MỤC LỤC
NỘI DUNG
MỤC LỤC
TRANG
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3.Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2.3.Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.4. Hiệu quả đạt được.
3. KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
3.2. Kiến nghị
* Tài liệu tham khảo
2
3
3
3
3
3
4
5
18
trình khám phá hấp dẫn thú vị. Trẻ thường đặt ra những câu hỏi ngô nghê hết
sức đáng yêu về thế giới xung quanh đầy bí ẩn. Trẻ muốn hiểu, muốn biết những
điều mới lạ. Nên đây là “ giai đoạn vàng” để khai mở tiềm năng, phát triển trí
tuệ và sáng tạo cho trẻ.
Thực tế giảng dạy cho thấy một số hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 45 tuổi còn tẻ nhạt. Phương tiện cho trẻ khám phá chưa phong phú. Thấu hiểu
được nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh là vô tận và cần thiết. Đây là một
bước tiến quan trọng với mục tiêu phát triển tiềm năng trí tuệ. Cùng với môi
trường học tập tốt, dưới sự hướng dẫn của giáo viên sẽ giúp trẻ có được những
giờ khám phá khoa học thú vị.
Dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của Ban giám hiệu, bản thân tôi trực tiếp
đứng lớp 4 - 5 tuổi, tôi luôn trăn trở mong muốn mang đến cho trẻ những điều
mới lạ hấp dẫn. Trẻ không “học suông”, học lý thuyết mà học thông qua các
hoạt động thực nghiệm trực quan sinh động đầy hứng thú. Điều này sẽ giúp trẻ
khơi mở tính tò mò vốn có sẵn. Phát huy tiềm năng thế mạnh cùng với những
đam mê sáng tạo, hứng khởi học tập. Vì thế trẻ khám phá khoa học giúp trẻ phát
triển về thể chất và các kỹ năng lao động. Có thể nói khám phá khoa học là một
phương pháp quan trọng chủ yếu để trẻ phát triển toàn diện. Vì vậy tôi đã chọn
2
đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng khám phá khoa học cho trẻ 45 tuổi ở trường Mầm non Nga Yên” để nghiên cứu.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu quá trình khám phá khoa học cho trẻ mấu giáo 4-5 tuổi từ đó
tìm ra biện pháp gây hứng thú cho trẻ khi khám phá thế giới xung quanh, nhằm
nâng cao chất lượng dạy và học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Trẻ Mẫu giáo 4-5 tuổi tại trường Mầm non Nga Yên.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
3
viên biết mình phải làm gì? làm như thế nào để đem lại hiệu quả cao giúp trẻ
phát triển toàn diện .
2.2. Thực trạng
2.2.1. Thuận lợi:
Nhận thấy được tầm quan trọng và cần thiết của việc tạo môi trường cho trẻ
khám phá thế giới xung quanh. Nên Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm,
chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, các ban nghành đoàn thể. Xây dựng được các
phòng học đạt chuẩn tạo điều kiện cho trẻ hoạt động thoải mái, an toàn. Khuôn
viên nhà trường xanh- sạch- đẹp. Ban giám hiệu nhà trường lãnh đạo toàn diện,
chú trọng công tác nâng cao chất lượng giáo dục và đảm bảo an toàn cho trẻ nên
môi trường giáo dục của toàn trường đã ổn định.
Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi bồi dưỡng chuyên môn, nâng
cao năng lực giảng dạy cho đội ngũ giáo viên.
Bản thân tôi luôn yêu nghề, mến trẻ, ham học hỏi, nâng cao chuyên môn,
tìm tòi và tự làm một số đồ dùng để chơi, sưu tầm tranh ảnh sách báo để phục vụ
các hoạt động học và hoạt động vui chơi của trẻ.
Trẻ trong lớp cùng một độ tuổi nên nhận thức của trẻ khá đồng đều. Phụ
huynh luôn quan tâm, chăm sóc, giáo dục trẻ giúp tôi có những điều kiện thuận
lợi để thực hiện đề tài này.
2.2.2. Khó khăn:
Tuy nhiên, ngoài những thuận lợi trên thì tôi cũng gặp không ít khó khăn.
Cơ sở vật chất còn hạn chế đồ dùng phục vụ các hoạt động còn nghèo nàn,
thiếu những hình ảnh đẹp, sinh động để trẻ khám phá.
