MỤC LỤC
TÊN ĐỀ MỤC
Trang
1: MỞ ĐẦU.
1-2
1.1: Lí do chọn đề tài
1-2
1.2: Mục đích nghiên cứu
2
1.3: Đối tượng nghiên cứu
2
1.4: Phương pháp nghiên cứu
2
2: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2-17
2.1: Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Biện pháp 4: Phối hợp với phụ huynh để giáo dục kĩ năng sống
cho trẻ
2.4: Hiệu quả
14-17
3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1: Kết luận
17-18
17
2: Kiến nghị
17
18
1
1: Mở đàu
1.1: Lí do chọn đề tài:
“Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” có thể nói câu hát này cứ vang vọng
mãi trong tâm hồn của tôi - một cô giáo mầm non như luôn nhắc nhở cho tôi về
lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp của mình chính là người góp một phần
nhỏ bé của mình vào việc ươm những mầm xanh tương lai của đất nước, góp
phần đào tạo một thế hệ là chủ nhân tương lai của đất nước phát triển toàn diện
về mọi mặt.
thương tích ngày càng gia tăng tập trung ở lứa tuổi thiếu nhi, tôi thiết nghĩ tỉ lệ
trẻ bị bắt cóc, tai nạn thương tích ngày càng tăng một phần là do trẻ chưa có kỹ
năng ứng phó với những hoàn cảnh nguy cấp, chưa biết cách tự bảo vệ bản thân
trước những sự nguy hiểm có thể xảy ra.
Từ thực tế trên, tôi nghĩ rằng nếu chúng ta làm tốt việc giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ chính là đặt nền móng giúp trẻ trở thành con người mới, chủ động,
sáng tạo. Giúp trẻ có được những kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những
điều nên làm và không nên làm, giúp trẻ tự tin, chủ động và biết cách ứng xử
phù hợp trong cuộc sống, khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo của trẻ. Tạo tiền đề
cơ bản để trẻ trở thành người có trách nhiệm và có tự chủ trong cuộc sống của
bản thân mình. Do nhận thấy hoạt động này có ý nghĩa quan trọng đối với trẻ
nên tôi đã trăn trở tìm biện pháp khắc phục thực trạng trên. Tôi xin mạnh dạn
trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp một số kinh nghiệm mà tôi cho là tâm đắc với
đề tài: “Kinh nghiệm rèn kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non ”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài “Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi ở
trường mầm non”. Tôi muốn rèn luyện cho trẻ những kỹ năng sống cơ bản và
cần thiết với trẻ, giúp trẻ có được những kinh nghiệm sống để trẻ biết được mình
nên và không nên làm gì, giúp trẻ tự tin, chủ động trong cuộc sống, tạo cho trẻ
những nhân cách tốt cho sau này.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Sáng kiến kinh nghiệm thuộc lĩnh vực môn phát triển kỹ năng xã hội cho trẻ
mầm non. Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi thực hiện tại
lớp mẫu giáo nhỡ B1 trường mầm non.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài thì tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp sưu tầm
Giáo dục kỹ năng sống nhằm tăng sức đề kháng, tăng năng lực cho trẻ
hôm nay và vững bước trong tương lai. Ở mỗi lứa tuổi, mỗi thời kỳ, trẻ có
những đặc điểm tăng trưởng và phát triển khác biệt mang tính chất phức tạp
riêng của nó.
Qua việc giáo dục kỹ năng sống trẻ sẽ được lĩnh hội các kiến thức phù
hợp với trẻ từ đó trẻ sẽ phát triển cân đối hài hòa cả về thể chất lẫn tâm hồn.
Với từng giai đoạn phát triển của từng lứa tuổi thì việc giáo dục kỹ năng
cũng đòi hỏi người giáo dục trẻ phải có kiến thức kỹ năng đúng đắn như vậy đây
cũng là cơ hội cho người giáo dục trẻ thêm cơ hội học hỏi và trau dồi kinh
nghiệm của bản thân từ đó có thể rút kết ra những kinh nghiệm để có cách giáo
dục trẻ tốt nhất.
Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ, vì đây là giai đoạn trẻ có đặc điểm về trí nhớ
đó là rất nhanh nhớ nhưng cũng nhanh quên nên việc nắm bắt tâm lý trẻ cũng
như việc dạy kỹ năng sống cho trẻ còn gặp nhiều khó khăn.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở lớp tôi
gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
a. Thuận lợi
Trường mầm non có khu trung tâm trường đặt tại trung tâm của khu dân
cư, có nhiều thuận lợi cho việc đưa đón trẻ. Trong những năm qua mặc dù điều
kiện kinh tế tài chính của nhà trường và địa phương còn khó khăn. Nhưng dưới
sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự tham gia tích cực của
các ban nghành đoàn thể, đặc biệt là hội cha mẹ học sinh đã luôn sát cánh cùng
với nhà trường thực hiện tốt công tác xây dựng sữa chữa cơ sở vật chất và mua
sắm trang thiết bị và kết hợp trong việc chăm sóc giáo dục trẻ.
Đội ngũ các bộ giáo viên đủ về số lượng, hợp lí về cơ cấu, chuẩn về
trình độ, mẫu mực về đạo đức, yêu nghề mến trẻ, nhiệt tình trong công tác.
3
nhiều nên việc chăm sóc giáo dục trẻ cũng như dạy kỹ năng sống cho trẻ tôi gặp
không ít khó khăn.
- Có không ít cha mẹ trẻ nhận thức về dạy kỹ năng sống cho trẻ chưa rõ
ràng. Họ đưa con đến trường rồi phó mặc việc giáo dục trẻ cho giáo viên, cho
con đi học chỉ cần biết hát, biết múa, biết đọc thơ, kể chuyện thế là đủ, còn lại
các việc khác không quan trọng. Nhiều phụ huynh còn cho rằng trẻ con biết gì,
làm được gì mà dạy kỹ năng sống. Chính vì vậy việc phối hợp với các bậc phụ
huynh trong việc dạy kỹ năng sống cho trẻ tôi gặp nhiều khó khăn.
Do nhu cầu mưu sinh nên nhiều bố mẹ đi làm ăn xa nhà để con ở nhà cho
ông bà trông nom, ông bà tuổi cao sức yếu, hoặc là cưng chiều cháu quá mức
dẫn đến trẻ có nhiều thói quen không tốt nên việc rèn luyện kĩ năng cho trẻ gặp
nhiều khó khăn hơn.
Một bộ phận phụ huynh nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của việc giáo
dục kĩ năng sống cho trẻ, có phụ huynh khi thấy trẻ thực hiện các việc lao động
tự phục vụ như lau mặt, thay quần áo, rửa tay ... thì tỏ thái độ không hài lòng vì
cho rằng tất cả việc đó là giáo viên phải làm cho trẻ.
4
- Do gia đình chỉ có từ 1-2 trẻ nên gia đình rấ cưng chiều trẻ không cho
trẻ làm bất cứ việc gì nên dẫn đến tình trạng trẻ không biết cách tự phục vụ bản
thân mình như trẻ đã 4-5 tuổi mà vẫn chưa biết tự xúc cơm ăn, chưa biết cách
mặc áo quần,...
- Đồ dùng đồ chơi, trang thiết bị, phục vụ hoạt động đã có sự đầu tư
nhưng chưa đa dạng như đồ chơi ngoài trời còn ít. Vì vậy không thu hút được
hứng thú của trẻ, làm hạn chế kết quả của hoạt động.
- Bên cạnh đó, các cháu tuy cùng độ tuổi nhưng nhận thức lại không đồng
đều, có nhiều cháu sinh cuối năm và có nhiều cháu thể lực không tốt, đây cũng
là một trong những nhân tố làm hạn chế kết quả của hoạt động giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ.
