I.MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn đề tài.
Trẻ mầm non “học bằng chơi, chơi mà học” và đúng như vậy trong Trường
mầm non nếu nói hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non , nó là
phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ thì đồ chơi là
phương tiện là cầu nối trẻ đến với thế giới xung quanh, với hiện thực khách quan
đồng thời đồ chơi cũng chính là phương tiện giúp trẻ tiếp thu bài học một cách sinh
động sâu sắc nhất.
Đồ chơi khiến trẻ nhập vào hành động chơi giống như thực, đáp ứng nhu cầu
bắt chước hành động của người lớn và làm quen thế giới xung quanh. Chính đồ
chơi là sợi dây bền chắc nhất liên kết trẻ với nhau để cùng chơi, cùng hành động và
để duy trì hứng thú của trẻ với trò chơi, đồng thời đồ chơi còn giúp trẻ hình thành
sự chú ý và ghi nhớ có chủ định, góp phần phát triển trí tuệ, tích luỹ các biểu tượng
làm cơ sở cho hoạt động tư duy của trẻ.
Hoạt động làm đồ dùng đồ chơi cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng
trong việc giáo dục trẻ. Trong quá trình trẻ làm đồ dùng đồ chơi đòi hỏi trẻ phải
luôn tìm hiểu, khám phá, sáng tạo chất liệu, cách làm hình thành niềm đam mê, yêu
thích, trẻ lĩnh hội được kiến thức, tiếp thu được kinh nghiệm, rèn luyện các kỹ năng
kỹ xảo tạo hình, sự linh hoạt khéo léo của đôi bàn tay và sự hứng thú sáng tạo cũng
lớn dần từ đây.
Hơn nữa, đồ chơi do tự tay mình làm ra, trẻ sẽ cảm thấy yêu quý, hứng thú
hơn, trẻ thấy tự hào về bản thân mình, biết chia sẻ cùng nhau cũng như hình thành
ở trẻ tình yêu lao động và yêu quý người lao động, sản phẩm lao động.
Trong chủ điểm “thế giới động vật” có thể nói nhánh “động vật nuôi trong
gia đình” được trẻ vô cùng yêu thích bởi những con vật vô cùng đáng yêu, gần gũi
với cuộc sống của trẻ. Thế nhưng đồ chơi ở chủ đề này lại thiếu và không đồng bộ,
thế nên việc cô hướng dẫn để trẻ tự tay mình làm ra những con vật ấy càng tạo nên
tình yêu động vật, tình yêu với hoạt động làm đồ dùng đồ chơi và lớn hơn là tình
yêu với thế giới xung quanh muôn màu, muôn vẻ ở trẻ mầm non.
Tuy nhiên trong thực tế, trường mầm non Lâm Xa nói chung và lớp mẫu giáo
nhỡ B2 nói riêng việc hướng dẫn trẻ tự làm đồ dùng- đồ chơi còn rất hạn chế, hiệu
Đồ chơi giúp trẻ mở rộng nhận thức về thế giới xung quanh, từng bước tích
lũy kinh nghệm sống, phát triển tư duy trí tuệ.
Đồ chơi là phương tiện giáo dục đạo đức: Đồ chơi hết sức cần thiết đối với
trẻ, nó có tác dụng và ý nghĩa giáo dục thật to lớn với trẻ.
Hoạt động với đồ chơi có tác dụng rèn luyện thể lực, sự khéo léo của đôi bàn
tay và đôi chân dẻo dai, cơ thể cân đối hài hòa, phát triển một “con người Việt Nam
mới” tham gia tích cực vào cuộc sống xã hội sau này.
Hoạt động với đồ chơi là quá trình trẻ được tương tác, hợp tác với nhau khi
chơi. Quá trình trao đổi, chia sẻ, cùng nhau chơi tăng thêm tình cảm bạn bè nhưng
cũng góp phần lớn trong việc phát triển ngôn ngữ tích cực ở trẻ.
