1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Người quản lý là người chịu trách nhiệm về các hoạt động chuyên môn và
nhiều hoạt động khác của nhà trường. Trong đó quan trọng nhất là trực tiếp tổ
chức, quản lý, chỉ đạo việc thực hiện công tác chuyên môn.
Vì vậy người chỉ đạo phải có nghiệp vụ chuyên môn vững vàng, có nghiệp
vụ quản lý, biết phát huy sức mạnh nội lực để xây dựng độ tin cậy bền vững của
tập thể sư phạm trong nhà trường. Bởi vậy muốn có trò giỏi phải có thầy giỏi.
Đội ngũ giáo viên là lực lượng quan trọng đặc biệt do vậy người quản lý phải có
nhiệm vụ xây dựng và phát huy tiềm năng của từng giáo viên tạo thành sức
mạnh tổng hợp thực hiện mục tiêu giáo dục, bồi dưỡng giáo viên cốt lõi nhằm
nâng cao chất lượng dạy và học.
Người quản lý phải nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên một cách cụ
thể rõ ràng. Có sự phân công giảng dạy cũng như lựa chọn nội dung, hình thức
bồi dưỡng một cách hợp lý cho từng giáo viên. Qua nhiều năm làm công tác chỉ
đạo chuyên môn tôi thường xuyên dự giờ đồng nghiệp để rút ra kinh nghiệm chỉ
đạo các giáo viên có những phương pháp dạy tốt hơn. Như việc gần gũi học
sinh, hướng dẫn tận tình cho các em trong giờ học để học sinh dễ hiểu bài, quan
tâm giúp đỡ học sinh còn hạn chế về đọc, viết. Bởi vì đối với các em học sinh
khối lớp một ở tiểu học việc rèn cho các em kỹ năng đọc, viết là vô cùng quan
trọng, nếu các em không đọc thông, viết thạo thì khi học các môn học khác các
em tiếp thu cũng rất chậm, như vậy các em học lên các lớp trên sẽ bị hổng kiến
thức.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Là một cán bộ quản lý và chỉ đạo chuyên môn ở trường Tiểu học Tén Tằn
huyện Mường Lát tôi luôn suy nghĩ phải làm gì, làm như thế nào để cải thiện
được chất lượng học sinh của trường ngày một tốt hơn. Lí do này đã thôi thúc
tôi tìm hiểu áp dụng để có những biện pháp cụ thể góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục cho học sinh trong trường Tén Tằn đạt hiệu quả.
Từ thực tế đó tôi đã rút ra được: Một số kinh nghiệm giúp giáo viên nâng
cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt lớp 1.
rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học, nhất là học sinh lớp 1.
Môn Tiếng Việt là một công cụ hữu hiệu trong hoạt động và giao tiếp của
học sinh, giúp học sinh tự tin và chủ động hoà nhập các hoạt động học tập trong
trường học, giúp học sinh hình thành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản ở Tiểu
học, đồng thời nó chi phối kết quả học tập của các môn học khác.
2.2. Thực trạng trường, lớp, giáo viên và học sinh trường Tiểu học Tén Tằn
huyện Mường Lát năm học 2016 - 2017.
- Toàn trường có 5 điểm trường, trong đó có 4 điểm trường lẻ.
- Với tổng số lớp: 25 lớp trong đó có 3 lớp ghép
- Tổng số học sinh: 438 em.
- Số lớp 1 là: 4 lớp ( còn thêm 2 lớp ghép 1+3) = 103 em
- Tổng số giáo viên giảng dạy trong toàn trường: 28 Giáo viên.
- Trong đó có 4 giáo viên dạy lớp 1.
1) Thuận lợi:
a) Đối với giáo viên:
+ Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là bộ phận
chuyên môn bậc Tiểu học phòng GD&ĐT huyện Mường Lát cũng như Ban giám
hiệu Nhà trường luôn quan tâm đến chất lượng lớp 1. Thường xuyên tổ chức các
tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy và học.
- Hàng năm tổ chức các phong trào dạy và học (Hội thi giáo viên dạy giỏi)
giúp Giáo viên chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy.
- Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn,…
+ Giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn
luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1.
b) Đối với học sinh:
+ Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình
ngày một quan tâm hơn.