21
60%
thân.
3. Kỹ năng tuân thủ quy tắc xã hội.
35
10 28,5% 25 71,5%
4. Kỹ năng hợp tác.
35
9
26%
26
74%
5. Kỹ năng ứng xử phù hợp với
35
16
46%
19
54%
người xung quanh.
- Kết quả khảo sát trên cho thấy, tỉ lệ % trẻ có kỹ năng sống ở mức đạt
còn quá thấp, giao động từ 26 % đến 48,5%.
- Có tới 51,5 % đến 74 % trẻ ở mức chưa đạt.
2.3. Các sáng các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Đứng trước tình hình như vậy, tôi luôn đắn đo suy nghĩ làm thế nào để
nâng cao kết quả giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, tạo cơ hội để trẻ vận dụng kiến
thức kỹ năng vào thực tiễn cuộc sống, để những kỹ năng đó trở thành thuộc tính
vững chắc trong nhân cách trẻ.
Bản thân tôi luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu và thực hiện từ đó đã lựa
chọn được một số biện pháp có hiệu quả sau:
Biện pháp 1 : Tổ chức cho trẻ luyện tập thường xuyên để phát triển các
Ví dụ: Khi dạy trẻ cách mặc áo, tôi cho trẻ chơi trò chơi “Ai nhanh hơn,
khéo hơn”, cách chơi như sau: Cho 2 trẻ lên thi mặc áo, đầu tiên tôi gợi mở, giới
thiệu với trẻ các thao tác mặc áo sau đó tổ chức cho trẻ chơi. Cả lớp đếm ngược
cùng cô từ 5 đến 1, khi nghe hết giờ phải dừng tay, cô và các bé kiểm tra kết quả
và tặng quà. Việc xác định nội dung cho trẻ thực hành, tôi dựa trên nguyên tắc
cho trẻ làm quen từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Chẳng hạn, cũng dạy
trẻ cách mặc áo nhưng tuần đầu tôi dạy trẻ cách mặc áo có khuy bấm, tuần tiếp
theo tôi dạy trẻ cách mặc áo có khuy cài và những tuần sau là áo có khoá kéo.
Lúc đầu trẻ thực hiện rất vụng về lúng túng nhưng do luyện tập thường xuyên và
có kế hoạch nên các thao tác của trẻ dần chính xác hơn. Với cách tổ chức có hệ
thống và linh hoạt như vậy trẻ lớp tôi đã có kỹ năng chăm sóc bản thân tương
đối tốt.
( Trẻ Chơi thi đua “ Ai nhanh hơn, khéo hơn”)
Ví dụ: Dạy trẻ biết xếp ghế đúng nơi quy định như xếp nhẹ nhàng, không
gây ồn, khi xếp ghế ngồi học phải xếp thẳng hàng theo đúng tổ của mình, khi
7
ngồi ăn ghế phải xếp sát bàn, khi ra về phải xếp ghế vào góc lớp. Hoặc khi xếp
dép phải xếp kẹp đôi, xếp lần lượt hết đôi này đến đôi khác theo thứ tự ... Nhờ
được tham gia và nhắc nhở thường xuyên nên ý thức của trẻ trong việc chấp
hành các quy tắc cô đưa ra rất tốt.
( Trẻ xếp ghế đúng nơi quy định)
Ví dụ: Hướng dẫn trẻ trải răng thực hiện thông qua trò chơi, làm động tác
mô phỏng, trẻ sẽ thấy thoải mái và bắt chước bạn làm theo dễ dàng hơn. Tôi tiến
hành hướng dẫn trẻ trước tiên trẻ lấy cốc nước, nhúng ướt bàn chải tay phải cầm
bàn chải, tay trái cầm tuýp kem đánh răng nhắc trẻ lấy vừa kem, không nhiều
(Trẻ nhặt rác trong giờ hoạt động ngoài trời)
Với biện pháp này, các kỹ năng cần có luôn được củng cố và hoàn thiện
một
cách chính xác. Kết quả đạt được rất khả quan nhưng chưa phải là đủ. Để cho
các kỹ năng sống của trẻ được hình thành và phát triển một cách liên hoàn tôi
tiến hành thực hiện biện pháp thứ 2.