Đồ chơi là cầu nối trẻ đến vời cái đẹp một cách chân thực và sâu sắc nhất, là
phương tiện phát triển thẩm mỹ vô cùng hiệu quả.
Như vậy, đồ chơi có ý nghĩa hết sức to lớn nó là phương tiện để chăm sóc,
giáo dục trẻ mầm non.[1].
2.1.2. Một số nguyên tắc dạy trẻ 4 – 5 tuổi làm đồ dùng đồ chơi.
2.1.2.1.Cho trẻ tham gia vào quá trình tự làm đồ dùng đồ chơi là đưa trẻ vào
hoạt động nghệ thuật:
Quá trình tự làm đồ dùng đồ chơi bản thân trẻ nảy sinh mối giao cảm, tình
cảm với hoạt động, trẻ mong muốn được trải nghiệm, được thể hiện khả năng tạo
hình của mình, và trẻ tự hào vì mình đã tạo ra sản phẩm đẹp được mọi người công
nhận. Vì vậy, giáo viên nên lựa chọn các phương pháp, biện pháp thích hợp để thoả
2
mãn nhu cầu này của trẻ. Đưa trẻ vào bài tập một cách nhẹ nhàng, gây hứng thú thu
hút trẻ vào hoạt động.
2.1.2.2. Đảm bảo tính sư phạm và an toàn với trẻ:
Hoạt động dạy trẻ tự làm đồ chơi phải có tính giáo dục cao, các đồ chơi được
giáo viên lựa chọn hướng dẫn trẻ phải gần gũi, rõ nét, đặc trưng và có giá trị sử
để trẻ trong trường được tham gia giao lưu học hỏi, tranh tài và trong các bài thi đó
luôn có phần tạo hình nhằm tìm kiếm và phát triển tài năng nghệ thuật ở trẻ.
Ban giám hiệu luôn chú trọng đến công tác chuyên môn trong nhà trường,
thường xuyên cho các giáo viên đi học chuyên đề, đi tập huấn công tác chuyên
môn, cách làm đồ dùng đồ chơi mới để tiếp cận những thay đổi mới trong hoạt
3
động làm đồ dùng đồ chơi. Tổ chức cho chị em đi thăm quan một số trường lân cận
để học hỏi cách trang trí lớp, cách bài trí và làm đồ chơi nâng cao kĩ năng tạo hình
phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy theo kịp với thay đổi của thời đại mới. Ban
giám hiệu tạo điều kiện thuận lợi cho những giáo viên có năng khiếu làm đồ dùng
đồ chơi phát huy hết thế mạnh của mình.
Bên cạnh đó, Trường mần non Lâm Xa có các tổ chuyên môn thường xuyên
tổ chức làm đồ dùng đồ chơi, nhằm chia sẻ kinh nghiệm làm đồ dùng đồ chơi, chia
sẻ với nhau cách tổ chức hoạt động làm đồ dùng đồ chơi.
Với trẻ lớp mầu giáo nhỡ B2 là lứa tuổi trẻ mới bắt đầu làm quen với các kĩ
năng tạo hình phức tạp như cầm kéo, xé, dán… Vì vậy, giáo viên phải là người nắm
vững các kĩ năng và đưa các kĩ năng đó đến với trẻ.
Riêng cá nhân tôi luôn tham gia các buổi tập huấn và các cuộc thi làm đồ
dùng đồ chơi sáng tạo, tích lũy kinh nghiệm trong hoạt động làm đồ dùng đồ chơi
để nâng cao năng lực bản thân trong hoạt động này.Năm học 2015 -2016 bản thân
tôi cũng rất vinh dự khi được nằm trong nhóm làm đồ dùng đồ chơi của trường,
tham gia tích cực vào các hoạt động làm đồ dùng đồ chơi trong trường cũng như
các cuộc thi “làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo” do phòng giáo dục tổ chức và đạt 1
giải nhất cá nhân. Tham gia ôn thi giao lưu “giao lưu trẻ mầm non”cho trẻ trong
trường.
