1. MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật hiện đang là xu thế của nhiều quốc gia
trong thế kỷ XXI. Việt Nam là một trong những quốc gia đó. Ngày nay, nhà
nước ta đã tham gia công ước quốc tế về quyền trẻ em và ban hành Luật bảo vệ
chăm sóc trẻ em Việt Nam, đồng thời ngày 17/04/1995 Thủ tướng Chính Phủ đã
ban hành Nghị định 26/CP giao trách nhiệm tổ chức giáo dục trẻ khuyết tật cho
ngành giáo dục. Từ đó, việc tổ chức giáo dục cho trẻ khuyết tật thuộc các độ tuổi
được đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng của ngành học.
Tuy nhiên, xuất phát từ tư tưởng nhân văn, đảm bảo sự bình đẳng giữa trẻ
với trẻ, đồng thời nhìn nhận vấn đề từ góc độ mục tiêu giáo dục, kinh tế giáo dục
thì phương thức tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ưu việt hơn nhiều.
Các chuyên gia về lĩnh vực giáo dục phục hồi chức năng trẻ khuyết tật
khuyến cáo: Nếu được can thiệp sớm ngay từ lứa tuổi mầm non, quá trình hoà
nhập của trẻ sẽ đạt kết quả khả quan. Việc phát hiện sớm, chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục hòa nhập cho trẻ từ độ tuổi mầm non sẽ tạo nên những “cơ hội
vàng” đối với mỗi trẻ em không may bị khuyết tật. Các kết quả nghiên cứu đã
rất nhiều lần chỉ ra rằng những năm đầu tiên của cuộc đời là rất quan trọng trong
việc học và phát triển. Bằng cách tham gia những lớp học hòa nhập ở trường
bình thường cùng với đội ngũ giáo viên hiểu cách ứng dụng những kĩ thuật và
hoạt động giáo dục, trẻ với những nhu cầu đặc biệt sẽ có một “bắt đầu thuận
lợi" thực sự trong việc hiện thực hóa tiềm năng dồi dào của mình.
Hiện nay ở một số cơ sở mầm non đang tiếp nhận trẻ khuyết t ật hòa nh ập
nhưng chủ yếu là ở hội chứng trẻ tự kỷ, tuy nhiên trong các văn bản qui phạm
pháp luật đối tượng trẻ rối loại tự kỷ chưa được đưa vào danh mục trẻ khuyết tật.
Thực tế tại Việt Nam trong khoảng 15 năm trở lại đây, số lượng trẻ mắc chứng
tự kỷ gia tăng đáng kể và trở thành một vấn đề xã hội rất đáng quan tâm. Trong
khi đó nhận thức của các gia đình, cộng đồng, xã hội về hội chứng này còn thiếu
đầy đủ, thậm chí sai lệch; điều đó gây ra rất nhiều khó khăn cho tr ẻ t ự kỷ trong
việc tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ y tế, giáo d ục và các chính sách an sinh xã
hội. Tại Mỹ, tự kỷ được xếp vào danh mục 13 dạng khuyết tật và vấn đề trẻ tự
phù hợp; chế độ đãi ngộ dành cho giáo viên dạy hòa nhập chưa có; cơ sở vật
chất trang thiết bị, tài liệu dành cho giáo dục hòa nhập thiếu. Đặc biệt là nhận
thức của người dân và cộng đồng về tầm quan trọng của việc can thiệp sớm,
giáo dục hòa nhập cho trẻ em mắc hội chứng tự kỷ ngay từ lứa tuổi mầm non
còn hạn chế.
Để thực hiện tốt công tác giáo dục hòa nhập nhằm tạo cơ hội cho trẻ sớm
hòa nhập cộng đồng ngay từ lứa tuổi mầm non đang trở thành nhu cầu của xã
hội. Vậy làm thế nào để giảm bớt những khó khăn, vượt qua được những trở
ngại để đạt kết quả tốt nhất?