Tạo môi trường cho trẻ hoạt động ở bên ngoài lớp học chưa đa dạng phong
phú.
Đầu năm số trẻ đến lớp đa phần còn nhút nhát, bị động trong học tập, khả
năng tiếp thu chậm, vốn hiểu biết về môi trường xã hội còn hạn chế.
CĐ
T
K
Có ý thức chăm
sóc, bảo vệ MTXQ
Đạt
TB
CĐ
T
K
Đạt
TB
CĐ
T
K
TB
CĐ
Tỷ lệ % 59
24
12
5
36,5 36,5 19,5 7,5 36,5 32 19,5 12
17
10
10
4
42
24
24
10
2.3. Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Đứng trước thực trạng trên, tôi luôn trăn trở và suy nghĩ tìm nhiều biện
pháp để hoạt động khám phá khoa học đạt kết quả cao, từ đó tăng dần khả năng
quan sát, phán đoán, so sánh và phân loại cho trẻ, làm phong phú biểu tượng về
được trực tiếp tạo sản phẩm. Hình thành và củng cố những biểu tượng cơ bản về
đối tượng cho trẻ. Việc tôi sử dụng các nguyên vật liệu từ thiên nhiên, phế thải
khiến trẻ hào hứng tham gia hoạt động đồng thời phát huy tính sáng tạo của trẻ.
5
Đồ dùng của cô và trẻ phải đầy đủ, đẹp, hấp dẫn nhằm kích thích hứng thú,
tò mò, lòng ham hiểu biết của trẻ, tôi thường sử dụng những đồ dùng bằng vật
thật hoặc hình ảnh đẹp cho hoạt động của trẻ thêm sinh động.
- Với phụ huynh, tôi vận động phụ huynh mua thêm truyện, tranh, đồ chơi
về các con vật, rau, củ, quả, cây…. sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ, đồng
giao về các con vật, rau, củ,quả, hoa làm phong phú vốn hiểu biết của trẻ về thế
giới xung quanh trẻ.
- Với chính bản thân mình tôi luôn tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có ở
địa phương như: vải vụn, lá khô, vỏ trai, vỏ trứng, hến, sò, làm tranh ảnh và hình
dạng các con vật, cây cối, hoa quả phục vụ cho hoạt động.
VD: Bằng nửa quả bóng + bìa cát tông bằng kỹ năng tạo hình tôi đã làm
thành con rùa thật ngộ nghĩnh để làm vật mẫu khi cho trẻ làm quen với các con
vật sống dưới nước. Hay từ 2 vỏ hộp sữa chua tôi sử dụng thêm xốp để làm
chân, đuôi và tạo thành con lợn thật đẹp sử dụng khi cho trẻ làm quen về các con
vật sống trong gia đình.
Hình ảnh: Con rùa làm từ quả bóng và con lợn từ vỏ hộp sữa chua
Tôi luôn động viên, khích lệ hướng trẻ cùng tham gia hoạt động làm đồ
dùng đồ chơi. Điều này góp phần không nhỏ giúp trẻ ghi nhớ, khắc sâu những
biểu tượng cơ bản về những đồ vật, đồ dùng mà trẻ sẽ được khám phá.
6
7
Hình ảnh: Trẻ quan sát các loại rau xanh ở vườn trường
Ví dụ: Khi tìm hiểu cây hoa hồng, tôi sẽ cho trẻ nhận biết hoa hồng bằng
việc cho trẻ sờ cánh hoa hồng để cảm nhận cánh hoa mịn và nhẵn, mép lá có
răng cưa, cho trẻ ngửi hoa để thấy mùi thơm của hoa hồng.
Tôi nhận thấy từ việc trẻ được quan sát kỹ, có đầy đủ các đặc điểm của đối
tượng trẻ so sánh rất tốt và phân loại rất nhanh.
Tôi còn sử dụng tranh ảnh, băng đĩa, sách, máy vi tính có nội dung phù
hợp, hình ảnh sắc nét, màu sắc rõ ràng. Với hình thức này tôi nhận thấy trẻ rất
nhạy bén, nhanh nhạy. Hứng thú học tập và ghi nhớ có chủ định.
Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát tranh gà mái đang ấp trứng và đặt ra các câu
hỏi mở nhằm phát huy tính tích cực như: “Trên màn hình là hình ảnh gi”? “Điều
gì sẽ xảy ra khi gà mẹ ấp ủ những quả trứng”?