Bản thân tôi luôn nêu cao tinh thần học hỏi đồng nghiệp không chỉ trong
trường mà còn ở các trường bạn, đặc biệt là những trường nằm trong tầm nhìn thế
giới.
Hoạt động dạy trẻ tự làm đồ dùng đồ chơi là một hoạt động khó, đòi hỏi sự
đầu tư về chuyên môn và đồ dùng trực quan, nhưng nó chưa được coi trọng và rất
ít giáo viên tổ chức hoạt động, có chăng cũng chỉ đặt hoạt động này ở hoạt động
chiều chưa thực sự là một hoạt động có mục tiêu, kế hoạch cụ thể, chi tiết, ít được
giáo viên đưa vào kế hoạch hoạt động thường xuyên của các tuần, tháng.
Với bản thân tôi đã tổ chức cho trẻ làm đồ dùng đồ chơi ở những chủ đề khác
nhưng vấp phải những khó khăn như:
Áp lực công việc nhiều , trường thiếu giáo viên và thời gian hạn chế nên
việc tổ chức hoạt động này vẫn rất ít.
Khi tổ chức được thì chưa có thời gian nghiên cứu kĩ nên đưa ra yêu cầu quá
cao trẻ không thực hiện được hoặc cô yêu cầu trẻ làm theo “mẫu mà cô đã dập
khuôn”. Bản thân còn lúng túng, vụng về trong sử lý các tình huống.
Đồ dùng trực quan của cô chưa đảm bảo yêu cầu nên không thu hút được trẻ
cũng chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo của trẻ.
Hoạt động dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi được khởi đầu từ việc rèn luyện cho
trẻ các kĩ năng tạo hình như: Vẽ, nặn, cắt, xé dán. Các hoạt động này được giáo
viên tổ chức riêng lẻ, không có sự kết hợp nên hiệu quả rất hạn chế.
Mặt khác, do lớp đông, không gian lớp chật cô không bao quát hết được trẻ.
Cũng từ điều này làm mất đi sự hứng thú và niềm đam mê nghệ thuật ở trẻ nhỏ,
làm mất đi món ăn tinh thần vô cùng quan trọng đối với trẻ thơ.
Đa số trong hoạt động tạo hình cô để trẻ hoạt động độc lập dẫn tới sự hợp
tác giao lưu giữa các bạn còn hạn chế, trẻ không cùng thảo luận và đưa ra ý kiến
dẫn đến khả năng hoạt động nhóm còn hạn chế.
2.2.2.2. Về cở sở vật chất:
Hiện nay lớp mẫu giáo nhỡ B2 vẫn phải học trong phòng chật hẹp không
đảm bảo không gian cho các hoạt động , ảnh hưởng nhiều đến chất lượng chăm sóc
và giáo dục trẻ.
Trong năm học 2016 – 2017, lớp mẫu giáo nhỡ B2 đã được phụ huynh học
sinh hỗ trợ kinh phí mua sắm đồ dùng đồ chơi nhưng nguồn đồ chơi đó chỉ là một
phần rất nhỏ trong sự thiếu hụt đồ chơi của lớp. Đặc biệt trong nhánh “động vật
(%)
đạt
(%)
Khả năng quan sát ghi nhớ.
15/35
43%
20/35
57%
Khả năng lựa chọn nguyên vật liệu.
10/35
29%
25/35
71%
Kỹ năng phối hợp vẽ, cắt, dán…
12/35
34%
23/35
66%
Kỹ năng lắp ghép.
11/35
31%
24/35
69%
Sự sáng tạo.
3/35
9%
32/35
91%
Mức độ hứng thú.
15/35
nhiều cách làm hay, chất liệu hợp lý trong từng sản phẩm và tôi cũng xác định rằng
" làm đồ dùng đồ chơi ấy nhằm mục đích gì?". Cũng thông qua cuộc thi này tôi
thực sự hứng thú, yêu thích và say mê hoạt động làm đồ dùng đồ chơi nó như thôi
thúc tôi phải tìm ra những biện pháp hay áp dụng vào hoạt động này để trẻ của lớp
mình cũng có thể làm được đồ dùng đồ chơi.
