1. MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài.
Đất nước Việt Nam đang trên đà hội nhập, đổi mới và phát triển từng
ngày. Cùng với các lĩnh vực khác, nền kinh tế nước ta đang tăng trưởng mạnh
mẽ. Chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu xã hội ngày càng tăng, cũng
là lúc vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường được Đảng và Nhà nước ta nói
riêng cũng như thế giới nói chung hết sức quan tâm.
Môi trường đang là một vấn đề trọng đại của thế giới, cùng với sự tăng
trưởng nhanh chóng về dân số, vấn đề đô thị hoá, sự hiểu biết về vai trò và ý
nghĩa môi trường đã làm cho tình trạng môi trường ngày càng trở nên trầm
trọng.
Ở Việt Nam vấn đề môi trường đã và đang là vấn đề cấp bách cần được
quan tâm. Trước bức tranh thực trạng làm cho chúng ta thấy nguy cơ của vấn đề
bảo vệ môi trường.
Hiện nay, cuộc sống đang phát triển ngày càng hiện đại, đời sống vật chất
và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên, đối lập với nó,
tình trạng ô nhiễm môi trường lại có những diễn biến phức tạp. Ô nhiễm môi
trường đang là vấn đề không chỉ của riêng một vùng nào, mà ở khắp nơi, cả
nông thôn, thành thị, miền núi, miền biển, cả các nguồn nước và không khí….
Theo nghiên cứu của các tổ chức bảo vệ môi trường, ở nước ta, 70% các
dòng sông, 45% vùng ngập nước, 40% các bãi biển đã bị ô nhiễm, hủy hoại về
môi trường; 70% các làng nghề ở nông thôn đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm
nghiêm trọng. Cùng với đó, tình trạng nước biển xâm nhập vào đất liền; đất
trống, đồi núi trọc và sự suy thoái các nguồn gien động thực vật đang có chiều
hướng gia tăng là hệ quả của việc hủy hoại môi trường. Bảo vệ môi trường hơn
bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội.
Chính vì vậy, bảo vệ môi trường là mối quan tâm hàng đầu hiện nay đối
với nhiều quốc gia trên thế giới. Đó là vấn đề toàn cầu “Môi trường và sự phát
triển bền vững” đã lôi cuốn và đoàn kết mọi quốc gia vào công cuộc bảo vệ
môi trường – ngôi nhà chung của chúng ta.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, việc giáo dục môi trường cho học sinh
chủ động thực hiện các mục tiêu Giáo dục môi trường; dạy học ngoài lớp giúp
giáo viên tạo ra nhiều tình huống thực tế, từ đó dễ làm thay đổi thái độ, hành vi
và thang giá trị Môi trường trong học sinh; học sinh có cơ hội để thực hiện hiểu
biết của mình về Môi trường, trên cơ sở đó dễ hình thành những hành vi đúng
đắn về Môi trường, tạo điều kiện gắn quy trình phát triển của học sinh với cuộc
sống thực tế.
Bản thân là nhà quản lý, trực tiếp chỉ đạo công tác chuyên môn trong nhà
trường, tôi nhận thức được rằng Bậc tiểu học là nền móng của hệ thống giáo dục
quốc dân. Học sinh tiểu học đang ở độ tuổi định hướng và phát triển nhân cách.
Ở nhà trường, cùng với việc tổ chức để các em khám phá các tri thức về toán
học, về tự nhiên xã hội cũng như cách ứng xử theo các chuẩn mực đạo đức thì
việc kết hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cũng là nền tảng cho việc đào
tạo các em trở thành những công dân có ích cho xã hội. Đó là trách nhiệm của
giáo viên chúng ta, những người đang làm công tác giáo dục.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã tập trung nghiên cứu: “Chỉ đạo giáo
dục, ý thức bảo vệ môi trường ở trường Tiểu học”
1.2. Mục đích nghiên cứu.
- Góp phần xây dựng nhận thức và ý thức về vấn đề bảo vệ môi trường
cho học sinh Tiểu học.
+ Xây dựng chương trình về giáo dục bảo vệ môi trường trong trường Tiểu
học Hoằng Quý.
+ Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình giáo
dục bảo vệ môi trường cho học sinh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh và giáo viên từ lớp 1 đến lớp 5 trường Tiểu học Hoằng Quý.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Kinh nghiệm quản lý của bản thân trong quá trình chỉ đạo thực hiện
(phương pháp quan sát)
2
tầm quan trọng của môi trường trong sự phát triển bền vững và làm thế nào để
bảo vệ môi trường. Do đó giáo dục bảo vệ môi trường phải là một nội dung giáo
dục quan trọng nhằm đào tạo con người có kiến thức về môi trường, có đạo đức
về môi trường, có năng lực phát triển và xử lý các vấn đề môi trường trong thực
tiễn.
* Giáo dục môi trường cần đạt những mục tiêu cụ thể như sau:
- Cung cấp hiểu biết về hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó.
- Cung cấp hiểu biết về mối tác động qua lại của con người và môi
trường.
- Xây dựng những kỹ năng tư duy đúng đắn về môi trường.
Giáo dục trong môi trường để tạo điều kiện hiểu rõ môi trường và tận
dụng môi trường như một nguồn học tập.
3
- Môi trường được coi như một nguồn học tập, rút ra những thực tế phù
hợp; những kinh nghiệm thực hành để học qua tiếp xúc trực tiếp với môi trường.
- Xây dựng những kỹ năng thu lượm dữ liệu và phân tích dữ liệu.
- Nuôi dưỡng nhận thức và các quan hệ đúng đắn về môi trường.
Giáo dục về môi trường hướng tới một môi trường bền vững.
- Xây dựng quan niệm và trách nhiệm của mỗi người về môi trường.
- Xây dựng cho mỗi người học một giá trị đạo đức môi trường.
- Xây dựng động cơ và kỹ năng tham gia cải thiện môi trường.
- Nâng cao lòng yêu mến đối với môi trường và năng lực lựa chọn một
phong cách sống thích hợp cùng với khả năng sử dụng khôn ngoan các nguồn tài
nguyên môi trường.
2.2. Thực trạng của vấn đề giáo dục môi trường cho học sinh.
Đầu tiên, đó chính là sự thiếu ý thức nghiêm trọng và thờ ơ của người
dân. Nhiều người cho rằng những việc mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để làm
Trường tiểu học Hoằng Quý được sự quan tâm của các cấp chính quyền
và toàn xã hội về môi trường trong trường học, đã được công nhận đạt chuẩn
quốc gia mức độ 2 vào tháng 12 năm 2015 và đang hoàn thành hồ sơ kiểm định
chất lượng giáo dục cơ sở đề nghị đánh giá ngoài.
Chương trình «xanh - sạch - đẹp» trường lớp đã được đưa vào nhà trường,
nhà trường đã được trang bị nguồn nước uống sạch, có nhà vệ sinh cho học sinh
và giáo viên, nhà trường luôn giáo dục ý thức bảo vệ môi trường bằng các công
việc hàng ngày như trồng cây, chăm sóc cây, trồng chậu cây cảnh, vệ sinh
trường lớp. Những nội dung đó đã được nhà trường đưa vào danh mục thi đua
của trường, lớp, từng tuần, từng tháng cho mỗi lớp.
Các lớp học được trang bị đồ dùng phục vụ cho việc giảng dạy và học tập
các tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường như: Sản phẩm tái chế từ các
đồ dùng hàng ngày đã sử dụng hết (chai, lọ, vải, len, hộp sữa, giấy báo cũ...) làm
thành các cây cỏ, bông hoa, con cá, con chim....
Sáng tạo với những nếp gấp giấy
* Khó khăn:
Số lượng cây xanh trong nhà trường có nhưng chưa đảm bảo bóng mát và
môi trường trong lành cho học sinh vì diện tích khuôn viên nhà trường hẹp. Ý
thức của người dân và học sinh về môi trường và bảo vệ môi trường chưa cao.
Hầu hết cha mẹ các em học sinh đều làm nghề nông và lao động phổ thông như :
Thợ nề, thợ mộc, làm thuê... vì thế các em chưa được gia đình quan tâm một
cách đúng mức về việc học tập cũng như rèn luyện ý thức. Chưa nói đến việc
ngay bản thân nhiều phụ huynh cũng chưa có nhận thức đúng mức về bảo vệ
môi trường.
