Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới VNEN lớp 3 ở trường tiểu học hải long - Pdf 43

1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài.
Mô hình dạy học VNEN đến năm học 2015-2016 đã hết dự án hỗ trợ và
đầu tư. Nhưng một số trường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong đó có cả
huyện Như Thanh vẫn tiếp tục triển khai và thực hiện dạy học theo Mô hình
trường học mới VNEN. Việc áp dụng mô hình trường học mới là một bước
đột phá trong việc đổi mới, cải cách giáo dục, hy vọng mở ra cho nền giáo dục
Việt Nam một lối đi đúng hướng để cùng hòa nhập với nền giáo dục tiên tiến,
hiện đại trên thế giới, đáp ứng với sự phát triển chung của xã hội trong tương
lai. Có thể nói, mô hình này đã trở thành yêu cầu cấp thiết của toàn xã hội, đòi
hỏi sự chung tay của các cấp, các ngành và các tổ chức xã hội.
Trường Tiểu học Hải Long đã áp dụng Mô hình trường học mới bước
đầu đã đạt được một số kết quả đáng kể. Đối với bản thân tôi cũng tham gia
thực hiện dạy học theo mô hình này gần 5 năm nên đã quen với việc đổi mới
phương pháp dạy học, tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới VNEN.
Trên thực tế việc tổ chức thực hiện bản thân tôi nhận thấy để công tác
dạy học theo đúng định hướng đổi mới mang lại hiệu quả thì vai trò của người
giáo viên chủ nhiệm lớp là hết sức quan trọng và cần thiết. Chính vì những lẽ
đó mà tôi đã dành khá nhiều thời gian, tâm sức cho công tác giảng dạy của
lớp mình. Xuất phát từ những lí do nêu trên tôi đã mạnh dạn lựa chọn và
nghiên cứu với nội dung sáng kiến:
“Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả tổ chức lớp học theo Mô
hình trường học mới VNEN lớp 3 ở trường Tiểu học Hải Long”.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Xuất phát từ cách thức tổ chức lớp học cũng như việc trang trí lớp tạo
ra một môi trường học tập thân thiện, học sinh chủ động và sáng tạo trong
việc lĩnh hội kiến thức. Bản thân tôi viết sáng kiến kinh nghiệm này với mong
muốn.
Đúc kết lại những công việc đã làm của mình để suy ngẫm, để chọn lọc
và rút ra được bài học kinh nghiệm bài học thực tế cho bản thân.
Tiếp xúc chia sẻ với đồng nghiệp những việc đã làm và đã thành công

3 nói riêng. Giúp các em biết sống và ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ
với thầy cô giáo và bạn bè trong một tập thể lớp; giúp các em bước đầu biết
sống tích cực, chủ động, có mục đích, có kế hoạch, tự trọng, tự tin, có kỉ luật,
biết hợp tác, giản dị, tiết kiệm, gọn gàng, ngăn nắp, vệ sinh .....để trở thành
con ngoan trong gia đình, học sinh tích cực xây dựng một tập thể lớp vững
mạnh đoàn kết và hướng tới trở thành con người có ích trong xã hội.
Mô hình trường học mới VNEN chú trọng tập trung vào đổi mới sư
phạm: đổi mới phương pháp dạy, đổi mới phương pháp học, đổi mới phương
pháp đánh giá, đổi mới phương pháp tổ chức lớp học.

2


Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên thì vai trò của người giáo viên là hết sức
quan trọng quyết định thành công của quá trình dạy học theo mô hình này.
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Thuận lợi.
Trường Tiểu học Hải Long được đóng trên địa bàn thôn Hải Thanh gần
trung tâm của xã. Đường xá đi lại tương đối thuận lợi, phần lớn học sinh trong
lớp là con em sống ở các thôn gần trường.
Sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành và các tổ chức đoàn
thể ở địa phương. Đặc biệt là sự ủng hộ của cha mẹ học sinh là động lực giúp
cho công tác dạy học và giáo dục của nhà trường nói chung và cá nhân tôi nói
riêng mang lại nhiều thành công đáng kể.
2.2.2. Khó khăn.
Trong lớp có 100% học sinh là con em nông thôn nên ít nhiều khả năng
giao tiếp, để đáp ứng yêu cầu hoạt động tổ chức lớp học theo kiểu mới vẫn
còn hạn chế. Gần 50% học sinh là người dân tộc thiểu số, bố mẹ đi làm ăn xa
quanh năm phải ở nhà với ông bà, chú bác, thiếu hơi ấm tình thương của bố
mẹ nên cũng phần nào ảnh hưởng đến tâm lí phát triển của các em.