Ngoài ra, tôi tìm đọc tham khảo những cách làm đồ dùng đồ chơi đơn giản
trên sách báo, trên các chương trình “Hướng dẫn làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ mầm
non”, tham gia vào cộng đồng mạng xã hội dành cho giáo viên mầm non nhằm học
hỏi cách làm đồ dùng đồ chơi để sửa đổi, sáng tạo và áp dụng vào trẻ của mình một
cách hợp lý nhất.
Chẳng hạn như cũng với cách hướng dẫn trẻ “làm con gà trống bằng bìa
giấy” tôi đã học được qua mạng xã hội, nhưng khi áp dụng vào trẻ của mình tôi đã
có sự đổi khác về bià cứng tôi không dùng 1 loại bìa mua sẵn mà sử dụng vỏ hộp
thuốc, hộp sữa, giấy mời, bìa giáo án hỏng... để làm thân con gà...
Hoặc trong cuộc thi “ làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo” ở huyện Bá Thước có
giáo viên đã làm con mèo bằng hộp sữa chua với cách làm như sau:
Dùng keo 502 dính 2 hộp sữa chua lại làm thân mèo.
Vẽ tai mèo, mắt, miệng, đuôi ra xốp màu, cắt rời các bộ phận ra dùng keo
nến dính các bộ phận ấy vào thân mèo.
Nhưng khi dạy trẻ tôi không cho trẻ dùng keo nến và keo 502 vì nó không an
toàn, thay vào đó tôi cho trẻ dùng băng dính 2 mặt, và tôi cũng không cho trẻ cắt
các bộ phận của con mèo ra riêng lẻ và dính trực tiếp lên hộp sữa chua vì nó quá
khả năng của trẻ, tôi chỉ hướng dẫn trẻ vẽ mặt mèo rồi cắt ra dính vào 1 đầu của
thân mèo, đầu còn lại dính đuôi.
7
Như vậy, bản thân tôi từ thực tế của lớp mình phụ trách cảm thấy mình cần
phải học hỏi, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để làm tốt nhiệm vụ của mình và
cũng học hỏi cách làm đồ dùng, đồ chơi, đam mê, yêu thích hoạt động này để
cô vẽ là 2 hình tròn nhỏ nằm cân đối nhau, miệng chó cô vẽ bằng 1 hình tam giác
nhỏ phía dười 2 mắt, sau đó vẽ tai chó là đường cong, cô vẽ 2 tai chó cân đối
nhau).
Cắt mặt, đuôi con chó ra dùng băng dính 2 mặt dính vào 2 đầu của thân con
chó.
8
Quá trình trẻ làm: Trước khi trẻ làm cô nhắc lại tư thế ngồi, cách cầm bút,
cách giữ vệ sinh khi làm. cách cầm kéo và tuyệt đối nhắc trẻ dùng kéo an toàn, và
an toàn khi sử dụng các nguyên vật liệu( không cho bông vào mắt mũi miệng).
Trong quá trình trẻ làm cô quan sát, hướng dẫn, giúp đỡ trẻ,khuyến khích trẻ
sáng tạo thêm các nguyên liệu và cách vẽ mặt con chó bằng những câu hỏi “ Bây
giờ không có lõi giấy vệ sinh chúng mình có thể dùng gì để làm thân con chó? Con
có cách vẽ mặt và đuôi con chó khác không? Hãy vẽ theo cách nghĩ của con!”…
Khi trẻ làm xong yêu cầu trẻ thu dọn đồ dùng và rửa tay bằng xà phòng.
Kết quả: Đa số các nhóm đã hoàn thành con chó mà cô yêu cầu, có 2 nhóm
còn sáng tạo được cách vẽ mặt mèo bắng cách khác, 2 nhóm dùng lon bia thay thế
lõi giấy, cò nhóm lại vẽ đuôi là một nửa hình tròn… tuy nhiên vần còn 1 nhóm
chưa gắn được đuôi con chó và tai con chó.