Ví dụ: Chủ đề “Bản thân” tôi thiết kế phần mềm để chơi trò chơi như: “Tìm
đồ dùng phù hợp với bé” hay trò chơi: “ Bé cần gì để lớn nhanh”.
Kết quả: Các biện pháp này vừa giúp trẻ khám phá được những điều bổ ích
vừa rèn luyện khả năng nhanh tay nhanh mắt. Giúp trẻ phát triển trí thông minh.
2.3.4 Tổ chức tích hợp các môn học giúp trẻ khám phá khoa học:
Để trẻ luôn hứng thú với mỗi hoạt động khám phá khoa học, tôi luôn thay
đổi các phương pháp tích hợp, lồng ghép các môn học khác vào các hoạt động
để trẻ đỡ nhàm chán và làm giàu vốn hiểu biết về thế giới xung quanh cho trẻ.
Việc tích hợp nội dung của lĩnh vực này với các môn học khác giúp trẻ tiếp
thu được những kiến thức đa dạng, phong phú về thế giới khách quan, giúp trẻ
được rèn luyện và rèn luyện các năng lực nhận thức, những xúc cảm và tình cảm
tích cực góp phần quan trọng vào việc giáo dục toàn diện cho trẻ
* Tích hợp môn văn học khi cho trẻ khám phá khoa học
Văn học là một nội dung được tích hợp tương đối phổ biến trong quá trình
nếu các loại hoa hòa thuận bên nhau bổ sung cho nhau để tô điểm thêm cho cuộc
sống.
- Khi trẻ nghe xong câu chuyện trẻ biết thêm đặc điểm màu sắc các loại
hoa. Qua câu chuyện trẻ cũng rút ra bài học cho mình đó là bạn bè học cùng lớp
phải biết yêu thương nhường nhịn nhau, giúp đỡ nhau, đoàn kết cùng tiến bộ.
- Lồng ghép thơ, đồng dao, ca dao.
Để tránh sự nhàm chán và tăng thêm hứng thú, hiểu biết của trẻ, trong tiết
dạy, khi chuyển tiếp giữa các phần trong hoạt động, tôi đã sử dụng các bài thơ,
câu ca dao, bài đồng dao có nội dung phù hợp.
Ví dụ : Khi cho trẻ làm quen với một số đồ dùng trong gia đình, tìm hiểu
về cái bát. Tôi cho trẻ đọc bài thơ : Cái bát xinh xinh
Mẹ cha công tác
Nhà máy Bát Tràng
Mang về cho bé
Cái bát xinh xinh.
…………………
Khi trẻ vừa được tìm hiểu, quan sát trực tiếp cái bát vừa được đọc thơ để
củng cố ghi nhớ hình ảnh về cái bát. Điều đó sẽ giúp trẻ khám phá hứng thú hơn
và tích cực hơn.
10
Hình ảnh : Chiếc bát để trẻ quan sát
VD: Khi cho trẻ làm quen với các con vật sống dưới nước, tôi cho trẻ đọc
bài đồng dao: Con cua mà có hai càng
Con cua mà có hai càng
Đầu, tai không có bò ngang cả đời
Con cá mà có cái đuôi
Cái đuôi ve vẩy nó bơi rất tài
Hình ảnh: Trẻ đang giới thiệu về bức tranh chủ đề động vật
mà trẻ cùng cô tự làm.
Thông qua hoạt động tạo hình trẻ được trải nghiệm, khắc sâu thêm về môi
trường sống, tên gọi và các đặc điểm riêng của các con vật gần gũi trong gia
đình, những con vật sống trong rừng. Không những thế còn phát triển cho trẻ kỹ
năng quan sát, phán đoán, so sánh, phân loại các con vật và giáo dục trẻ yêu quý
bảo vệ các loài động vật.
* Kết quả:
Khi cho trẻ khám phá khoa học tùy theo nội dung chủ đề tôi tích hợp môn
tạo hình cho trẻ vừa đem lại hứng thú khám phá cho trẻ vừa tăng kỹ năng tạo
hình cho trẻ. Thực tế cho thấy khi trẻ khám phá tốt nội dung cô truyền đạt thì
cũng đồng thời những bài tạo hình trẻ tự tay làm ra cũng trở nên đẹp mắt và sinh
động hơn.