10
Biện pháp 2 : Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mọi lúc mọi nơi.
Từ việc phối hợp với phụ huynh, tôi có thêm thông tin về các kỹ năng
sống của trẻ ở nhà. Từ đó tôi có kế hoạch cụ thể và lựa chọn phương pháp giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ phù hợp bằng cách giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mọi
lúc mọi nơi.
Để việc làm có hiệu quả, trước tiên tôi thự c hiện nghiêm túc chế độ giờ
giấc trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Đây là một trong những nhân tố giáo dục
có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ phẩm chất cá nhân, khả năng tuân thủ yêu cầu
của người lớn và khả năng định hướng về thời gian cho trẻ. Tôi đã căn cứ vào
nội dung cụ thể của từng hoạt động để lựa chọn nội dung lồng ghép cho phù
hợp. Thông qua giờ đón trẻ tôi lồng ghép giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ như:
Biết lễ phép chào cô, chào bố mẹ, hỏi han bạn….Hoặc tôi lồng ghép kỹ năng tự
phục vụ bản thân và chấp hành quy định của lớp.
Ví dụ : Tôi dạy trẻ biết cất ba lô vào tủ, biết xếp dép lên giá, đi vệ sinh
đúng nơi quy định, biết chú ý nghe khi cô, bạn nói với mình, biết chờ đến lượt
khi được nhắc nhở, biết trao đổi thỏa thuận với bạn để cùng thực hiện hoạt động
chung…..)
Thông qua hoạt động có chủ định, đây là một trong những hoạt động để
tôi tích hợp có hiệu quả nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Tôi căn cứ vào
nội dung của từng tiết học để tích hợp một cách hài hoà, không ôm đồm.
Các kỹ năng tôi dạy trẻ đó là:
+ Kỹ năng giao tiếp: Trẻ biết lắng nghe cô, bạn, nêu ý kiến, chia sẻ thông
tin.
+ Kỹ năng xử lý tình huống: Khi ngồi trên xích đu chẳng may bị ngã bé
cần làm gì?( Nằm yên, chờ xích đu dừng hẳn mới ngồi dậy để tránh xích đu đập
vào đầu, bạn khác chạy đi báo với cô…)
+ Kỹ năng ra quyết định: Làm gì hay không làm gì để phòng tránh ngã?
( Không đu quá nhanh, không xô đẩy bạn khi ngồi trên xích đu, nắm chắc tay
cầm…)
Hay qua hoạt động “Quan sát thời tiết”, tôi cho trẻ quan sát nhận biết thời
tiết trong ngày từ đó giáo dục trẻ ăn mặc phù hợp với thời tiết để giữ gìn sức
khỏe, bên cạnh đó tôi kết hợp lồng ghép dạy trẻ kỹ năng nhận biết mối nguy
hiểm của thiên tai như sấm, sét, tia lửa điện..., rèn cho trẻ các kỹ năng cần thiết
như không đi ra ngoài khi trời mưa to, không trú mưa ở các gốc cây to để phòng
tránh thương tích có thể xảy ra.
Thông qua giờ hoạt động góc: Chúng ta biết rằng: “Trẻ học mà chơi, chơi
mà học”. Vì thế qua việc tham ra chơi ở các góc thì các kỹ năng sống đựơc trẻ
tiếp thu một cách dễ dàng nhất.