+ Đa số trẻ đều được qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kĩ năng thích
trạng và từ đó đề xuất ý tưởng chỉ đạo việc dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp
1 của trường Tiểu học Tén Tằn huyện Mường Lát đặc biệt là học sinh lớp 1
trường tiểu học Tén Tằn trong những năm học qua.
2.3. Giải pháp đã sử dụng để giúp giáo viên dạy khối 1 nâng cao chất lượng
dạy môn Tiếng Việt.
Ngay từ đầu năm học tôi đã lên kế hoạch cho các khu, lớp tổ chức họp
Phụ huynh Học sinh lớp 1 mình đang dạy, thống nhất một số sách vở đồ dùng
học tập cần mua để cho con em có sách và đồ dùng khi học tập. Cùng Phụ
huynh tìm cách dạy đọc, viết, nghe hiểu ở môn Tiếng Việt cho Học sinh đưa đến
thống nhất cách dạy cho các em lúc ở nhà. Qua đó Giáo viên hiểu được hoàn
cảnh của từng Học sinh trong lớp.
Giáo viên có những giải pháp cụ thể và tiến hành ngay để làm sao nâng
dần chất lượng dạy môn Tiếng Việt cho các em học sinh lớp Một.
2.3.1. Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt cho học
sinh lớp 1.
1.1. Phân công những giáo viên nhiệt tình, có trình độ chuyên môn và
trách nhiệm cao, là người địa phương hoặc thông thạo tiếng địa phương làm
công tác chủ nhiệm lớp 1.
1.2. Chỉ đạo giáo viên dạy học theo hướng phân hoá các đối tượng học
sinh, bám sát đối tượng, phù hợp và phát huy được tính tích cực của học sinh
trong cùng một lớp học.
1.3. Chỉ đạo tốt việc dạy học theo Chuẩn kiến thức và kỹ năng, lựa chọn
nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, phù hợp
với địa phương, phù hợp với từng nhóm học sinh; tăng cường việc chấm, chữa
bài, chỉ ra những lỗi sai của học sinh để giúp các em tự sửa những lỗi của mình;
kịp thời động viên, khích lệ những cố gắng của học sinh.
Khuyến khích giáo viên tăng cường làm đồ dùng dạy học và sử dụng đồ
dùng tự làm, các loại đồ dùng có sẵn ở địa phương, đồ dùng dạy học được cấp
gia,…
b) Rèn cho học sinh đọc đúng, viết đúng các âm, vần, tiếng dễ lẫn do ảnh
hưởng của cách phát âm địa phương: Phụ âm đầu: b/v; đ/l; dấu thanh: hỏi/nặng;
ngã/sắc... Ví dụ: Cho các em đọc liên tục các câu đơn giản: Bố bế bé, bé vẽ bò
bê,…
c) Tăng cường sử dụng các đồ dùng trực quan sinh động, các hình thức
dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Ví dụ: Khi dạy vần ai, ay giáo viên
có thể tổ chức trò chơi “Em là họa sỹ”:
- Em hãy tô màu xanh vào những quả có chứa vần ai.
- Em hãy tô màu hồng vào những quả có chứa vần ay.
Chắc chắn với vai trò của “Một họa sỹ tí hon” các em sẽ vô cùng say sưa
với các tác phẩm nghệ thuật của mình mà không hề cảm thấy mệt mỏi và căng
thẳng. Tuy nhiên giáo viên cần phải thay đổi thường xuyên những hình ảnh
minh họa để giúp học sinh khỏi bị nhàm chán.
d) Không giải nghĩa từ bằng định nghĩa, từ điển mà nên giải nghĩa từ bằng
các hình ảnh trực quan, các vật thật hoặc đưa các từ vào trong
văn cảnh cụ thể để học sinh hiểu được nghĩa của từ.
đ) Sử dụng ngữ điệu chứa nội dung hấp dẫn, sưu tầm các câu đồng dao,
thơ để giúp học sinh dễ thuộc, viết đúng các chữ cái. Ví dụ:
- i, t hai chữ giống nhau; i ngắn có dấu, t dài có ngang.
- o tròn như quả trứng gà, ô thì đội nón, ơ thì thêm râu. o, a hai chữ khác
nhau, a thì có gắn móc câu bên mình.