Kinh nghiệm: Qua thực tế tôi thấy cần tìm tòi bổ sung nhiều nguyên vật liệu
để trẻ chọn lựa, và những vật liệu này cần được xử lý kĩ đảm bảo yêu cầu vệ sinh
và an toàn cho trẻ( nên tìm kiếm bông với nhiều màu sắc để trẻ dử dụng, tìm thiêm
lon bia…)
Thường xuyên rèn luyện các kĩ năng cắt, lắp ghép cho trẻ ở các hoạt động
khác.
Giá trị sử dụng: Con chó này trẻ dùng để chơi trong hoạt động góc, dùng
trong phần gây hứng thú của hoạt động khám phá khoa học, âm nhạc, hoạt động
toán đếm số lượng, dùng làm mô hình để gây hứng thú trong tiết tạo hình,trưng bày
Trẻ mang sản phẩm của mình tặng lại cho các bạn ở góc xây dựng.
Cuối cùng cho trẻ rửa tay bằng xà phòng trước khi chuyển sang hoạt động
khác.
Kết quả: Ở hoạt động góc với nội dung “làm con lợn bằng lon bia” trẻ đã
hoàn thành trước thời gian.
Kinh nghiệm: Qua thực tế tôi thấy trẻ còn lãng phí trong khi sử dụng
nguyên liệu cần giáo dục trẻ biết sử dụng hợp lý các nguyên liệu. Giáo viên cũng
cần tìm tòi bổ sung nhiều nguyên vật liệu để trẻ chọn lựa và những vật liệu này cần
được xử lý kĩ đảm bảo yêu cầu vệ sinh và an toàn cho trẻ.
Cho trẻ rèn luyện thêm kĩ năng dán băng dính 2 mặt và khi trẻ dùng đang
còn nhiều lúng túng.
Giá trị sử dụng: Trẻ đã đem sản phẩm tặng lại cho góc xây dựng để xây
dựng trang trại cho chú lợn đó. Cô cũng có thể dùng trong phần gây hứng thú giới
thiệu bài của hoạt động âm nhạc, môi trường xung quanh, truyện, thơ, trang trí
lớp...
10
Cô hướng dẫn trẻ.
Sản phẩm của trẻ.
2.3.2.2.Trong hoạt động chiều.
Trong giờ hoạt động chiều nhánh “động vật nuôi trong gia đình” Làm con
mèo từ hộp sữa chua, hộp kem.
Cách thực hiện: Trong hoạt động này tôi cho trẻ hoạt động độc lập để tăng
sự đa dạng và sáng tạo của trẻ bởi trong hoạt động chiều thời gian tương đối dài và
với hoạt động làm con mèo bắng hộp sữa chua cũng không quá khó so với khả
năng của trẻ.
Chuẩn bị: Mỗi trẻ một rổ đồ dùng gồm: 1 hộp sữa chua (hộp kem),1 cuộn
toán tiết đếm, tạo nhóm số lượng, dùng trong hoạt động khám phá khoa học trong
phần trò chơi củng cố với trò chơi “chọn đúng vật nuôi”, dùng trong hoạt động góc
(góc xây dựng hoặc góc phân vai trò chơi bán hàng), dùng trong phần giới thiệu bài
của hoạt động âm nhạc, tạo hình, truyện, thơ…
Như vậy, với biện pháp này tôi thấy trẻ được tham gia vào hoạt động này
một cách tự nhiên thoải mái, không gò ép và cũng không nặng về kết quả nên trẻ
thỏa sức sáng tạo theo khả năng của mình.
Bên cạnh đấy, chỉ với những nguyên vật liệu hết sức đơn giản dễ tìm trẻ có
thể làm được rất nhiều đồ dùng đồ chơi cho mình và trẻ tỏ ra rất tích cực, thích thú
và tự hào về bản thân, trân trọng sản phẩm của mình và của bạn và điều quan trọng
là trẻ đã có đồ chơi để chơi và cô có đồ dùng trong hoạt động giáo dục của mình.