Ngay trong trường học mặc dù nội dung giáo dục bảo vệ môi trường đã
được triển khai rộng rãi; học sinh được nhắc nhở thường xuyên về việc bỏ rác
vào thùng, sử dụng điện nước tiết kiệm không lãng phí...Những hoạt động của
nhà trường và lời khuyên răn của thầy cô đã phần nào giúp các em có nhận thức
ban đầu về bảo vệ môi trường bằng những hành động nhỏ của mình thường
21 (53%)
28 (70%)
quy định.
Còn phải
19 (47%)
12 (30%)
nhắc nhỡ
Có ý thức phân loại rác
Có
25 (63%)
15 (37%)
thải.
Không
15 (37%)
25 (63%)
Biết yêu quý,chăm sóc, bảo
Có
27 (68%)
16 (40%)
vệ cây cỏ, hoa lá, vật nuôi.
Không
13 (32%)
24 (60%)
Đã biết nhắc nhỡ khi mọi
Có
17 (43%)
11(28%)
người làm ảnh hưởng tới
Không
23 (57%)
nhiên - Xã hội.
Nội dung giáo dục môi trường được tích hợp và đưa vào chương trình học
tập trong nhà trường Tiểu học là:
+ Môi trường và tài nguyên.
+ Độ ô nhiễm môi trường.
+ Mối quan hệ giữa Dân số - Môi trường - Tài nguyên.
6
+ Sự cần thiết và biện pháp bảo vệ môi trường và phát triển môi trường
bền vững.
Nội dung giáo dục môi trường có thể được tích hợp ở mức độ khác nhau,
cụ thể như sau:
+ Mức 1: Có một vài chương trình riêng về giáo dục môi trường.
+ Mức 2: Đưa nội dung giáo dục môi trường vào các bài một cách phù
hợp.
+ Mức 3: Thể hiện được ở dạng bài tập, bài làm.
- Hình thức:
+ Lồng ghép hoặc tích hợp, liên hệ, vận dụng giáo dục môi trường vào
các môn học, chủ yếu thông qua môn tự nhiên xã hội, môn đạo đức.
+ Giáo dục bảo vệ cảnh quan môi trường hoc thông qua giáo dục yêu quê
hương, yêu trường em.
+ Hình thành các nhóm thi kể chuyện về bảo vệ môi trường và phát triển
bền vững trong học sinh.
+ Tổ chức lao động làm sạch đẹp trường học, nhà ở.
+ Trồng chăm sóc cây theo nhóm, theo cá nhân.
* Biện pháp 1: Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hình thức nội
khóa. (Dạy lồng ghép, tích hợp trong các môn học).
Nội dung dạy học bảo vệ môi trường ở Tiểu học không có một chương
trình cụ thể. Vì vậy việc cung cấp kiến thức môi trường cho học sinh được thông
Bài 2 (Địa lý lớp 4): Một số dân tộc ở Hoàng Liên Sơn.
Bài 4 (Đạo đức lớp 2): Chăm làm việc nhà...
Đây là bài học có nội dung tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường với mức
độ tích hợp toàn phần. Bởi vậy khi tổ chức dạy học, giáo viên tổ chức các hoạt
động dạy học phù hợp với hình thức tổ chức và phương pháp dạy học của bộ
môn đồng thời giúp học sinh hiểu, cảm nhận đầy đủ và sâu sắc nội dung bài học
có liên quan đến giáo dục bảo vệ môi trường.
c. Mức độ liên hệ: Đối với dạng bài này, các kiến thức giáo dục môi
trường không được nêu rõ trong sách giáo khoa nhưng dựa vào kiến thức bài
học, giaos viên có thể bổ sung các kiến thức giáo dục môi trường cho phù hợp.
Vì vậy, khi chuẩn bị bài dạy, giáo viên phải có ý thức chuẩn bị nội dung tích hợp
và những vấn đề gợi mở, liên hệ, nhằm giáo dục cho học sinh hiểu biết về môi
trường, có kỹ năng sống và học tập thích hợp ứng với sự phát triển bền vững.
Ví dụ: Bài 8 (TN&XH lớp 1): Ăn uống hàng ngày.
Bài 21, 22 (TN&XH lớp 2): Cuốc sống xung quanh ta.
Bài 4 (Địa lý lớp 4): Trung du bắc bộ....