Hoặc sử dụng một số câu đố vui để giới thiệu một số âm, vần thay cho
việc yêu cầu học sinh quan sát tranh để tạo hứng thú trong học tập cho học sinh.
Ví dụ:
- Nét tròn em đọc chữ o
- Xóa đi một nửa sẽ cho chữ gì?
(Chữ c)
Giáo viên cùng học sinh tham gia đố vui rồi dẫn học sinh vào bài học một
cách nhẹ nhàng:
c) Hướng dẫn học sinh kể bằng lời của mình, không máy móc dập khuôn.
d) Tổ chức tốt các hình thức luyện tập, gây hứng thú đối với học sinh
(phân vai, đóng kịch...); chú ý tạo mọi cơ hội cho học sinh được thực hiện luyện
tập kể chuyện trên lớp, trong nhóm, tổ hoặc theo cặp.
đ) Một số yêu cầu khó có thể được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với
trình độ học sinh.
e) Giáo viên cần gợi mở, dẫn dắt hướng dẫn học sinh kể chuyện.
2.4. Phân môn Tập viết
a) Giáo viên viết chữ mẫu đúng và đẹp từng kiểu chữ, mẫu chữ.
b) Dạy học sinh viết đúng các nét chữ cơ bản như nét gạch ngang, nét
khuyết, nét xiên phải, cong tròn,... Dạy viết theo nhóm các chữ có nét cơ bản
giống nhau.
c) Hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập với số chữ, số dòng theo trình
độ học sinh: Giáo viên hướng dẫn học sinh cụ thể về các yêu cầu kỹ thuật viết
từng nét chữ, điểm đặt bút, điểm dừng bút trên dòng kẻ ly để hình thành nên một
chữ cái, rồi đến tiếng, từ, cụm từ và cả câu. Đối với học sinh lớp 1 vùng cao giáo
viên cần viết lại chữ mẫu nhiều lần để học sinh bắt chước viết theo. Mua vở
luyện viết có sẵn mẫu chữ cho học sinh tập viết thêm ở nhà.
d) Sử dụng có hiệu quả các phương tiện, thiết bị hỗ trợ dạy học Tập viết:
Bảng cài, bảng lớp, bảng con...; Rèn tư thế ngồi viết đúng cho học sinh.
Giáo viên cần cầm tay hướng dẫn trực tiếp một số em giúp em ấy thấy chỗ
chỉnh sửa lại
Cô cầm tay hướng dẫn học sinh trong tiết tập viết.
2.5. Phân môn Chính tả.
a) Giáo viên chuẩn bị và hướng dẫn học sinh chuẩn bị tốt các phương tiện
ảnh, do vậy trong các giờ học việc yêu cầu giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học là
không thể thiếu kể cả đồ dùng do giáo viên tự làm, đồ dùng dạy học là phương
tiện chuyển tải thông tin và là nội dung truyền thụ kiến thức giáo dục tư cách,
rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh, nó có tác dụng điều khiển hoạt động
của học sinh từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, kích thích hứng thú
cho học sinh học tập. Có nhà giáo dục trẻ cho rằng trẻ không sợ học mà chỉ sợ
những tiết học đơn điệu nhàm chán vì thế đồ dùng dạy học có tác dụng rất lớn
trong quá trình dạy môn Tiếng Việt cho học sinh, nhất là các em học sinh học
chậm. Có đồ dùng dạy học nhất là vật thật thì tiết học sinh động hơn, học sinh sẽ
có hứng thú và dễ nhớ hơn.
Ví dụ: Ở những bài học về vần như Bài 41 trang 86 Sách giáo khoa Tiếng
Việt 1 Tập 1: Dùng trang vẽ ( hoặc vật thật) trái lựu; Tranh con hươu sao ,để học
sinh quan sát và tìm ra từ khoá sau khi các em đã nhận diện vần ưu và ươu ở
phần đầu tiết học. Từ những hình ảnh như thế các em sẽ dễ nhớ và nhớ chính
xác hơn các vần và các từ được học bởi các em có sự liên tưởng từ vật thật đến
vần của bài học.
Như vậy dùng tranh, ảnh, vật thật trong các giờ Tiếng Việt giúp học sinh nhớ
vần và từ tốt hơn.
- Ngoài ra dùng tranh, ảnh có vai trò rất lớn trong phần luyện nói.