* Tích hợp môn toán khi cho trẻ khám phá khoa học:
Trong hoạt động học tôi thường lồng ghép những kiến thức sơ đẳng về
toán, giúp trẻ hứng thú hoạt động và củng cố thêm kiến thức về toán cho trẻ.
- Lồng ghép số lượng và đếm: Tôi luôn tận dụng các cơ hội để cho trẻ
thực hiện kỹ năng đếm, so sánh các nhóm có số lượng khác nhau và làm quen
với chữ số biểu thị số lượng.
VD1: Khi cho trẻ làm quen với con Cua, tôi cho trẻ đếm số chân của con
Cua.
12
Hay: Khi cho trẻ làm quen với các loại côn trùng, tìm hiểu về quá trình
phát triển của con Bướm, tôi cho trẻ chia thành 2 đội, đi trong đường hẹp và lên
gắn các số tương ứng với hình ảnh thể hiện từng giai đoạn phát triển của chúng.
1: Hình ảnh trứng sâu =>2: Hình ảnh sâu non =>3: Hình ảnh sâu trưởng
thành =>4: Hình ảnh nhộng nằm trong kén =>5: Hình ảnh con Bướm.
- Lồng ghép hình dạng:
cho trẻ có thể tổ chức trên nền nhạc êm, nhẹ nhàng vừa có tác dụng kích thích
hứng thú hoạt động của trẻ, vừa có tác dụng làm thước đo thời gian cho một trò
chơi, một cuộc thi vào cuối các hoạt động và các chủ đề, một trong các hoạt
động thu hút được sự tham gia tích cực và sôi động của trẻ đó là thi hát các bài
hát về các đối tượng mà trẻ được làm quen.
VD: Khi cho trẻ làm quen với các loại phương tiện giao thông tôi sẽ cho trẻ
chia làm 2 đội và hát về hai loại phương tiện khác nhau:
13
+ Đội nam: hát các bài về phương tiện giao thông đường bộ
+ Đội nữ: hát các bài về phương tiện giao thông đường thủy.
Lớp tôi phụ trách là lớp mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi nên sau mỗi chủ đề luôn
luôn cùng trẻ tự sáng tác một số bài hát có nội dung phù hợp với chủ đề gây
hứng thú cho trẻ. Sáng tác lời mới cho các làn điệu dân ca, mang lại nội dung
bài hát gần gũi với trẻ. Giúp trẻ dễ nhớ và khắc sâu đối với trẻ.
VD: Dựa theo làn điệu bài Đi cấy - dân ca Thanh Hoá tôi cùng các cháu
đã sáng tác lời mới “ Gia đình yêu thương”
“Gia đình mình thật là vui, gia đình mình thật là vui. Bao nhiêu ngọt bùi sẻ
chia bên nhau. Mong sao con lớn thật ngoan, lớn thật là ngoan. Ba mẹ chăm sóc
các con từng ngày, lớn khôn từng ngày để ngày mai con. Dựng xây đất nước cho
quê nhà đẹp tươi”.
VD: Ở chủ đề “Thế giới thực vật- Tết nguyên đán” tôi sáng tác bài Vè về
mùa xuân:
Ve vẻ vè ve
Nghe vè xuân tới.
Bé mặc áo mới.
Cầm chùm bong bay.
Má đỏ hây hây.
Vui mừng tết đến.
vật sống trên cạn, trong rừng, trong gia đình…
*Tích hợp với chữ cái và chữ viết.
Biểu tượng chữ cái và chữ viết: tôi luôn củng cố cho trẻ trong khi cho trẻ
xem tranh, tiếp xúc với các sự vật trong tự nhiên và trong xã hội.
VD1: Trong chủ đề “Thế giới thực vật” khi cho trẻ quan sát tranh, ảnh và
vật thật, tôi đều ghi tên cụ thể đồ vật và treo vào đối tượng quan sát.
Làm như vậy khi trẻ quan sát tranh và tiếp xúc với vật thật thì trẻ được tri
giác cả tên gọi của chúng.
Chữ cái còn có thể tích hợp một cách hiệu quả vào các trò chơi của trẻ như
trò chơi gắn chữ cái tương ứng với chữ cái chỉ tên các con vật, đồ vật.