2
Xuất phát từ những lý do trên, cùng với sự tâm huyết và kinh nghiệm của
bản thân nên trong năm học 2016-2017, tôi mạnh dạn lựa chọn nội dung “Một
số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục hòa nhập
trẻ khuyết tật, đặc biệt là hội chứng tự kỷ tại trường mầm non Lam Sơn- TP
Thanh Hóa” là đề tài nghiên cứu cho sáng kiến kinh nghiệm của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Giúp cho việc phát hiện sớm, can thiệp sớm cho trẻ mắc hội chứng tự kỷ
ngay từ lứa tuổi mầm non được tốt hơn. Đồng thời giúp cộng đồng nhận thức sâu
hơn về sự cần thiết phải tạo cơ hội cho trẻ tự kỷ sớm hòa nhập với cộng đồng.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng là trẻ mắc hội chứng tự kỷ học hòa nhập; Công tác quản lý chỉ
đạo các hoạt động giáo dục hòa nhập tại trường mầm non Lam Sơn – Thành phố
Thanh hóa, năm học 2016-2017.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Tham khảo một số văn bản quy định về giáo dục hòa nhập, các tài liệu
về giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam.
- Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục, trong đó trẻ Tự kỷ cùng học
với trẻ em bình thường ngay tại nơi trẻ sinh sống. Giáo dục hòa nhập xuất phát
từ quan điểm xã hội về giáo dục, coi nhà trường như một xã hội thu nhỏ và phản
ánh tính chất đa dạng của xã hội. Vì vậy, môi trường giáo dục trong đó được chú
ý cải thiện sao cho phù hợp với nhu cầu học tập đa dạng của học sinh.
- "Khuynh hướng hòa nhập" (Mainstreaming - tiếng Anh) có nghĩa là giúp
đỡ người khuyết tật sống, học tập và làm việc trong những điều kiện đặc thù, nơi
họ có được cơ hội tốt nhất để trở nên độc lập tới mức mà họ có thể. Khuynh
hướng hòa nhập được định nghĩa như việc hòa nhập trẻ khuyết tật và bình
thường trong cùng một lớp học. Điều này mang lại cho trẻ Tự kỷ cơ hội gia nhập
"xu hướng chính của cuộc sống" bằng việc hướng chúng đến việc lĩnh hội những
kinh nghiệm ở tuổi mầm non từ những bạn bè bình thường đồng trang lứa, đồng
thời cũng đem đến cho trẻ bình thường có cơ hội học tập và phát triển thông qua
việc học hỏi kinh nghiệm từ những mặt mạnh và yếu của những bạn bè tự kỷ.
Do đó, ta có thể hiểu là "hòa nhập" không chỉ mang lại lợi ích cho trẻ tự
kỷ mà còn cho trẻ bình thường. Sự hòa nhập mở ra cơ hội học tập cho cả hai đối
tượng trẻ: Trẻ bình thường và trẻ tự kỷ.
Tuy nhiên, hòa nhập không chỉ đơn giản là đưa trẻ tự kỷ vào trong một
chương trình giáo dục chung với trẻ bình thường. Phải xây dựng kế hoạch hoạt
động rõ ràng để đảm bảo cho trẻ Tự kỷ được tham gia một cách đầy đủ và tích
cực những hoạt động trong lớp học.
2.2 Thực trạng của hoạt động giáo dục trẻ hòa nhập, đặc biệt hội
chứng tự kỷ tại trường mầm non Lam Sơn.
4
2.2.1 Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi
- Trường mầm non Lam Sơn là trường đạt chuẩn quốc gia mức độ II,
trung bình
Tự kỷ ở mức độ
nặng
12 trẻ
3 trẻ /12 = 25 %
6 trẻ /12 = 50 %
3 trẻ/12 = 25 %
5
Bảng 2: Các căn cứ của chỉ số mức độ biểu hiện.
