh đô của triều đại Nhà Nguyễn, là một kinh
đô có tính chất phòng thủ, xây dựng theo kiểu mẫu của Trung Quốc. Gồm có
Hoàng Thành, Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Vườn Thượng uyển, Thế Miếu…cố đô
Huế đã được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa của thế giới. Nhã
nhạc cung đình là một loại hình âm nhạc thường được biểu diễn trong triều đình
thông, các cơ quan báo đài, để quảng bá về di sản có trên địa bàn. Thông qua việc
phát triển du lịch gắn với di sản để từ đó có nhiều người , nhiều quốc gia trên thế
giới biết đến di sản Việt Nam.
- Phối hợp tốt với các ngành chức năng, Sở văn hóa thể tghao và du lịch trong
công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa lịch sử tại các địa phương.giám sát
chặt chẽ các lễ hội lớn, không để xảy ra hiện tượng biến chất trong lễ hội, bài trừ
dần các hủ tục lạc hậu còn sót lại có hại đến đời sống văn hóa tinh thần của nhân
dân. Khôi phục và phát huy các nghề thủ công dân gian của các đặc trưng của
từng địa phương.
- Trong các trường học cần tăng cường giáo dục về di sản văn hóa địa phương cho
học sinh, thông qua việc hiểu rõ về di sản các em sẽ có ý thức giữ gìn, bảo về về
các di sản văn hóa đặc sắc của đất nước ta, từ đó các em thấy được trách của
thanh niên và học sinh trong việc bảo vệ di sản.
- Bản thân mỗi người chúng ta khi đến tham quan học tập tại di sản hay khi tham
gia các dịp lễ hội cần nâng cao hiểu biết của mình về lễ hội đó, không tham gia
vào việc tranh cướp lộc, không xả rác bừa bãi tại các di tích, không cổ vũ cho các
hoạt động mê tín dị đoan, như vậy là đã góp phần nhỏ của mình vào việc bảo vệ
di sản. là một giáo viên tôi nhận thức sâu sắc về ý nghĩ của di sản đối với đời
sống của văn hóa tinh thần của người Việt nam, do đó tôi rất quan tâm đến vấn đề
này, rất băn khoăn trước sự mai một dần của di sản, vì vậy thông qua các bài học
lịch sử dù ít hay nhiều tôi đều giáo dục về di sản nào đó cho học sinh .
-20-
IV.HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
- Cuối năm học 2015-2016, sau khi đã dạy xong nội dung lịch sử Việt Nam,
tôi đã tiến hành khảo sát mức độ yêu thích của học sinh các lớp 10a4, 10a5, 10a6,
và thu được kết quả như sau:
Mức độ
80%
10%
5%
5%
- Với kết quả đó đã cho thấy học sinh hứng thú và tích cực hơn trong tiết học
nhờ việc tích hợp giáo dục di sản trong bài học lịch sử, đây là một sự thay đổi lớn,
sự thay đổi này sẽ rất cần thiết trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay.
- Mục đích chính của giảng dạy môn sử là giáo dục tư tưởng chính trị cho học
sinh, mà giáo dục văn hóa là nhiệm vụ chính trị của giáo viên dạy sử như chúng ta.
- Giáo dục di sản thông qua bài học lịch sử giúp học sinh chủ động hơn, tích
cực hơn. Từ các hoạt đọng như chuẩn bị bài, phân công người thực hiện và làm
việc với di sản đã giúp học sinh có thể tự tìm tòi, khám phá, liên hệ kiến thức.
Được tự chủ ttrong công việc, tự hoàn thành báo cáo hoặc sản phẩm do tự mình
hoặc nhóm tạo ra càng khuyến khích học sinh làm việc tích cực, nhiệt tình hơn.Từ
đó tác động mạnh đến tâm tư tình cảm học sinh nên có tác dụng giáo dục rất cao.
- Sử dụng di sản trong dạy học môn sử còn giúp học sinh rèn luyện rất nhiều kĩ
năng như kĩ năng hoạt động nhóm, kĩ năng quan sát, kĩ năng xử lý tình huống, kĩ
năng tư duy phê phán...đây là những kĩ năng cần thiết cho các em trong cuộc sống
sau này.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
- Giáo viên có thể sử dụng các nội dung này để áp dụng vào hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh, giáo viên chủ nhiệm không thuộc các bộ môn
khác cũng có thể sử dụng chuyên đề này để giáo dục cho học sinh về bảo vệ di sản
văn hóa. Việc giáo dục di sản là nhiệm vụ chính trị quan trọng mà tất cả giáo viên
như chúng ta cần phải thực hiện một cách tốt nhất.
7. Giáo dục và thi cử Việt Nam- Phan Ngọc Liên- Nxb từ điển Bách Khoa,
năm 2006.
8. Bộ Văn hóa, thể thao vè du lịch – xây dựng nền văn hóa tiên tiến
<bvhttdl.gov.vn/vn/vb/qly-nn/1/595/index.html>
-22-