kiểm SL TL
tra

Hoàn thành
Điểm
7-8

Cần cố gắng

Điểm
5-6

Điểm
3-4

Điểm
1-2

SL

TL

SL

TL

SL

TL



16

1

6,25%

4

25%

8

50%

1

6,25%

2

12,5%

Bước vào thực tế cho các nhóm hoạt động tôi quan sát thấy khoảng gần
2/3 số học sinh trong lớp làm việc chưa thực sự tích cực, các em chỉ dựa vào
nhóm trưởng và thư kí. Mặc dù các em đã được học một năm với mô hình
này.
Quá trình tham gia thảo luận trước lớp thì có khoảng 1/3 số học sinh
trong lớp mạnh dạn phát biểu, số còn lại không dám giơ tay phát biểu vì chưa
thực sự tự tin với câu trả lời hoặc ý kiến của mình đưa ra ...Có lẽ vì thế tôi

Sau mỗi năm trực tiếp tham gia và thực hiện Mô hình trường học mới,
tôi nhận thấy các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của quá
trình dạy học đó là yếu tố người dạy và người học. Cái khó lớn nhất đối với
người giáo viên là phải không ngại đổi mới, mà là ngại loại bỏ thói quen dạy
theo lối giảng giải, thuyết trình. Vì những lí do đó đòi hỏi người giáo viên
phải thật sự coi trọng việc tự chủ, tự học của học sinh; biết động viên khích lệ
học sinh tự tin chiếm lĩnh tri thức mới thông qua nhóm học tập, cặp đôi hay
quá trình tự học của mỗi cá nhân.
Về phía học sinh, các em phải rèn luyện tính tự lập, tự chủ, tự tin trong
việc chiếm lĩnh tri thức mới; phải chủ động hợp tác với bạn bè, thầy cô cũng
như gia đình trong quá trình tự học, tự rèn luyện. Ngoài ra yêu cầu về cơ sở
vật chất có vai trò quan trọng không nhỏ trong mô hình dạy học này. Với cách
bố trí các nhóm học tập, các công cụ hỗ trợ trong lớp học thì đòi hỏi một
phòng học đạt chuẩn là vô cùng cần thiết, tạo điều kiện tốt cho quá trình học
tập ở lớp diễn ra thuận lợi.
Mặt khác thì yếu tố gia đình và cộng đồng cũng không kém phần quan
trọng. Ở mỗi gia đình, các bậc phụ huynh có thể hỗ trợ con em mình trong
việc ứng dụng các kiến thức được học tại trường thông qua Hoạt động ứng
dụng, hay giúp các em bổ sung, kết nối những nét phong tục tập quán của địa
phương với kiến thức học trong sách vở.
2.2.5.

Thực trạng mà sáng kiến đã đặt ra.

Qua quá trình thực hiện còn gặp những khó khăn, hạn chế cũng như
những yếu kém của công tác dạy học theo Mô hình trường học mới như đã
nêu ở trên. Tuy vậy, qua thời gian thực hiện tôi nhận thấy những thành công,
những mặt tích cực là chủ yếu. Mô hình học tập này đã giúp học sinh phát huy
tích cực tính tự học, tính sáng tạo, tính tự giác, ý thức tự quản, sự tự tin, hứng
5

hình thành thói quen làm việc trong môi trường tương tác, được học hỏi bạn
để tự hoàn thiện và luôn có ý thức được mình phải bắt đầu và kết thúc hành
động như thế nào, không chờ đến sự nhắc nhở của giáo viên, tránh sự thụ
động trong dạy và học, góp phần đẩy mạnh sự phát triển trong công tác giáo
dục của trường.
Với việc cùng tham gia của cha mẹ học sinh có thể giúp trẻ liên hệ nội
dung học tập với thực tiễn cuộc sống. Hơn ai hết, phụ huynh học sinh, những
người sinh sống gần gũi, gắn bó mật thiết với các em và cộng đồng nơi các
6


