ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VIẾT TÙNG
GIÁO DỤC DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC
ĐỊA LÝ LỚP 12
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Địa lý
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phương Liên
Thái Nguyên - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện, dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Phương Liên.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng. Kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên
cứu nào khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Viết Tùng
Danh mục các bảng ........................................................................................ v
Danh mục sơ đồ, hình vẽ ................................................................................ v
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
NỘI DUNG ................................................................................................. 10
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC
DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 12 THPT .......... 10
1.1. Cơ sở lý luận ...................................................................................... 10
1.1.1. Phương pháp dạy học ...................................................................... 10
1.1.2. Di sản văn hóa................................................................................. 13
1.1.3. Hệ thống các di sản ở Việt Nam ...................................................... 15
1.1.4. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học địa lí
nói chung và địa lí lớp 12 nói riêng........................................................... 17
1.1.5. Đặc điểm tâm sinh lý và trình độ nhận thức của học sinh lớp 12 ..... 21
1.2. Cơ sở thực tiễn .................................................................................. 23
1.2.1. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ........................................... 23
1.2.2. Đặc điểm chương trình sách giáo khoa địa lý lớp 12 ....................... 24
1.2.3. Thực trạng dạy học địa lý trong nhà trường phổ thông và việc lồng ghép
giáo dục di sản văn hóa trong dạy học địa lí cho học sinh lớp 12 hiện nay ........ 29
Chương 2: XÁC ĐỊNH NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC DI
SẢN VĂN HÓA QUA MÔN ĐỊA LÝ LỚP 12 THPT .............................. 32
2.1. Khả năng giáo dục giá trị di sản văn hóa trong dạy học Địa lý 12 ...... 32
iii
2.2. Xác định nội dung giáo dục di sản văn hóa qua môn địa lý lớp 12 THPT .. 33
2.2.1. Mục tiêu giáo dục di sản văn hóa cho học sinh lớp 12 ..................... 33
2.2.2. Nguyên tắc xác định nội dung giáo dục di sản văn hóa qua bài
dạy Địa lí 12 ........................................................................................... 33
2.2.3. Các yêu cầu của việc giáo dục di sản văn hóa qua môn địa lí .......... 35
KẾT LUẬN............................................................................................... 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 107
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
BGDĐT
Bộ giáo dục đào tạo
DA
Dự án
GD
Giáo dục
DHDA
Dạy học dự án
DSVH
SGK
Sách giáo khoa
THPT
Trung học phổ thông
TN
Thực nghiệm
TW
Trung ương
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Các nội dung cụ thể giáo dục di sản văn hóa trong chương trình
sách giáo khoa địa lí 12 ................................................................................ 40
Bảng 2.2. Đáp án trò chơi ô chữ kì diệu ....................................................... 56
Bảng 2.3. Công việc của giáo viên và học sinh trong tổ chức dạy học dự án
địa lý ............................................................................................................ 73
Bảng 3.1. Danh sách trường, lớp tham gia thực nghiệm sư phạm ................. 97
Bảng 3.2. Danh sách giáo viên dạy thực nghiệm .......................................... 98
Bảng 3.3. Bảng phân phối điểm kiểm tra trắc nghiệm về tình trạng nhận thức
của lớp thực nghiệm và đối chứng ở 3 trường THPT.................................. 100
đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho
sự phát triển của xã hội”.[10]
Giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích và danh thắng nói riêng là vô
cùng to lớn, song điều quan trọng hơn cả là việc bảo tồn và phát huy những giá trị
của nó như thế nào để phát triển mang tính bền vững trong giai đoạn hiện nay mới
chính là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm đúng mức của các ngành, các cấp, nhất
là những người làm công tác quản lý và giáo dục văn hóa hiện nay.
Vấn đề bảo tồn các di sản văn hoá của dân tộc luôn đi cùng với giáo dục,
trong đó giáo dục di sản văn hoá là một phần không thể thiếu trong chương trình
giáo dục. Đặc biệt, Địa lý là môn học có nhiều thuận lợi về giáo dục tình yêu quê
hương đất nước, trong đó các kiến thức về di sản văn hóa có vai trò cực kì quan
trọng. Tuy nhiên nội dung kiến thức và hình thức tổ chức dạy học di sản văn hóa
vẫn còn chiếm một tỉ lệ nhỏ trong các bài giảng địa lý. Bên cạnh đó, việc nắm các
1
kiến thức về di sản văn hóa của giáo viên còn chưa sâu, chưa rộng đã phần nào ảnh
hưởng đến chất lượng học tập của học sinh. Do đó, việc cung cấp và bổ sung kiến
thức di sản văn hóa cho học sinh còn nhiều hạn chế, đây là vấn đề cần được khắc
phục. Việc đưa kiến thức giáo dục di sản văn hóa vào trong dạy học địa lý sẽ góp
phần làm giàu tình yêu quê hương đất nước trong tâm hồn các em. Đồng thời, bài
giảng địa lý có sự liên hệ, chứng minh bằng thực tiễn nơi các em đang sống và học
tập sẽ trở nên hấp dẫn và có tính thuyết phục với học sinh hơn.