VD: Chữ B – Bông hoa. Chữ H – Hoa hồng. Chữ C – Hoa cúc
* Kết quả: Sau khi tổ chức tích hợp các môn học giúp trẻ khám phá khoa
học - cô và trẻ đã thu được kết quả như sau:
- Bản thân Tôi có thêm kinh nghiệm tích hợp sao cho nội dung bài dạy
thêm phong phú mà lại kích thích được sự hứng thú của trẻ.
- 41/41 = 100% Trẻ trong lớp tỏ ra hứng thú, hoạt bát, nhanh nhẹn và chủ
động hơn khi tham gia các hoạt động khám phá khoa học.
- 38/41= 92 % Khả năng quan sát, phân tích, so sánh, hoạt động độc lập và
hoạt động sáng tạo của trẻ tiến bộ rõ rệt, trẻ có nhiều kinh nghiệm hơn về thế
giới xung quanh, ngôn ngữ của trẻ phát triển phát triển mạnh nên trẻ mạnh dạn,
tự tin hơn trong giao tiếp.
- 41/41= 100% Trẻ yêu thiên nhiên, con người, mọi vật xung quanh mình
và có cảm nhận tốt hơn về các đối tượng cần khám phá.
2.3.5. Xây dựng góc khám phá khoa học - làm giàu vốn biểu tượng về
thế giới xumg quanh cho trẻ.
Tôi luôn trăn trở và tìm biện pháp làm thế nào để làm giàu vốn biểu tượng
về thế giới xung quanh một cách tốt nhất cho trẻ và tôi đã xây dựng góc khám
phá khoa hoc:
phù hợp nhất để tôi tiến hành thí nghiệm cho trẻ.
Ví dụ: Thí nghiệm: Sự biến đổi kỳ diệu của nước.
- Mục đích thí nghiệm:
+ Phát triển khả năng phán đoán, suy luận của trẻ thông qua hành động pha
nước màu cho chất lỏng.
+ Nhận biết được sự thay đổi màu của nước và các màu khi pha trộn với
nhau trong nước.
+ Biết pha trộn một số màu cơ bản cần thiết.
+ Giúp trẻ hình thành thói quen khám phá đồng thời phát triển sự khéo léo
cho đôi tay của trẻ.
+ Tạo niềm thích thú và thực hiện công việc đến cùng.
- Điều kiện thí nghiệm:
Chuẩn bị : Lo nhựa trong suốt, một số màu cơ bản, đũa để ngoáy nước và
thìa để xúc bột màu.
- Quá trình thí nghiệm:
+ Cho trẻ đổ một ít nước sạch vào lọ nhựa sau đó để trẻ quan sát màu của
chất lỏng và các loại bột màu. Cho trẻ đoán kết quả khi hòa bột màu vào cốc
nước, sau đó cho trẻ thử nghiệm bằng hành động, quan sát và đưa ra nhận xét.
+ Tôi thảo luận với trẻ: Nếu để màu tự tan trong nước thì sẽ rất lâu “Muốn
cho màu tan nhanh thì phải làm thế nào”?. Cho trẻ dùng đũa ngoáy cốc nước để
màu tan đều. Yêu cầu trẻ so sánh sự khác biệt về màu sắc trong các cốc nước.
+ Cho trẻ thực hiện pha trộn hai màu khác nhau và phán đoán xem điều gì
xảy ra. Để trẻ quan sát hiện tượng biến đổi màu của nước (Đỏ + vàng = Cam,
Đỏ+ trắng = hồng, Xanh sẫm + Vàng = Xanh lá cây) biến đổi.
Đây thực sự là sự trải nghiệm mới mẻ đối với trẻ. Trẻ thực sự thích thú khi
trải nghiệm những điều mới lạ như vậy. Đây là môi trường hoạt động rất tốt giúp
trẻ phát triển khả năng quan sát, phân tích và phán đoán, qua đó còn giáo dục ý
thức chăm sóc, bảo vệ.
rất gần gũi yêu thương, lớp học đó nơi học bao điều hay.”
Ví dụ: Chủ đề “ Quê hương- Đất nước- Bác Hồ” Phụ huynh đã sáng tác bài:
Về thăm quê em ( Dựa heo bài: Lý cây bông)
“ Con mong cô bác về thăm nhà con ở làng quê. Sớm hôm xum vầy vui vẻ
gia đình con. Mẹ cha sớm hôm ân cần, nuôi dạy bảo chúng con. Cùng nhau
chăm sóc cho cây trồng, con vật khỏe lớn nhanh, cùng nhau giữ cho quê mình,
môi trường sạch mát hơn”.