Mức độ
TK
Tự kỷ
mức độ
nhẹ
Biểu
hiện tự
kỷ ở
mức độ
trung
bình
Trẻ có thể
Trẻ có thể
nhìn chằm
giật mình
chằm vào
hoặc che tai
bầu trời,
khi nghe thấy
tránh không
những âm
nhìn vào mắt thanh thường
người lớn, c
ngày.
giữ đồ vật rất
gần với mắt.
Trẻ luôn
tránh không
nhìn vào mắt
người lớn,
Sợ hãi hoặc
căng thẳng
Giao tiếp
không lời
Giaso tiếp
có lời
ít ngay cả so
với trẻ ít tháng
hơn trong tình
huống tương
tự.
Có thể không
nói. Khi nói,
giao tiếp bằng
lời có thể lẫn
lộn giữa
những lời nói
có nghĩa và
những lời nói
khác biệt như
là không rõ
nghĩa,
Trẻ quá phản
Luôn sợ hãi
ứng hoặc
ngay cả đã gặp
phản ứng
lại những tình
dưới mức
huống và đồ
bình thường
vật vô hại.
với âm thanh
ở một mức độ
kỳ quái hoặc
khác thường
mà không rõ
nghĩa và thể
hiện sự không
nhận thức
được các ý
nghĩa liên
quan tới cử
chỉ hoặc biểu
hiện nét mặt
của những
6
người khác
Bảng 3: Kết quả khảo sát trên trẻ.
STT
Số trẻ
tự kỷ
KS
Mức độ tự
kỷ
1
Tự kỷ mức
trẻ =
25%
5/ 12
trẻ =
42 %
Sợ hãi
hoặc
căng
thẳng
9/12
trẻ =
75 %
1/ 12
trẻ =
08 %
3/ 12
trẻ =
25 %
4/ 12
trẻ =
33 %
2/ 12
trẻ =
17 %
Giao
viên, phân chia trẻ tự kỷ về các lớp hợp lý.
* Xây dựng kế hoạch giáo dục hòa nhập
Việc chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục một trẻ bình thường đã khó, chăm sóc
nuôi dưỡng giáo dục trẻ khuyết tật càng khó hơn nhiều. Đó là một quá trình
không phải một tháng, không phải một năm mà trong nhiều năm tháng liên tục.
Kế hoạch là chương trình hành động tổng quát, là kế hoạch triển khai và
phân bố các nguồn lực cơ bản quan trọng để đạt được các mục tiêu cơ bản, toàn
diện và lâu dài của nhà trường nói chung. Với giáo dục hòa nhập cũng vậy, việc
xây dựng kế hoạch thực hiện trong cả năm học là việc cụ thể hóa các mục tiêu
cần đạt được trong cả năm học và các phương thức để đạt được mục tiêu ấy.
Việc xây dựng kế hoạch dài hạn cho cả năm học sẽ giúp cho người cán bộ quản
lý chủ động trong công tác chỉ đạo. Thông qua đó có thể triển khai các hoạt
động theo đúng lộ trình một cách khoa học, đồng thời có thể bổ sung, điều chỉnh
cho phù hợp với tình hình thực tế. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề
này, với mục tiêu là huy động 76 % trẻ khuyết tật trong độ tuổi đến trường, thực
7
hiện việc chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục hòa nhập cho trẻ có hiệu quả, trong kế
hoạch tôi đã đề ra lịch trình cụ thể như sau:
- Tháng 6 + 7: Phân loại trẻ Tự kỷ ở mức độ khác nhau, phát hiện kịp
thời những biểu hiện sớm để có biện pháp phối hợp cùng cha mẹ .
- Tháng 8 + 9: Sắp xếp, ổn định đội ngũ giáo viên, biên chế trẻ Tự kỷ vào các
nhóm, lớp phù hợp. Bồi dưỡng kiến thức về giáo dục hòa nhập cho giáo viên trong
lớp có trẻ Tự kỷ. Chỉ đạo giáo viên điều tra những thông tin cơ bản về trẻ, qua đó
xây dựng kế hoạch nhóm, lớp và kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ tự kỷ.