Cô và trẻ đang làm con mèo từ hộp sữa chua, hộp kem.
2.3.3.Biện pháp 3: Dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi trong giờ hoạt động
chung có chủ đích.
Đối với trẻ mầm non, tư duy của trẻ còn mang tính trực quan hành động, trực
quan hình tượng, tư duy sáng tạo còn hạn chế, trẻ “chóng nhớ, chóng quên”. Do
vậy, cần dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi trong hoạt động chung có chủ đích bởi ở đó
trẻ có thể tìm hiểu cuộc sống xung quanh, trẻ tiếp thu các tri thức, kỹ năng kỹ xảo
theo một chương trình có tính hệ thống, bài bản, có kế hoạch và mục tiêu cụ thể, rõ
ràng phù hợp với khả năng của trẻ.
12
Hơn nữa, ở biện pháp này cô luôn đưa ra những tình huống có vấn đề kích
thích hứng thú và sự sáng tạo của trẻ.
Biện pháp này tăng tình hoạt động cá nhân để làm nên sự đa dạng cũng như
kích thích sự sáng tạo của từng cá nhân trẻ, giúp cô giáo phát hiện ra những điểm
mạnh, điểm yếu để giáo viên lựa chọn hình thức giáo dục phù hợp với trẻ.
vào cổ gà (màu sắc do các bạn tự lựa chọn).
Tiếp theo cô lấy bút vẽ các bộ phận của gà lên giấy màu và cắt rời các bộ
phận ấy ra: Mào màu đỏ hình lượn sóng, mắt hình tròn màu đen, mỏ hình tam giác
màu đỏ, sau đó lấy hồ dán các bộ phận của gà lên phần đầu gà.
13
Vẽ các đường cong nhiều màu sắc làm đuôi gà, vẽ nửa hình tròn làm cánh
gà. Cắt đuôi và cánh ra.
Gắn đuôi gà vào đầu còn lại đối diện với đầu gà, gắn cánh lên thân gà.
Quá trình trẻ làm: Trước khi trẻ làm cô nhắc lại tư thế ngồi, cách cầm bút,
cách giữ vệ sinh khi thực hiện hoạt động. cách cầm kéo và tuyệt đối nhắc trẻ dùng
kéo an toàn, và an toàn khi sử dụng các nguyên vật liệu.
Trong quá trình trẻ làm cô quan sát, hướng dẫn, giúp đỡ trẻ,khuyến khích trẻ
sáng tạo thêm các nguyên liệu và cách làm khác.
Khi trẻ làm xong yêu cầu trẻ thu dọn đồ dùng và rửa tay bằng xà phòng.Trẻ
trưng bày sản phẩm vào góc nghệ thuật.
Kết quả: 31/35 trẻ đã hoàn thành sản phẩm, vẫn còn 1 bạn chưa lắp được
đuôi gà, 2 bạn không cắt được mào gà, 1 bạn chỉ mới làm xong phần thân và đầu gà
đã hết thời gian.
Kinh nghiệm: Rèn luyện kĩ năng cắt theo đường ngoằn nghèo cho trẻ, kĩ
năng cắt nét cong. Tăng thêm thời gian cho trẻ yếu, tăng nguồn nguyên vật
liệu.Nên đưa trẻ ra không gian rộng hơn để hoạt động và nên cho trẻ ngồi 2 bạn 1
bàn.
Giá trị sử dụng: Cho trẻ mang về tặng phụ huynh, dùng trong hoạt động
toán tiết đếm, tạo nhóm số lượng, dùng trong hoạt động khám phá khoa học, dùng
trong hoạt động góc( góc xây dựng hoặc góc phân vai trò chơi bán hàng), dùng
trong phần giới thiệu bài của hoạt động âm nhạc, tạo hình, truyện, thơ...
hoạt động góc, âm nhạc, môi trường xung quanh, tạo hình, thơ, truyện… ( sử dụng
mô hình các con vật nuôi để giới thiệu bài).