Ví dụ : Qua góc chơi phân vai mẹ con, trẻ học được các kỹ năng như: Kỹ
năng giao tiếp( giao tiếp giữa mẹ với con, trẻ biết nói nựng con, dặn dò con, giao
tiếp giữa các thành viên trong gia đình), kỹ năng chăm sóc (biết lấy nước cho
con uống, xúc bột cho con ăn), kỹ năng hợp tác ( trẻ học được cách chơi trong
nhóm chơi, biết trò chuyện chia sẻ với bạn bên cạnh…. Sau khi chơi xong trẻ
biết cất đồ chơi đúng nơi quy định.
Không chỉ ở góc phân vai trẻ mới học được các kỹ năng sống mà ở tất cả
các góc chơi khác thì các kỹ năng của trẻ đều có thể được cũng cố và phát huy.
Ví dụ: Ở góc xây dựng, trẻ có kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm. Trẻ ở
lớp tôi đã biết tự phân vai chơi cho nhau và chơi rất đoàn kết, không tranh giành
đồ chơi của nhau và đã biết cùng nhau tạo nên công trình đẹp ( ví dụ: xây ngôi
trường của bé, trẻ phân công nhau: Bạn A thì xếp hàng rào, bạn B chở gạch, bạn
đỡ mình. Từ đó tôi giáo dục trẻ biết cách quan tâm chia sẻ với người khác, góp
phần vào việc hình thành nhân cách, tình cảm cho trẻ.
Tóm lại, cần giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mọi lúc mọi nơi, đảm bảo tính
liên tục để mỗi kỹ năng, phẩm chất mới được hình thành sẽ trở thành thói quen,
thành thuộc tính vững chắc trong nhân cách trẻ. Tuy nhiên không nên lạm dụng
tích hợp quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động chính cũng như
sẽ gây tâm lý nặng nề cho trẻ khi tham gia vào các hoạt động đó. Sau mỗi hoạt
động, tôi nhận xét đánh giá các kỹ năng đạt được trên trẻ bởi đây cũng là một
trong những biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ rất hiệu quả.
Biện pháp 3 : Đánh giá kỹ năng sống của trẻ thường xuyên.
Việc nhìn nhận, xem xét lại các công việc đã làm trong một thời gian nhất
định sẽ rút ra được những bài học bổ ích, có những điều chỉnh hoặc cải tiến các
hoạt động tiếp theo đạt hiệu quả hơn. Việc đánh giá các kỹ năng sống của trẻ
thường xuyên lại có vai trò đặc biệt hơn.
Sau mỗi hoạt động trong ngày, tôi luôn dành thời gian để nhận xét đánh
giá hoạt động đó nhằm cũng cố các kỹ năng cho trẻ và tìm ra biện pháp để hoạt
động sau cô cùng trẻ thực hiện tốt hơn.
Ví dụ: Qua hoạt động góc, tôi nhận xét đánh giá góc bán hàng: Hôm nay
bác Hường bán hàng thật là khéo, biết chào mời khách lịch sự, biết nhận tiền của
khách và đưa bằng 2 tay, biết cảm ơn khách, nhưng tôi thấy tiền của bác cất
chưa cẩn thận, tôi khuyên bác lần sau nếu có nhiều tiền như vậy nên cất vào túi,
đừng để lên bàn như vậy nhé! Khi nghe những lời nhận xét đơn giản như vậy, trẻ
có thêm tự tin vào bản thân, nắm được kỹ năng giao tiếp lịch sự, hình thành tính
cẩn thận cho trẻ. Hoặc qua việc nhận xét giờ ăn trưa: Hôm nay cô cảm ơn bạn
Bảo Ngọc, bạn Hiếu, bạn Xuân Anh đã giúp cô chuẩn bị bữa ăn cho các bạn, 3
bạn đã biết chia thìa vào bát, bê cơm cho các bạn bằng 2 tay và khi đưa cho các
bạn thì đặt nhẹ nhàng. Như vậy bản thân cháu Bảo ngọc, cháu Hiếu, cháu Xuân
13
không phải là chuyện một sớm một chiều mà là cả một quá trình. Các kỹ năng
sống phải được giáo dục, rèn luyện đồng nhất thì mới bền vững và thành kỹ xảo.