- Những tháng tiếp theo: Thực hiện chế độ tặng quà đối với trẻ Tự kỷ học
hòa nhập tại trường.
+ Tiếp tục bồi dưỡng kiến thức về giáo dục hòa nhập cho giáo viên, quan
học tại trường. Vậy làm thế nào để vừa đảm bảo chất lượng chăm sóc giáo dục
chung mà vẫn tạo được cơ hội tốt nhất cho trẻ Tự kỷ?
- Ngay từ khi mới nhận trẻ vào trường, tôi đã chỉ đạo ban tuyển sinh biên
chế trẻ khuyết tật vào một lớp theo đúng độ tuổi. Thực hiện theo hướng dẫn của
điều lệ trường mầm non, mỗi một lớp mẫu giáo không quá 2 trẻ cùng một loại
khuyết tật. việc giảm sĩ số học sinh trong lớp có trẻ tự kỷ để tạo điều kiện cho
giáo viên có thêm thời gian và cho trẻ khuyết tật có thêm cơ hội được chăm sóc
chu đáo hơn.
- Không chỉ có vậy, chúng tôi đã sắp xếp giáo viên vào các lớp đó sao cho
ít nhất từ 1-2 giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc trẻ nhỏ, lựa chọn
những giáo viên có tính tình nhẹ nhàng, kiên trì, chu đáo, tỉ mỉ vào những lớp có
trẻ Tự kỷ. Bên cạnh đó không thay đổi 100% số giáo viên trong lớp. Thường là
chúng tôi giữ lại ít nhất một giáo viên theo trẻ chuyển lên lớp trên và nếu có thể
sẽ lựa chọn cô giáo mà trẻ yêu quí và gần gũi nhất.
Qua quá trình thực hiện biện pháp này, tôi nhận thấy trẻ được chăm sóc
rất chu đáo, có tiến bộ, yêu quí cô và bạn, cô giáo cũng hết lòng thương trẻ, dành
cho trẻ nhiều sự quan tâm hơn. Sau một năm học không có giáo viên hay trẻ Tự
kỷ nào cần luân chuyển lớp. Cha mẹ trẻ cũng rất yên tâm và tin tưởng vào cô
giáo, vào sự sắp xếp của nhà trường.
* Biện pháp 2. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về
tầm quan trọng của giáo dục hòa nhập và vận động trẻ khuyết tật (Tự kỷ) ra
lớp học hòa nhập:
Nhận thức của cộng đồng xã hội, của phụ huynh và giáo viên cũng là một
trở ngại trong công tác giáo dục hòa nhập trẻ Tự kỷ trong trường mầm non. Trên
thực tế hiện nay, không phải trường, lớp nào cũng sẵn sàng đón nhận trẻ Tự kỷ
ra học hòa nhập. Trong khi đó, do còn hạn chế về nhận thức nên không ít phụ
huynh có con bị khuyết tật đã không nghĩ đến việc chạy chữa cho con mình
ngay từ khi còn bé, một số do mặc cảm nên không chịu thừa nhận con mình bị
Tự kỷ và không chịu đón nhận sự chia sẻ, giúp đỡ của cộng đồng. Thậm chí có
gia đình còn giấu kín, suốt ngày nhốt trẻ Tự kỷ trong nhà không cho đến trường.
trẻ khuyết tật ra lớp học hòa nhập tại trường tăng lên, cha mẹ trẻ tự kỷ tin tưởng
hơn vào khả năng của con mình và tin tưởng hơn vào chất lượng chăm sóc nuôi
dưỡng, giáo dục hòa nhập trẻ tại trường .