Ở nước ta, vấn đề giáo dục di sản văn hóa ở các trường phổ thông hiện nay
đã được chú ý nhiều hơn. Trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010 2020, khẳng định mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng của việc giáo dục di sản văn hóa
cho học sinh phổ thông. Tại hội thảo giáo dục di sản trong nhà trường do UNESCO
tổ chức đầu tháng 3 - 2012 nhấn mạnh việc “đưa chương trình giáo dục di sản vào
nhà trường là cần thiết”.
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục di sản văn
Tác giả Ngô Phương Thảo viết bài “Bảo vệ di sản, cuộc chiến từ những góc
nhìn” đăng ở Tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 289 tháng 07/2008. Bài viết đã đề cập
trực tiếp đến vấn đề bảo vệ di sản văn hóa hiện nay. Theo tác giả thì “Mỗi ngày, di
sản văn hoá càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất phát từ những hệ lụy của cuộc
sống hiện đại. Cũng mỗi ngày, ý thức về trách nhiệm phải gìn giữ các giá trị văn
hoá đã tồn tại với thời gian càng lan toả sâu rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng
đồng để dẫn tới những chương trình dự án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn
giữ các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể”. [23]
* Những công trình nghiên cứu liên quan đến việc giáo dục di sản văn hóa ở
trường phổ thông
Hội thảo “Giáo dục di sản trong nhà trường tại Việt Nam” do văn phòng
UNESCO tại Hà Nội và Trung tâm Nghiên cứu và phát huy Di sản văn hóa (CCH)
thuộc Hội Di sản văn hóa Việt Nam tổ chức vào tháng 3/2012.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục
của bảo tàng đối với học sinh phổ thông (Nghiên cứu trường hợp Câu lạc bộ “em
yêu lịch sử” tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)” của Th.s Nguyễn Thị Kim Thành (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia), là một công trình khảo sát khá sâu rộng, công phu
trong việc giáo dục di sản văn hóa, nhằm giáo dục thế hệ trẻ về tình yêu quê hương,
đất nước, bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc.
3
Bên cạnh đó, cuốn “Bảo tàng, di tích - nơi khơi nguồn cảm hứng dạy và học
lịch sử cho học sinh phổ thông” (Nxb Giáo dục Việt Nam, 2014) [22], tác giả
Nguyễn Thị Kim Thành đã trình bày rất khái quát, dễ hiểu về mối quan hệ bổ trợ
giữa việc truyền thụ kiến thức lịch sử trong nhà trường với phương pháp tiếp cận
mới trong việc dạy và học Lịch sử từ bảo tàng và di tích. Trên cơ sở bám sát nội
dung chương trình SGK hiện hành, có sự cập nhật, bổ sung những vấn đề mới theo
định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của nước ta.
Trong thời gian qua, còn có một số bài viết nghiên cứu về việc sử dụng di
điểm tổng hợp xem xét các yếu tố trong mối quan hệ tương tác, sự tác động qua lại
giữa giáo dục và thực tiễn nghiên cứu cũng như trong mối quan hệ chặt chẽ của toàn
hệ thống giáo dục.
Quan điểm này giúp tác giả nghiên cứu một cách tổng quan việc giáo dục di
sản văn hóa cho học sinh ở trường phổ thông, thông qua việc xác định các nội dung,
phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục cho học sinh.
- Quan điểm hệ thống - cấu trúc: Tính hệ thống là một trong những quan điểm
không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học nói chung, cũng như khi nghiên cứu khoa học
địa lý. Bất kỳ một nội dung kiến thức nào khi nghiên cứu đều phải được đặt trong mối
tương quan với các yếu tố thuộc hệ thống cấp cao hơn và trong cấp phân vị thấp hơn.
Giáo dục di sản văn hóa là một bộ phận trong việc đổi mới phương pháp dạy
học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, nó bao gồm nhiều
thành phần, các thành phần có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau.
- Quan điểm lịch sử: Bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng có một quá trình
hình thành, phát triển… Quan điểm lịch sử - viễn cảnh cho ta cái nhìn đầy đủ, toàn
diện về quá khứ, hiện tại cũng như dự đoán được tương lai của sự vật, hiện tượng.