Ví dụ: Bài Tặng cháu– Trang 49 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 tập II – Phần
luyện nói: Tìm tiếng ngoài bài: Có vần ao, au. Giáo viên treo tranh chim chào
mào, tranh các bạn học sinh rủ nhau đi học – Giáo viên hỏi nội dung bức tranh,
sau đó cho các em nói câu có vần ao, au, động viên các em học chậm nói trước,
nhìn vào tranh tự các em có thể nói được và hiểu được nghĩa của từ đó .Các em
học sinh khá, giỏi nói các câu khác cũng có vần ao, au như cái mo cau, ngôi sao
năm cánh… mà không cần dựa vào tranh.
Như vậy rõ ràng trong cùng một giờ học giáo viên biết vận dụng khéo léo tranh,
ảnh thì vừa phát huy được tính sáng tạo chủ động cho học sinh khá giỏi lại vừa
nói chung và giáo viên khối Một nói riêng, tôi nhận thấy nếu người giáo viên
biết lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp với từng trình độ học sinh của một
lớp cùng với lòng nhiệt tình, quan tâm giúp đỡ học sinh học chậm thì chất lượng
học sinh ngày một nâng lên.
Đối với học sinh nhận thức chậm, hay quên.
- Yêu cầu giáo viên chủ nhiệm phải phân loại và nắm được số lượng dạng
học sinh này, giáo viên cần có một phương pháp dạy và dạy một lượng kiến thức
phù hợp cho các em. Tuy nhiên với học sinh cả lớp giáo viên vẫn lấy chuẩn để
làm mục tiêu phấn đấu, còn những em này nếu dạy chung theo chuẩn của
chương trình đề ra thì các em không thể theo kịp, giáo viên trước hết sắp xếp
chỗ ngồi cho các em phù hợp và có tác dụng thúc đẩy.
Ví dụ: Cho các em ngồi gần các bạn học tốt để các em được sự giúp đỡ từ bạn,
được học tập từ bạn như các em tập đọc theo bạn, nhắc lại câu của bạn nói, được
các bạn nhắc nhở luôn với hình thức này là điều kiện rất tốt cho các em hoạt
động nhóm đôi, tránh cho các em cùng học chậm ngồi với nhau và ngồi cuối
cùng của lớp, cần tạo điều kiện cho các em học tốt để các em biết phát huy
những ưu điểm của bạn
-Dạy các em lượng kiến thức phù hợp như: Về viết chỉ yêu cầu các em
viết một số dòng nếu như những học sinh hoàn thành có thể viết nhiều dòng trở
lên.
Ví dụ: Tiết tập chép bài: Quà của bố - Trang 85 Tiếng Việt 1 tập 2, yêu cầu
chuẩn học sinh chép 8 dòng thơ đầu, nhưng đối với học sinh chậm chỉ yêu cầu
các em chép 4 dòng, bên cạnh đó giáo viên phải theo dõi sát các em, uốn nắn và
hướng dẫn cụ thể cho các em.
- Về đọc tăng cường gọi các em nhắc lại nhiều lần nếu là vần, đọc nhiều
lần nếu là câu ứng dụng hay một đoạn văn, đoạn thơ.
- Ngoài ra yêu cầu giáo viên cần có kế hoạch về thời gian để kèm cặp, phụ
đạo học sinh này, mỗi lớp phải sắp xếp thời gian cho phù hợp và phụ đạo cho
học sinh có chất lượng, cụ thể các tiết ôn tập buổi chiều các em học giỏi, khá tự
làm các yêu cầu giáo viên giao và các em ngồi cùng bàn theo dõi lẫn nhau, khi
tra bài vở của các em sau mỗi buổi học ở trường xem con mình đã học những
môn nào, các em có ghi chép đủ không, giúp các em soạn sách vở trong thời
gian đầu và theo dõi kiểm tra nhắc nhở các em việc soạn sách vở khi cho các em
đã tự làm, hướng dẫn các em đọc bài nhiều lần ở nhà, chuẩn bị cho bài mới. Còn
giáo viên ngoài họp phụ huynh theo kế hoạch chỉ đạo định kì chung 3 lần/ năm
học, phải thường xuyên liên lạc với phụ huynh học sinh bằng sổ liên lạc hay trực
tiếp trao đổi với phụ huynh khi cần thiết. Bên cạnh đó giáo viên cần phối hợp
với hội phụ huynh của lớp nhờ hội trưởng của lớp giúp đỡ.