* Biện pháp 4. Bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên và Quản
lý tốt hồ sơ cá nhân của trẻ tự kỷ:
* Công tác bồi dưỡng chuyên môn.
- Tuyên truyền vận động được trẻ Tự kỷ đến trường đã khó, song đó chưa
phải là mục tiêu duy nhất của giáo dục hòa nhập. Làm thế nào để trẻ tự kỷ có cơ
hội được rèn luyện, được chăm sóc, làm thế nào để khơi dậy tiềm năng cá nhân
ở mỗi một con trẻ không may bị thiệt thòi? Đó là những vấn đề mà mỗi chúng
tôi, những người đã, đang và sẽ làm mẹ đều trăn trở. Tuy nhiên, khó khăn ở
trường mầm non là giáo viên chưa được đào tạo, chưa được trang bị những kiến
thức về chăm sóc giáo dục trẻ Tự kỷ. Hầu hết mỗi người chúng tôi khi tiếp nhận
trẻ đều băn khoăn liệu mình có giúp gì được cho em bé này không? Nhưng rồi
với tấm lòng của những người mẹ hiền thứ 2, bằng tình yêu đối với trẻ thơ và
tình yêu đối với nghề nghiệp đã thôi thúc chúng tôi không ngừng tìm tòi, học hỏi
và tìm hiểu những thông tin liên quan đến vấn đề giáo dục hòa nhập. Biết những
thông tin đó nhưng không biết thế nào là đủ và phải áp dụng thế nào cho hiệu
quả. Với cương vị là người đứng đầu đơn vị tôi thấy việc trang bị những kiến
thức sơ đẳng nhất về giáo dục hòa nhập cho giáo viên là vô cùng cần thiết.
11
Ngay từ đầu năm học, tôi đã sưu tầm một số tài liệu với nội dung về trẻ
Tự kỷ, về vấn đề can thiệp sớm và tạo cơ hội cho trẻ Tự kỷ sớm hòa nhập ngay
từ lứa tuổi mầm non. Tôi đã tham khảo một số tài liệu của Viện chiến lược và
chương trình giáo dục dành cho các lớp tập huấn giáo viên dạy trong môi trường
hòa nhập.
cháu là thích nghe nhạc, thích chơi với các loại lô tô nhiều màu sắc nhưng lại
không có khả năng hợp tác, chỉ nói được một số từ đơn giản có 1 tiếng như: cô,
mẹ, ăn,… Chúng tôi đã dựa vào điểm mạnh này sử dụng âm nhạc để hướng cháu
vào một số hoạt động chung, chỉ đạo giáo viên lựa chọn, sưu tầm, tự làm một số
lô tô với những hình ảnh minh họa khác nhau. Lúc đầu chỉ là những hành động
như: rửa tay, rửa mặt, ăn cơm, đi ngủ, sau đó là ngồi học, xếp hàng, tập thể dục,
… Dùng những lô tô đó cho cháu chơi và hướng cháu nói theo cô để được nhận
lô tô, hình vẽ,…
Với cháu Nguyễn Đông Vũ ở lớp Sóc Nâu thì lại khác, là một trẻ tự kỷ
mới vào trường được xác định ở mức độ tương đối nặng. Suốt ngày cháu chỉ la
hét, đập phá đồ chơi, lăn ra khóc, không chơi với bất kì ai, không nói được chỉ ê
a như đứa trẻ 10 tháng tuổi, nói chung qua khảo sát ban đầu chưa thấy cháu có
13
điểm mạnh nào đặc biệt. Với trẻ này chúng tôi làm theo phương pháp thử và sai:
dùng nhiều cách thức khác nhau để thu hút cháu: cho cháu nghe nhạc, cho đồ
chơi mới, cho xem các đoạn phim ngắn, đưa cháu ra chơi với đồ chơi ngoài trời,
cho xem tranh ảnh,… Sau đó xác định được cháu thích nghe những loại nhạc sôi
động, có lời. Chúng tôi đã chỉ đạo giáo viên sưu tầm, lựa chọn các bài hát thiếu
nhi ngắn, rõ lời ca, giai điệu sôi nổi phù hợp với những động tác vận động đơn
giản như: Tập lái ô tô, làm chú bộ đội, trời nắng trời mưa,...