Đàn gà được trẻ đưa vào chơi trong góc xây dựng.
2.3.4. Biện pháp 4:Kết hợp với phụ huynh dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi
về chủ đề nhánh“động vật nuôi trong gia đình”.
2.3.4.1. Cô giáo kết hợp với phụ huynh và trẻ cùng làm đồ dùng đồ chơi
ở lớp.
Bản thân tôi xây dựng kế hoạch phối hợp với phụ huynh dạy trẻ làm đồ dùng
đồ chơi. Lựa chọn thời gian vào buổi chiều trước giờ trả trẻ, phụ huynh đến trước
khoảng 40 phút, giáo viên sẽ đề xuất với nhà trường mở cổng trước cho phụ huynh
cùng vào làm đồ chơi với con em mình tại lớp.
15
Phụ huynh chuẩn bị nguyên vật liệu cùng mang đến lớp, cô giáo sẽ hướng
dẫn và cùng làm với phụ huynh và trẻ của mình. Làm như vậy phụ huynh sẽ phần
nào biết và hiểu về sự vất vả cũng như tin tưởng hơn vào cách giáo dục của cô giáo.
2.3.4.2. Kết hợp với phụ huynh tìm kiếm nguyên vật liệu:
Từ việc các bậc phụ huynh được trực tiếp làm đồ chơi với con em mình ở lớp
học, họ sẵn sàng chia sẻ và gúp đỡ cô giáo tìm kiếm nguyên vật liệu.
Để thực hiện được các biện pháp dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi cần một nguồn
nguyên vật liệu đa dạng, phong phú một mình cô giáo không thể gom đủ cho học
sinh sử dụng mà phải nhờ vào sự hỗ trợ của phụ huynh học sinh.
Bản thân tôi xây dựng kế hoạch cụ thể, liệt kê các nguyên liệu ra giấy và gửi
tận tay phụ huynh cùng trao đổi và mong muốn phụ huynh học sinh hỗ trợ tìm kiếm
để phục vụ cho hoạt động dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi.
Ví dụ như: Tôi muốn tổ chức cho trẻ “Làm con mèo từ hộp sữa chua, hộp
kem” trong hoạt động chiều.
Đưa cho phụ huynh quan sát một số mũ múa của lớp.
Đưa cho phụ huynh khung mũ múa cô đã làm sẵn(dùng bút chì kẻ lên bìa 1
dải dài 40cm, rộng 3cm sau đó cắt một hình tròn đường kình 20cm, cắt đôi hình
tròn ra dùng hồ dán vào dải giấy vừa cắt tạo nên khung của mũ múa, cắt hoa trang
trĩ cho mũ múa).
Photo các hình gà trống, mèo con, cún con( mỗi trẻ chỉ một hình tùy vào trẻ
thuộc đội nào) phát cho các bậc phụ huynh và kèm theo cách để phụ huynh hướng
dẫn trẻ tô màu các con vật ấy.
Phụ huynh hướng dần trẻ cắt hình các con vật dán vào khung mũ múa mà cô
đã đưa cho phụ huynh.
Giá trị sử dụng: Với những chiếc mũ múa này tôi cho trẻ sử dụng vào hoạt
động âm nhạc, cô cũng có thể sử dụng trong hoạt động văn học, cô dùng để kể
chuyện gây hứng thú trong hoạt động tạo hình, khám phá khoa học…
Với biện pháp này tôi vừa tăng hiệu quả của việc dạy trẻ làm đồ dùng đồ
chơi vừa tăng sự tin tưởng của phụ huynh về phương pháp giáo dục trẻ của mình.
Mũ múa được PH hướng dẫn trẻ
Mũ múa được sử dụng trong HĐ âm nhạc
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Như vậy, qua thực tế của lớp mình tôi đã tìm ra những biện pháp tích cực
phù hợp để nâng cao hiệu quả của hoạt động làm đồ dùng đồ chơi, kết quả thu được
như sau:
2.4.1.Đối với hoạt động giáo dục.