em sinh sống chính là nguồn kiến thức, kinh nghiệm thực tế vô cùng quý báu
giúp các em liên hệ những điều học được ở trường với cuộc sống xung quanh.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Ngay từ đầu năm học 2016 - 2017 trường chúng tôi đã vận dụng
phương pháp dạy học theo mô hình VNEN. Qua một thời gian giảng dạy tôi
đã mạnh dạn nghiên cứu sáng kiến “Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả
tổ chức lớp học theo Mô hình trường học mới VNEN lớp 3 ở trường Tiểu
học Hải Long” với những giải pháp cụ thể như sau:
2.3.1. Giải pháp thứ nhất : Xây dựng lớp học thân thiện, nhóm tích cực.
Mỗi ngày đến trường, đến lớp là một ngày vui, bản thân các em thêm
yêu trường yêu lớp, gắn bó với ngôi nhà chung đó. Việc trang trí lớp học thân
thiện là một sự sáng tạo phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh nó tạo cho các
em nhận thức về cái đẹp và có ý thức gìn giữ trường lớp của mình sạch đẹp,
góp thêm cho lớp học một luồng không khí thân thiện, thoải mái, sinh động,
hăng say trong giờ học, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Vì vậy, tôi đã kết
hợp với phụ huynh và học sinh để tổ chức trang trí lớp học.
* Trang trí lớp học.
Ở Mô hình trường học mới, việc trang trí lớp học không đơn thuần là để
trang trí cho đẹp mắt mà nó còn là những công cụ hỗ trợ góp phần giáo dục

Những ý kiến đó cụ thể như những tình cảm, cảm nhận, mong muốn, đề nghị
của các em muốn nói cùng cô, bạn bè, cha mẹ, điều kiện học tập sinh hoạt, vui
chơi,... mà các em không thể hoặc chưa dám nói trực tiếp. Từ đó tôi có những
thông tin quan trọng để hiểu học sinh của mình và quan trọng hơn là để điều
chỉnh các hoạt động dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.
2.3.2. Giải pháp thứ hai: Đổi mới về phương pháp dạy học.
Để đáp ứng yêu cầu dạy học
theo Mô hình VNEN, tôi đã thật
sự đổi mới phương pháp dạy học.
Bản thân đã chuyển đổi vai trò là
người truyền thụ kiến thức thành
vai trò là người:
+ Tổ chức lớp học.
+ Quan sát hoạt động của mỗi cá
nhân, của mỗi nhóm.
+ Hỗ trợ học sinh khi cần thiết.
+ Chốt lại những kiến trọng tâm
cơ bản nhất của bài học.
( Ảnh: Giáo viên hỗ trợ học sinh)
+ Đánh giá quá trình và kết quả học tập của học sinh.
Sử dụng tài liệu hướng dẫn học hợp lý khi giảng bài trên lớp, khắc phục
dạy học theo lối đọc, chép. Khi thực hiện dạy học theo mô hình VNEN việc
sử dụng tài liệu hướng dẫn học làm phương tiện dạy học là hết sức cần thiết.

8


Giáo viên chú trọng khai thác đầy đủ nội dung tài liệu hướng dẫn học và cập
nhật thêm kiến thức các nội dung tích hợp như giáo dục kỹ năng sống,...
Sử dụng hợp lý công nghệ thông tin trong các bài học, khai thác tối đa

em sẽ biết nếu “kết 4” mà lớp mình có 16 bạn thì sẽ thành lập được 4 nhóm,
nếu “kết 3” thì lớp mình sẽ thành lập được 5 nhóm còn dư 1 bạn (bạn bị dư sẽ
bị phạt). Thông qua trò chơi, học sinh sẽ cảm thấy trò chơi mà mình vừa được
9