Điều đó trẻ thực sự thích thú. Trẻ hát rất hay và thuộc bài hát rất nhanh.
* Kết quả: Công tác phối kết hợp với Phụ huynh đã đạt được một số kết
quả đáng kể:
- 41/41 cháu = 100% Phụ huynh đã giúp trẻ được tiếp xúc nhiều với thiên
nhiên, cây cỏ, động thực vật, được bố mẹ thường xuyên cung cấp và củng cố
thêm những kiến thức mà tôi đã dạy nên khả năng tiếp thu của trẻ và vốn hiểu
biết về thế giới xung quanh ngày càng phong phú.
- Phụ huynh đã sưu tầm được rất nhiều tranh ảnh, các loại sách báo cũ,
nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương, đồ dùng phế thải đảm bảo an toàn để làm
đồ dùng, đồ chơi phù hợp với nội dung, chủ đề trong năm học.
2.4. Kết quả đạt được
* Đối với bản thân:
Việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào thực tế giảng dạy tôi nhận thấy
mình được trau dồi kiến thức, kỹ năng, nghệ thuật dạy trẻ.
Tôi tích lũy thêm cho bản thân những thủ thuật gây hứng thú cho trẻ khám
phá khoa học. Tùy mỗi chủ đề tôi sẽ đưa ra những hình thức khám phá phù hợp
với trẻ tạo cho trẻ niềm hứng khởi thực sự khi khám phá những điều mới lạ đã
đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy
*Đối với học sinh:
- Trẻ thông minh, nhanh nhẹn, tích cực, chủ động trong mọi hoạt động tìm
tòi và khám phá thế giới xung quanh. Trẻ biết suy nghĩ và đặt ra nhiều câu hỏi
suy luận cho cô và trẻ khác cùng trả lời.
- Trẻ có kỹ năng so sánh phân loại tốt, hiểu biết rộng về tự nhiên và xã hội.
K
TB
30
8
3
Tỷ lệ % 73 19,5 7,5
CĐ
Có ý thức chăm
sóc, bảo vệ
MTXQ
Đạt
T
K
TB
0
31
2
56
24 15
2
CĐ
T
K
TB
25
10
6
0
24
15
0
Chính vì thế giáo dục Mầm non có vai trò quan trọng chính, trách nhiệm
của giáo viên Mầm non vô cùng lớn lao với mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ thành
những con người mới sáng tạo.
3.2. Kiến nghị
- Đối với Phòng Giáo Dục: Tổ chức nhiều hơn nữa công tác bồi dưỡng
chuyên môn về các hoạt động khám phá khoa học qua hội thảo, chuyên đề để
giáo viên có nhiều cơ hội học tập, rút kinh nghiệm trong giảng dạy.
- Tổ chức hội thi sưu tầm đồng dao, ca dao, lời bài hát, làm đồ dùng đồ chơi
cấp huyện. Từ đó phục vụ cho các hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động
khám phá cho trẻ nói riêng.
- Đối với nhà trường: Cần mở rộng diện tích vườn thiên nhiên của bé để
trồng bổ sung cây xanh. Bên cạnh đó trồng cây phân khu vực riêng biệt các loại
cây như cây hoa, cây thuốc nam, cây rau, cây ăn quả, cây cảnh để giúp trẻ khám
phá, chăm sóc các cây được tốt hơn.
Trên đây là một số biện pháp, kinh nghiệm mà tôi đã thực nghiệm “ Một số
biện pháp nâng cao chất lượng khám phá khoa học cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường
mầm non Nga Yên”. Từ đó tôi áp dụng những kinh nghiệm để dạy trẻ nâng cao
các kỹ năng quan sát, phán đoán, so sánh, phân loại và thân thiện với môi trường
xung quanh. Trong quá trình đưa ra đề tài nghiên cứu, tôi vẫn còn một số hạn
chế nên rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý ban hội đồng khoa học các
cấp cùng các đồng nghiệp để những giờ dạy khám phá khoa học nói riêng và
công tác Chăm sóc - Nuôi dưỡng - Giáo dục trẻ nói chung của tôi trong những
năm học tiếp theo đạt kết quả cao hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦATHỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Mai Thị Liên