Các biện pháp này tạo ra đồ dùng đồ chơi khắc phục tình trạng thiếu đồ chơi
cho trẻ tại lớp, giúp trẻ có đồ chơi để thỏa mãn nhu cầu vui chơi – hoạt động chủ
đạo của trẻ mầm non.
Sau khi áp dụng biện pháp mới tôi thấy hiệu quả của hoạt động này được
nâng lên rõ rệt, cô phát huy được tính tích cực, sáng tạo của trẻ. Khi trẻ thực hiện
(%)
91%
89%
94%
86%
71%
94%
Số trẻ chưa
đạt
3/35
4/35
2/35
5/35
10/35
2/35
Tỷ lệ
(%)
9%
11%
6%
14%
29%
6%
Căn cứ vào bảng khảo sát khi chưa áp dụng biện pháp mới ( bảng A) và sau
khi áp dụng biện pháp mới (bảng B), ta thấy:
Về khả năng quan sát ghi nhớ:
Số trẻ đạt tăng từ 43% lên 91% (Tăng 48%).
Khi áp dụng biện pháp trên trẻ tôi đã trau dồi chuyên môn nói chung và kĩ
năng kĩ xảo tạo hình nói riêng, làm mới cách thức hướng dẫn trẻ.
Cũng từ những biện pháp đã áp dụng bản thân tôi tự rút ra những kinh
nghiệm dạy trẻ, tìm ra những điểm mạnh điểm yếu của trẻ, nguyên nhân để khắc
phục trong các hoạt động kế tiếp.
2.4.3. Đối với đồng nghiệp, nhà trường.
Đối với BGH khi thấy được kết quả trên trẻ thì tin tưởng và tạo mọi điều
kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ, đồng thời khuyến khích giáo viên
trong trường cùng áp dụng biện pháp này.
Đối với tổ chuyên môn tạo điều kiện để tổ chức các buổi giao lưu cùng tôi
xây dựng kế hoạch của hội thi làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo cho trẻ.
Đối với đồng nghiệp họ cũng nhận thức đúng hơn về vai trò của hoạt động
này, họ ủng hộ, hỗ trợ tôi khi tôi áp dụng các biện pháp mới. Ngược lại, khi đồng
nghiệp cần sự hồ trợ tôi sẵn sàng tái hiện lại trên trẻ và chia sẻ kinh nghệp với mọi
người.
2.4.4. Đối với phụ huynh.
Sau khi áp dụng các biện pháp này tôi thấy phụ huynh hiểu được những khó
khăn của cô giáo khi dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi cũng như khó khăn vất vả của
giáo viên mầm non trong chăm sóc và giáo dục trẻ. Họ hiểu rằng trẻ đến lớp không
chỉ “ hát vài bài, ăn, và ngủ” như những suy nghĩ lệch lạc trước kia nữa mà trẻ
mầm non lớp B2 được chăm sóc, giáo dục và phát triển toàn diện. Từ hiểu biết
đúng họ chia sẻ, tin tưởng và ủng hộ, hỗ trợ tôi tìm vật liệu cho trẻ hoạt động, họ
tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động cũng như hướng dẫn trẻ làm các bài tập
ở nhà. Đó cũng là nền tảng cho sự tin tưởng vào phương pháp giáo dục của tôi.
Như vậy, hiệu quả chăm sóc giáo dục trẻ ở lớp tôi luôn có sự đồng hành và tín
nhiệm của các bậc phụ huynh.
III.KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
3.1.Kết luận.
19
Sáng kiến kinh nghiệm này đã được tôi dày công nghiên cứu tuy nhiên do tôi
là một giáo viên trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm nên rất mong nhận được sự góp ý
tận tình từ cấp trên và bạn bè đồng nghiệp.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 28 tháng 02
năm2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết sáng kiến
20
Nguyễn Thị Hải Vân
21