* Giáo viên cần giữ mối liên hệ thường xuyên với phụ huynh học sinh,
cần nhiệt tình, mềm dẻo trước những phụ huynh khó tính, phải thường xuyên
trao đổi và cả tư vấn cho phụ huynh hiểu được quá trình học tập của các em tốt
phải có sự hỗ trợ quan tâm từ phía gia đình.
2.4. Hiệu quả sau khi áp dụng các giải pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng
Việt lớp 1 trong nhà trường thu được kết quả:
Sau một năm học tôi chỉ đạo và giúp đỡ Giáo viên dạy khối lớp 1 nâng
cao chất lượng môn Tiếng Việt, trong quá trình dạy học nói chung và dạy môn
Tiếng Việt nói riêng, tôi nhận thấy chất lượng dạy môn Tiếng Việt đã được nâng
lên, kết quả thu được ( cuối tháng 4/2017), cụ thể như sau:
Phân loại học sinh
Học sinh Hoàn thành tốt
Học sinh Hoàn thành
Học sinh Chưa hoàn thành
Học kì I
Tổng số HS
103
5
83
15
Kiến nghị:
Đối với giáo viên, cần:
+ Muốn để tất cả học sinh đều được học và học được, trong giờ dạy giáo
viên chỉ nên giữ vai trò là người điều hành, tổ chức và hướng dẫn các hoạt động
để mỗi học sinh đều tích cực, chủ động, sáng tạo, tự lực khám phá chiếm lĩnh tri
thức mới trên cơ sở những điều mà các em đã biết.
+ Có thái độ gần gũi, yêu thương, tôn trọng ý kiến học sinh; nhẹ nhàng
trong việc uốn nắn, sửa sai cho các em từ cách đọc, cách viết, cách cầm bút, tư
thế ngồi…giúp các em tự nhận ra những hạn chế của mình mà khắc phục.
+ Luôn luôn tự học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ, thường xuyên dự giờ, thăm lớp, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp,
biết lắng nghe để tự khắc phục những hạn chế của bản thân trong quá trình giảng
dạy.
+ Tận dụng tối đa thiết bị dạy học sẵn có ở trường, tự sưu tầm thêm các
vật thật xung quanh, làm thêm đồ dùng dạy học và sưu tầm tư liệu trên Internet
hỗ trợ tốt tiết dạy.
+ tạo mối quan hệ thường xuyên giữa phụ huynh học sinh và nhà trường
để nắm chắc được chuyển biến tâm lý và tình hình học tập của HS.
Đối với tổ chuyên môn và cấp quản lý:
+ Tăng cường việc tổ chức dự giờ, thăm lớp, rút kinh nghiệm tiết dạy; đẩy
mạnh sinh hoạt chuyên môn, duy trì thường xuyên việc tổ chức công tác bồi
dưỡng và tự bồi dưỡng của Giáo viên.
+ Phát huy vai trò của các Giáo viên dạy giỏi của trường trong việc chia
sẻ kinh nghiệm dạy học cho các Giáo viên khác trong khối.
Trên đây là một số giải pháp, biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy
học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1, mỗi giải pháp, biện pháp có một thế
mạnh và vị trí cần thiết trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp
1, đặc biệt là học sinh lớp 1 ở khu vực miền núi. Giải pháp này thúc đẩy sự phát
4
Tên đề tài SKKN
Biện pháp giúp giáo viên hướng
dẫn học sinh lớp 2 giải toán có
lời văn.
Các giải pháp hướng dẫn giáo
viên đổi mới phương pháp dạy
giải toán có lời văn ở lớp 4"
Cấp đánh
giá xếp
loại
( Phòng,
sở,…)
Phòng
GD&ĐT
Mường Lát
Phòng
GD&ĐT
Mường Lát
Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A,B hoặc
C)
B
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT HUYỆN MƯỜNG LÁT
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP GIÁO VIÊN NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1
Người thực hiện: Bùi Xuân Thảo
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Tén Tằn
SKKN thuộc lĩnh vực(môn): Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2017