Quan điểm này được tác giả sử dụng trong nghiên cứu đề tài, việc giáo dục di sản
văn hóa trong nhà trường phổ thông nói chung và qua môn Địa lý nói riêng, cho ta
một cái nhìn sâu sắc, toàn diện về thực trạng và phương pháp giáo dục hiện nay. Bên
cạnh đó, việc giáo dục DSVH còn giúp truyền thụ cho HS (học sinh) những kiến thức
cần thiết, rèn luyện kĩ năng thực hành, hình thành thái độ, tình cảm, ý thức bảo vệ bản
sắc văn hóa dân tộc, đồng thời nâng cao hứng thú học tập bộ môn Địa lí cho HS.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lí thông tin
Việc thu thập tài liệu được thực hiện dựa vào mục đích và nhiệm vụ
nghiên cứu của đề tài. Các nguồn tài liệu gồm sách báo, tạp chí chuyên ngành,
5
6
nhằm đánh giá tính khả thi của đề tài trong việc giáo dục kiến thức di sản văn hóa
vào dạy học địa lý lớp 12.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để kiểm chứng tính khoa học và thực tiễn của đề tài, tác giả đã tiến hành
thực nghiệm sư phạm ở một số trường phổ thông, việc thực nghiệm được tiến hành
bằng cách tác giả trực tiếp giảng dạy hoặc nhờ một số giáo viên có kinh nghiệm ở
một số trường phổ thông giảng dạy theo giáo án do tác giả thiết kế. Tiến hành thực
nghiệm đối chứng, sau đó dùng phiếu thăm dò, lấy ý kiến của giáo viên và học sinh
nhằm kiểm nghiệm các kết quả lý thuyết mà đề tài đưa ra. Phân tích các kết quả
thực nghiệm thu được, rút ra những nhận định cần thiết và từ đó đề ra một số kiến
nghị giúp cho việc giáo dục di sản văn hóa nói riêng, cũng như địa lý nói chung đạt
được hiệu quả như mong muốn.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận và thực tiễn của giáo dục giá trị di sản văn hóa, đề tài tập
trung vào việc xác định nội dung và phương pháp giáo dục di sản văn hóa qua môn
địa lý lớp 12 THPT. Từ đó, đề xuất một số hình thức tổ chức, biện pháp giáo dục di
sản văn hóa theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh nhằm nâng cao chất
lượng dạy học địa lý ở trường phổ thông hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục di sản
văn hóa trong dạy học địa lí 12.
- Tiến hành điều tra thực tế việc giáo dục di sản văn hóa qua môn Địa lí 12 ở
một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
- Phân tích nội dung chương trình, sách giáo khoa Địa lý lớp 12 để xác định
khả năng và các địa chỉ tích hợp giáo dục di sản văn hóa trong dạy học.
lớp 12 THPT.
8
- Đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên Địa lý nói chung và giáo
viên Địa lý lớp 12 nói riêng.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục di sản văn hóa trong
dạy học địa lý lớp 12 THPT
Chương 2: Xác định nội dung và phương pháp giáo dục di sản văn hóa qua
môn địa lý lớp 12 THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
9
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC
DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 12 THPT
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Phương pháp dạy học
1.1.1.1. Phương pháp
Phương pháp hiểu theo nghĩa chung và rộng nhất là hành vi có mục đích nhất định.
Đó cũng là những cách thức, những con đường mà người ta cần đi theo để đạt được mục
đích. Theo cách hiểu như vậy thì phương pháp dạy học là những cách thức tương tác giữa
giáo viên và học sinh có liên quan đến các hoạt động dạy và học, nhằm mục đích giáo dục
và trau dồi học vấn cho thế hệ trẻ. [12, tr.98]
Phương pháp dạy học tích cực thực chất là cách hướng tới việc học tập tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo, chống lại thói quen học tập thụ động của học sinh. Nhiệm vụ chủ
yếu của giáo viên trong PPDH tích cực là trở thành người thiết kế, tạo điều kiện phát huy
tính độc lập, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập. Học sinh được thách thức và
tham gia một cách tích cực trong suốt quá trình học tập.
-
Tổ
chức
THẦY
quá
trình
nhận
thức
- Động cơ, hứng
thú, lạc quan.
Thiết
kế.
Chủ
-
-
-
1.1.1.3. Quan niệm về dạy học tích hợp
Trên thế giới và tại Việt Nam, dạy học tích hợp đã trở thành một xu hướng giáo dục
hiện đại. Đặc điểm nổi bật của xu hướng giáo dục hiện nay là mọi hoạt động giáo dục đều
hướng vào người học dựa trên nền kiến thức được tích hợp từ nhiều môn khoa học liên
ngành, những giá trị nhân văn được đặc biệt quan tâm.
Về phương diện lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách
hữu cơ, có hệ thống các kiến thức trong một môn học hoặc giữa các môn học thành
một nội dung thống nhất.
Trong dạy học tích hợp, các nhà giáo dục học phân chia ra thành hai loại tích
hợp: tích hợp dọc và tích hợp ngang.