Đây là bài học có nội dung tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường với mức
độ tích hợp liên hệ. Đối với những bài học lồng ghép ở mức độ này, giáo viên
cần lưu ý hướng dẫn học sinh liên hệ, mở rộng nội dung một cách tự nhiên, hài
hòa, đúng mực, tránh lan man, sa đà, gượng ép, không phù hợp với đặc trưng bộ
môn.
Cô, trò sôi nổi thảo luận về bảo vệ môi trường.
Học sinh lớp 1A tham gia vẽ tranh bảo vệ môi trường.
* Biện pháp 2: Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động
ngoài giờ lên lớp:
Không chỉ trong các tiết học, ở hầu hết hoạt động ngoài giờ lên lớp của
các trường tiểu học cũng được lồng ghép nhiều nội dung mang ý nghĩa giáo dục
môi trường. Bởi vì hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động giáo dục
có hiệu quả cao cùng với quá trình dạy học trên lớp... giúp học sinh tiểu học phát
triển nhân cách toàn diện. Đây là các dạng hoạt động cho học sinh tham gia và
Để thực hiện tốt công tác giáo dục bảo vệ môi trường, người giáo viên
phải biết khai thác hợp lý các kiến thức môi trường trong từng môn học, bài học,
thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp các em hiểu biết những nét cơ
bản về môi trường và có ý thức tốt trong việc bảo vệ môi trường. Đó là nhiệm
vụ quan trọng của ngàng giáo dục mà xã hội đang trông chờ vào thế hệ tương
lai.
Chúng em quét dọn vệ sinh môi trường.
* Biện pháp 3: Giáo dục học sinh biết dọn vệ sinh lớp, chăm sóc công
trình măng non.
a. Giúp học sinh biết phân loại rác thải từ nguồn
Thực hiện việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường có thể sử dụng bằng
nhiều cách. Đây là một công việc nghiêm túc vì vậy tôi đặc biệt chú trọng đến
việc phân loại rác thải từ nguồn. Vậy phân loại rác thải từ nguồn là gì?
Để các em hiểu thế nào là phân rác thải từ nguồn. Chúng ta chia rác thải
ra làm 2 loại, một loại phân hủy trong môi trường tự nhiên như rác, lá, cây, rau,
củ quả, …
Một loại rác thải thứ hai không thể phân hủy trong môi trường tự nhiên
như: bịch ni-long, vỏ chai nhựa hay thủy tinh, thùng giấy carton, …
9
Tôi cho đặt mỗi lớp 2 thùng rác, thùng rác màu xanh bỏ rác có thể phân
hủy. Thùng rác màu hồng bỏ rác khó phân hủy. Học sinh trong lớp sẽ bỏ rác vào
2 thùng này. Các tổ trưởng sẽ theo dõi xem bạn nào chưa có ý thức bỏ rác đúng
nơi quy định.
Học sinh phân loại rác thải.
b. Giáo dục học sinh biết giữ vệ sinh lớp học, cảnh quang sân trường.
- Lớp học.
Để không gian lớp học xanh, sạch, trồng cây xanh: dây trầu bà treo trên
Còn hệ thống nước được bơm từ giếng dùng để tưới cây, lau nhà vệ sinh,
rửa tay, chân. Khuyên các em không tự ý xả nước khi không cần thiết.
Cùng với việc giáo dục ý thức giữ gìn vệ sinh trường, lớp là việc giáo dục
các em biết giữ vệ sinh ngôi nhà của chính mình.
e. Giáo dục học sinh giữ gìn vệ sinh nhà ở.
Để các em có được những giờ phút nghỉ ngơi thoải mái bên gia đình thì
ngôi nhà thân yêu của các em phải gọn gàng, ngăn nắp. Ông bà ta thường nói
“Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”. Vì vậy giáo viên cũng thường xuyên
gặp gỡ bố, mẹ các em để tìm hiểu về tính tình và lối sống ở nhà của các em. Qua
đó, khuyên các em mỗi ngày nên có lối sống ngăn nắp, vào ngày nghỉ phải dọn
dẹp nhà cửa gọn gàng, đường làng ngõ xóm sạch sẽ bỏ rác đúng nơi .
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Những năm qua, công tác giáo dục môi trường của trường tiểu học Hoằng
Quý đã thực hiện đảm bảo yêu cầu đặt ra, các biện pháp giáo dục môi trường
được tổ chức một cách chặt chẽ, có hệ thống đã mang lại kết quả tốt đẹp. Khuôn
viên của nhà trường ngày càng “Xanh – Sạch – Đẹp” và An toàn, thoáng mát,
trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2.