Sau khi đã xây dựng được kế hoạch cá nhân, một điều không thể thiếu là
áp dụng và đánh giá hiệu quả của kế hoạch trên thực tế. Tôi đã trực tiếp xuống
dự giờ, góp ý cho giáo viên. Tổ chức những buổi kiến tập thực hành tại những
lớp có trẻ khuyết tật.Việc dự giờ không chỉ tập trung vào các hoạt động học mà
chúng tôi quan tâm đến mọi hoạt động: có thể là giờ đón trẻ, giờ thể dục sáng,
hoạt động ngoài trời, hướng dẫn kĩ năng vệ sinh, hướng dẫn kĩ năng sống đơn
là khả năng thích nghi của trẻ với môi trường mới, với những người mới. Làm
thế nào để sau mỗi năm khi có sự luân chuyển trẻ, luân chuyển giáo viên thì việc
chăm sóc, giáo dục trẻ không bị gián đoạn?
- Để giải quyết khó khăn, vướng mắc trên chúng tôi đã lập cho mỗi trẻ
một bộ hồ sơ riêng, chỉ đạo giáo viên lưu giữ đầy đủ những thông tin về trẻ,
những kế hoạch đã thực hiện, những kết quả ghi chép sự tiến bộ của trẻ, cả
những sản phẩm do trẻ làm ra chúng tôi cũng lưu giữ lại (nếu có thể). Sau mỗi
tháng và cuối năm học chúng tôi phô tô một bản gửi về cho cha mẹ, bản gốc sẽ
được lưu giữ trong hồ sơ của trẻ để chuyển giao cho giáo viên sau. Hồ sơ này sẽ
được chuyển giao lại cho phụ huynh vào năm cuối khi trẻ rời trường mầm non
chuyển cấp hoặc vì một lý do nào đó trẻ đến một ngôi trường khác trong quá
trình học tập.
- Với cách làm như vậy, tôi nghĩ sau mỗi năm cơ hội dành cho mỗi trẻ Tự
kỷ sẽ nhiều lên, giáo viên cũng đỡ vất vả hơn khi đón nhận trẻ vào lớp, phụ
huynh sẽ yên tâm hơn vào khả năng của con, tin tưởng hơn vào người giáo viên
khi gửi con đến trường. Đồng thời đối với nhà trường nó giúp cho công tác quản
lý đầy đủ, khoa học, toàn diện hơn trong công tác giáo dục hòa nhập.
15
* Biện pháp 6. Phối hợp với phụ huynh và cộng đồng trong chăm sóc
giáo dục trẻ Tự kỷ học hòa nhập :
- Cũng giống như bao trẻ em khác, trẻ Tự kỷ ở lứa tuổi mầm non con yếu
ớt, còn non dại và đa số các em thường có biểu hiện kém về mặt thể chất. Hơn
mọi trẻ em khác trẻ Tự kỷ cần nhiều hơn sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, quan
tâm của cha mẹ, người thân và của cả cộng đồng. Để giúp trẻ phát triển bình
thường, vượt lên số phận cần cho trẻ nhiều cơ hội can thiệp sớm: cơ hội được
học tập, được hòa nhập cộng động, được hưởng dịch vụ chăm sóc y tế và các
dịch vụ xã hội khác mà thiếu một trong những cơ hội đó trẻ sẽ không thể vượt
* Kết quả khảo sát đầu năm
Bảng 1: Kết quả khảo sát đầu năm học.