Tích hợp dọc là loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học
thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau. [14]
Tích hợp ngang là tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập,
nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau.[14]
Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội
dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từ
trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào
những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung GD (giáo dục) dân
số, GD môi trường, GD di sản… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền
thống.
Bên cạnh đó, còn có một số phương thức và mức độ tích hợp khác như:
+ Tích hợp liên môn là mức độ tích hợp theo chủ đề, ở đó chứa đựng các nội
dung gần nhau của các môn học.
+ Tích hợp xuyên môn là tích hợp bằng cách thiết kế các môn học mà ở đó
có sư tích hợp nhiều lĩnh vực khoa học.
+ Tích hợp toàn phần: được thực hiện khi hầu hết các kiến thức của môn
học hoặc nội dung của một bài học cụ thể, cũng chính là các kiến thức về chủ đề
tích hợp.
phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.
Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó
13
mà loài người đã sản sinh ra. Nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi của sự sinh tồn”. [19, tr.431]
Định nghĩa văn hóa được cộng đồng thế giới sử dụng nhiều và được nhiều
người trích dẫn hơn cả là định nghĩa của UNESCO: “Văn hóa là tổng thể những nét đặc
thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và cảm xúc quy định tính cách của một xã hội hay một
nhóm xã hội nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn,
vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa
đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá
trị, truyền thống và đức tin”. [17]
Như vậy, có thể khẳng định rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người
sáng tạo ra trên nền tảng của thế giới tự nhiên.
1.1.2.3. Khái niệm di sản văn hóa
Trên bình diện quốc tế năm 1989, UNESCO đã định nghĩa DSVH như sau: “Di sản
văn hóa là tập hợp những biểu hiện vật thể hoặc biểu tượng di sản quá khứ truyền
lại cho mỗi nền văn hóa, và do đó là của toàn thể nhân loại. Là một phần của việc
khẳng định cũng như làm giàu thêm bản sắc văn hóa, là một dạng di sản nhân loại,
di sản văn hóa mang lại những đặc điểm riêng cho mỗi địa danh cụ thể, và vì thế nên
là nơi cất giữ kinh nghiệm con người. Việc bảo tồn và giới thiệu DSVH này là cốt lõi
của mọi chính sách văn hóa.” [2, tr.14]
Luật DSVH của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: "Di sản
văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh
thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua
thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam". [7, tr.12]
1.1.2.4. Phân loại di sản văn hóa
1.1.3. Hệ thống các di sản ở Việt Nam
Tính đến năm 2015, Việt nam có:
7 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới. Trong đó có:
+ 5 di sản văn hóa vật thể của thế giới gồm:
Quần thể di tích Cố đô Huế được công nhận năm 1993.
Phố Cổ Hội An được công nhận năm 1999.
15
Thánh địa Mỹ sơn được công nhận năm 1999.
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long được công nhân năm 2010.
Thành nhà Hồ được công nhận năm 2011.
Quần thể danh thắng Tràng An được công nhận năm 2015 (di sản hỗn hợp).
+ 2 di sản thiên nhiên thế giới gồm:
Vịnh Hạ Long được công nhận hai lần: năm 1994 được công nhận là si sản thiên
nhiên thế giới và năm 2000 là di sản địa chất thế giới. Năm 2012, Vịnh Hạ Long được công
nhận là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới mới.
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận năm 2003.
9 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại bao gồm:
Nhã nhạc cung đình Huế được công nhận năm 2003.
Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây nguyên được công nhận năm 2005.
Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh được công nhận năm 2009.
Ca trù được công nhận năm 2009.
Hội Gióng được công nhận năm 2010.
Hát Xoan được công nhận năm 2011.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công nhận năm 2012.
Đờn ca tài tử Nam Bộ được công nhận năm 2013.
Dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh được công nhận năm 2014.
4 di sản thông tin tư liệu thế giới bao gồm:
tạo công cụ hoặc là nguồn cung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học.
- Trong điều kiện giáo dục hiện nay, nhìn chung các tài liệu về lí luận dạy
học, giáo dục đại cương và tài liệu về lí luận dạy học bộ môn hầu như chưa đề cập
đến điều kiện, phương tiện dạy học là các di sản văn hoá. Gần đây trong phong trào
xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực, một trong những hoạt động
được đặt ra là tổ chức cho học sinh tham gia chăm sóc các di sản, chủ yếu là các di
tích mang tính lịch sử của địa phương. Việc khai thác các di sản văn hoá ở địa phương
như là nguồn tri thức, là phương tiện dạy học.
- Sử dụng di sản trong dạy học giúp cho quá trình học tập của học sinh trở
nên hấp dẫn hơn, học sinh hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắc, phát triển tư duy
17