Thông qua giáo dục bảo vệ môi trường học sinh biết chăm sóc giữ gìn sức
khỏe cho bản thân. Biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh lớp học, biết cất đồ
dùng và vật liệu gọn gàng, đúng chỗ. Các em chăm sóc bồn hoa, cây cảnh
thường xuyên.
Học sinh có thói quen tốt bảo vệ môi trường như: không khạc nhổ bừa
bãi, đi vệ sinh đúng chỗ…, biết phân loại rác thải trước khi bỏ vào thùng, năm
học vừa qua, các lớp đã thu được giấy vụn và vỏ chai từ việc phân loại rác ở lớp
(đưa vào kế hoạch nhỏ), có ý thức giữ gìn nhà vệ sinh chung, đi tiêu tiểu đúng
nơi quy định, biết tắt điện khi ra khỏi phòng, biết tiết kiệm nước, có ý thức nhắc
nhở những bạn có hành vi xấu ảnh hưởng đến môi trường. Đặc biệt các em còn
hưởng ứng tích cực làm sản phẩm sáng tạo từ những nguyên vật liệu phế thải
Có
Không
Có
Đôi khi còn quên
36 (90%)
4 (10%)
Học sinh có khả năng nhận
37 (93%)
biết và phân loại các loại
3 (7%)
rác thải.
Biết yêu quý,chăm sóc, bảo
38 (95%)
vệ cây cỏ, hoa lá, vật nuôi.
2 (5%)
Đã biết nhắc nhỡ khi mọi
36 (90%)
người làm ảnh hưởng tới
4 (10%)
môi trường.
Trồng cây và chăm sóc cây
Có
35 (88%)
xanh
Vẫn phải nhắc nhỡ
5 (12%)
Thích sáng tạo đồ chơi làm
Có
nơi quy định, biết chăm sóc bảo vệ cây xanh, biết vệ sinh lớp học… chắc chắn
cùng với sự lớn dần của các em sẽ ý thức ngày càng rõ về môi trường và biết tham gia
bảo vệ môi trường.
“Mỗi người cần có trách nhiệm bảo vệ môi trường ngay từ trong ý thức”.
Giáo dục bảo vệ môi trường trong trường chúng tôi đã hình thành cho các
em những hiểu biết về môi trường sống của con người. Các em có những kỹ
năng, thói quen bảo vệ môi trường và có thái độ tình cảm tốt biết yêu quý, gần
gũi với thiên nhiên…tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường ở
lớp học, ở trường và ở gia đình.
Về phía đội ngũ giáo viên: Nắm chắc nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường, tích cực năng nổ trao đổi kinh nghiệm, cải tiến và vận dụng linh hoạt các
phương pháp giảng dạy. Có ý thức tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
vào các bài dạy trong chương trình quy định và trong các hoạt động ngoài giờ
lên lớp. Phối hợp với các bậc phụ huynh tuyên truyền phổ biến kiến thức, kỹ
năng giáo dục bảo vệ môi trường tại cộng đồng.
12
Về phía cán bộ quản lý: Đẩy mạnh triển khai việc thực hiện chuyên đề
đến 100% giáo viên. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc nhắc nhở trong mọi hoạt
động. đặc biệt là hướng dẫn các biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường.
Chú trọng việc xây dựng môi trường “xanh – sạch – đẹp” và an toàn.
- Kiến nghị.
Bảo vệ môi trường là hành vi đạo đức, hai vấn đề này gắn liền với nhau.
Nếu môi trường trong lành tạo điều kiện để học sinh phát triển toàn diện. Học
sinh có thể phát huy mọi năng lực sáng tạo của mình, yên tâm, phấn khởi học
tập còn nếu môi trường xung quanh ô nhiễm và xấu noa ảnh hưởng đến học sinh
về mọi mặt, học sinh thấy chán trường dẫn đến các mặt giáo dục sẽ hạn chế.
Chính vì vậy nội dung giáo dục môi trường Bộ giáo dục đưa vào hệ thống giáo
dục quốc dân là rất đúng, kịp thời nhất là trong giai đoạn hiện nay môi trường