Nếu chỉ dạy kỹ năng sống cho trẻ ở trường thôi thì chưa đủ. Bên cạnh đó, môi
trường gia đình rất thích hợp để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Trẻ được tiếp thu
các kỹ năng thông qua gia đình một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà lại hiệu quả
cao. Mặt khác, nuôi dạy con luôn là mối quan tâm hàng đầu của các bậc phụ
huynh nhất là trong thời buổi hiện nay, ai cũng muốn con mình đạt thành tích
cao trong học tập cũng như trưởng thành hơn về mặt nhân cách. Tuy nhiên việc
làm thế nào để có thể giúp trẻ phát huy được khả năng tiềm ẩn? Làm thế nào để
trẻ có những kỹ năng sống tốt nhất thì nhiều phụ huynh còn lúng túng trong vấn
đề này. Trên thực tế nhiều phụ huynh chưa có kiến thức về kỹ năng sống, không
biết kỹ năng sống bao gồm những kỹ năng nào? Cần giáo dục trẻ từ đâu, dạy trẻ
những gì? Chính vì vậy mà tôi phải tuyên truyền đến các bậc phụ huynh để họ
hiểu tầm quan trọng của kỹ năng sống, những kiến thức cần dạy trẻ, phương
pháp dạy trẻ như thế nào để trẻ tiếp thu một cách thoải mái, tự nhiên. Việc tuyên
14
truyền đến các bậc phụ huynh được tiến hành trong giờ đón, trả trẻ, thông qua
góc tuyên truyền, thông qua việc mời phụ huynh thăm quan hoặc tham gia trực
tiếp vào các hoạt động của lớp hay thông qua buổi họp phụ huynh. Cụ thể:
Thông qua giờ đón – trả trẻ, tôi đã trao đổi với phụ huynh về tình hình sức
khoẻ, vệ sinh cá nhân, những phản ứng kém linh hoạt cũng như những kỹ năng
của trẻ để cùng phụ huynh giáo dục trẻ, giúp trẻ chủ động trong các hoạt động.
Ví dụ: Ở lớp tôi có cháu Uyên Vân, thời gian đầu đi học cháu không thể
tự mình kéo quần lên sau mỗi lần đi vệ sinh, không biết đi dép có quai, thậm chí
không biết đội mũ len đúng cách nếu không có sự giúp đỡ của cô vì tất cả những
việc đó ở nhà bố mẹ đều làm cho cháu. Thông qua trao đổi với mẹ của cháu, tôi
biết cháu là con một trong gia đình có điều kiện. Ở nhà bà và mẹ vì quá yêu
thương mà bao bọc cháu, làm thay hết mọi việc cho cháu nhưng không biết rằng
sao ở nhà con không tự xúc cơm ăn? Cháu trả lời rằng: Vì mỗi khi con đánh rơi
cơm, làm đổ canh mẹ thường quát con còn cô giáo thì không. Qua buổi thăm
quan hôm đó chị Lan đã rút được kinh nghiệm trong việc dạy kỹ năng sống cho
15
trẻ đó là không nên nóng vội, ít la mắng cháu, nên tôn trọng cháu, con có quyền
làm sai, nếu sai mẹ sẽ động viên con làm lại. Việc phối hợp với phụ huynh bằng
hình thức này đã giúp phụ huynh hiểu biết thêm về cách dạy kỹ năng sống cho
trẻ để từ đó dạy con mình các kỹ năng sống tốt hơn.