STT
Số trẻ
tự kỷ
KS
Phản
xạ mắt
Phản
xạ
nghe
4/ 12
trẻ =
33 %
5/ 12
trẻ =
42 %
3/ 12
trẻ =
25 %
3/12
trẻ =
25%
5/ 12
25 %
1/ 12
trẻ =
8%
2/12
trẻ =
17%
7/12
trẻ =
58 %
2/ 12
trẻ =
17 %
1/ 12
trẻ =
8%
Mức độ tự
kỷ
1
Tự kỷ mức
độ nhẹ
2
Tự kỷ mức
độ Trung
3/ 12
trẻ =
25 %
3/ 12
trẻ =
25 %
Sợ hãi
hoặc
căng
thẳng
5 /12
trẻ =
42 %
6 /12
trẻ =
50 %
Giao
tiếp
không
lời
4/12
trẻ =
33%
3 / 12
trẻ =
25 %
5/ 12
trẻ =
độ Trung
bình
Tự kỷ mức
độ nặng
0
1/ 12
trẻ =
8%
0
Giao
tiếp có
lời
4/12
trẻ =
33%
4/12
trẻ =
33 %
4 / 12
trẻ =
33 %
0
Sau một năm thực hiện một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng các
hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ Tự kỷ tại trường mầm non Lam sơn, tôi đã đạt
được một số kết quả như sau:
2. Cần không ngừng đẩy mạnh, nâng cao chất lượng các hoạt động truyền
thông, tư vấn giúp cộng đồng nhận thức đựơc tầm quan trọng, ý nghĩa và sự cần
thiết để phát hiện sớm và thực hiện can thiệp sớm về mọi mặt trong đó có giáo
dục hoà nhập ngay từ độ tuổi mầm non để tạo “Cơ hội vàng” cho trẻ tự kỷ 3.
Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên rất quan
trọng, quyết định chất lượng giáo dục hoà nhập. Việc lựa chọn giáo viên nòng
18
cốt trong việc xây dựng và thực hiện các hoạt động chuyên môn là tiền đề quan
trọng cho sự thành công của giáo dục hoà nhập.
4. Một điều không thể thiếu đó là cần trang bị cho cha mẹ trẻ tự kỷ những
kiến thức, kĩ năng chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ khuyết tật ngay tại nhà để
công tác chăm sóc giáo dục trẻ tự kỷ được thống nhất về quan điểm, đồng nhất
trong cách làm và đồng tâm hướng tới mục tiêu chung là đưa trẻ tự kỷ sớm hòa
nhập được với cộng đồng xã hội. Bên cạnh đó cũng cần xây dựng đội ngũ cộng
tác viên trong các tổ dân phố, những người sẽ giúp cho cha mẹ, giúp cho cộng
đồng phát hiện, có biện pháp can thiệp sớm kịp thời với trẻ tự kỷ
- Kiến nghị
Để công tác chăm sóc giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ nói chung và giáo dục
hòa nhập trẻ mầm non nói riêng thực sự đi vào chiều sâu và đạt kết quả cao như
sự mong đợi, tác giả xin có một số kiến nghị như sau:
+ Cung cấp thêm nguồn sách hướng dẫn, tài liệu tham khảo để phục vụ
giáo viên trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ học hòa nhập.
+ Quan tâm hơn nữa đến việc bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm quản lý
và giảng dạy cho đội ngũ cán bộ, giáo viên các trường mầm non có trẻ tự kỷ học
hòa nhập.
Tôi xin chân thành cám ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
10. Tài liệu giáo dục hòa nhập cho trẻ có khó khăn về nghe lứa tuổi mầm
non của Bộ GD&ĐT, ban hành năm 1999.
11. Tài liệu tập huấn những vấn đề cơ bản về can thiệp sớm, giáo dục hòa
nhập trẻ khuyết tật dành cho giáo viên mầm non của Trường CĐSP TW-Khoa
GDĐB năm 2006.
20
MỤC LỤC
1.
1.1
1.2
1.3
1.4
2.
2.1
2.2
2.3
2.4
3.
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
21
22