Thông qua các buổi họp phụ huynh, tôi cũng đã chủ động lồng ghép nội
dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đến các bậc phụ huynh như các kĩ năng tự
phục vụ bản thân và kĩ năng nhận biết được các nguy hiểm xung quanh trẻ ,... từ
đó trẻ biết ứng phó với những tình huống có thể xảy ra. Các phụ huynh đã tiếp
nhận thông tin một cách đồng bộ, không gò bó, gượng ép. Tôi giải thích cho phụ
huynh hiểu việc dạy kĩ năng sống cho trẻ cần phải bắt nguồn từ gia đình vì trẻ
học hỏi nhiều nhất từ chính bố mẹ của mình, phụ huynh phải là những tấm
gương tốt để trẻ noi theo.
Bên cạnh việc trao đổi với phụ huynh hay mời phụ huynh tham quan lớp
học thì để phụ huynh hiều hơn về tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống
cho trẻ thì việc mời phụ huynh tham gia vào việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ
là rất cần thiết, nhất là các kĩ năng giáo dục trẻ bảo vệ mình trước những nguy
hiểm và biết cách bảo vệ bản thân mình.
Tổ chức cho trẻ thực hành các tình huống trong cuộc sống, giáo viên tạo
tình huống cho trẻ giải quyết với sự góp sức của phụ huynh.
Ví dụ: Cô tổ chức cho trẻ( hoặc một nhóm trẻ) được trải nghiệm thực tế,
áp dụng theo chương trình “Con đã lớn khôn”. Cô yêu cầu trẻ đi tới một cửa
hàng và mua cho cô một món đồ, cô chỉ đường và hướng dẫn trẻ đi, trong khi
trẻ đi tới cửa hàng, cô đi theo để giám sát trẻ nhưng không để cho trẻ biết là cô
đang giám sát trẻ, tạo tình huống là cô mời hai phụ huynh tham gia, một phụ
Tổng
Đạt
Chưa đạt
số trẻ
Lĩnh vực khảo sát
trong
Số
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
lớp
lượng
%
lượng
%
1. Kỹ năng giao tiếp lịch sự lễ phép.
35
33
94%
2
6%
2. Kỹ năng phục vụ chăm sóc bản
35
34
97%
3
3%
thân.
3. Kỹ năng tuân thủ quy tắc xã hội.
35
động giáo dục kỹ năng sống.
3. Kết luận, kiến nghị
a. Kết luận
Sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học công nghệ trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi phải có những con người
năng động, sáng tạo, có khả năng làm chủ bản thân, ứng xử phù hợp với môi
trường xung quanh và có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của
cuộc sống. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ngay từ lúc còn bé là rất cần thiết.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ cần được quan tâm và thực hành một cách
17
mạnh mẽ, toàn diện hơn nữa ở cả gia đình, nhà trường và xã hội. Góp phần tạo
cho xã hội có những “Mầm ươm” khoẻ mạnh và sẵn sàng vươn lên.
Giáo dục kỹ năng sống là việc làm thường xuyên đòi hỏi mỗi giáo viên
phải nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp, tìm các biện pháp để tổ chức cho trẻ
được hoạt động, chuẩn bị những tiền đề cần thiết giúp cho trẻ bước vào học phổ
thông và học làm người.
b. Kiến nghị
Trong quá trình giảng dạy, tôi có một số ý kiến đề xuất như sau:
- Đối với nhà trường:
Cần làm tốt hơn nữa công tác tham mưu với chính quyền địa phương, tăng
cường về cơ sở vật chất để tạo điều kiện cho việc tổ chức các hoạt động dạy và
học tốt hơn.
- Đối với phòng giáo dục:
Là giáo viên đứng lớp nhưng khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào việc
giáo dục kỹ năng sống và các hoạt động khác còn hạn chế, bởi trình độ sử dụng
thiết bị tin học của bản thân còn chưa cao. Tôi mong muốn có lớp học tổ chức
vào thời gian hợp lý để giáo viên được tham gia học tập nâng cao khả năng ứng
dụng công nghệ thông tin vào việc tổ chức các hoạt động cho trẻ, góp phần nâng