tham gia rất gần gũi với bản thân, bên cạnh đó trò chơi còn kích thích tính tò
mò, khơi dậy hứng thú trong học tập giúp các em muốn tiếp tục được trải
nghiệm kiến thức mới.
Đối với những bài có kênh hình, kênh chữ không phù hợp hoặc quá trừu
tượng với học sinh, tôi mạnh dạn điều chỉnh và giảng giải, phân tích để học
sinh hiểu. Việc đổi mới này thật sự đã phần nào mang lại hiệu quả trong công
tác dạy học của mình.
2.3.3. Giải pháp thứ ba: Đổi mới về cách tổ chức lớp học.
Theo bản thân tôi nhận thấy, đối với Mô hình trường học mới học sinh
không tiếp thu thụ động mà chủ động làm việc độc lập với tài liệu, thao tác
với các đồ vật, quan sát trực tiếp, phân tích, so sánh và tương tác với các bạn
trong nhóm, tương tác với giáo viên, với cộng đồng. Chính vì thế “nhóm” là
đơn vị học tập cơ bản nổi trội nhất trong mô hình VNEN.
Có thể nói, mọi hoạt động của học sinh diễn ra ở nhóm học tập. Học
sinh chủ yếu làm việc với nhóm, giáo viên và chung cả lớp chỉ khi cần thiết.
Bởi vậy mà việc phân nhóm tôi thường thực hiện trên cơ sở đảm bảo sự hợp lí
về sức học, về khả năng giao tiếp, sự hợp tác giữa các thành viên và việc điều
hành của nhóm trưởng để đảm bảo tương đối đồng đều giữa các nhóm.

(Ảnh: Hoạt động nhóm trong tiết Tiếng Việt lớp 3B)
10


Nhóm trưởng được coi là “người thuyền trưởng” của nhóm học tập,

đảm bảo sự thành công của Mô hình trường học mới. Về thời gian sau tôi mới
thực hiện sự luân phiên làm nhóm trưởng; như vậy mới tạo sự bình đẳng giữa
các thành viên trong nhóm, giúp tất cả các thành viên trong nhóm mạnh dạn,
tự tin chia sẻ ý kiến của mình trước tập thể.

11


(Ảnh: Học sinh chia sẻ trước lớp)
2.3.4. Giải pháp thứ tư: Nắm bắt đặc điểm tình hình học sinh.
Để làm tốt công tác giáo dục học sinh, nhiệm vụ đầu tiên của giáo viên
là nghiên cứu để nắm vững tình hình chung của lớp và của từng học sinh. Kết
quả nghiên cứu sẽ là những căn cứ để xây dựng mục tiêu, chương trình, kế
hoạch năm học để xác định nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức
giáo dục phù hợp với đặc điểm và từng đối tượng học sinh của lớp mình. Bởi
vậy mà ngay từ đầu năm, công việc đầu tiên tôi thường tập trung vào các nội
dung sau đây:
+ Nắm bắt đặc điểm tình hình gia đình học sinh như: nghề nghiệp của
cha mẹ học sinh, số anh chị em trong gia đình, hoàn cảnh và điều kiện sống,
cách thức giáo dục con cái, điều kiện đường xá đi lại,...
+ Nắm bắt về từng đối tượng học sinh như: số lượng, chất lượng học
tập, đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt, quá trình học tập, tu dưỡng đạo đức,
tinh thần đoàn kết, phong trào thi đua, ưu, nhược điểm, những điểm mạnh,
điểm yếu của từng học sịnh và cả lớp... Đặc biệt quan tâm tới những đặc điểm
riêng của học sinh (về sức khoẻ, sở thích, học lực, đạo đức, bạn bè,...).
Để nắm vững được năng lực hoạt động tập thể của từng em trong lớp
mình, tôi thường thông qua các kênh thông tin sau:
+ Điều tra qua hồ sơ học bạ, thành tích học tập;
+ Điều tra về sổ theo dõi sức khoẻ.
+ Điều tra về nhận xét đánh giá của giáo viên chủ nhiệm năm trước.

của lớp. Căn cứ vào hoạt động của lớp trong năm học, Hội đồng tự quản họp
có sự tham gia tư vấn của giáo viên để dự kiến thành lập các ban tự quản và
thường phải thông qua ý kiến của tập thể lớp. Theo kinh nghiệm tùy thuộc vào
đặc điểm của lớp tôi thường định hướng cho học sinh thành lập các ban như:
Ban học tập, Ban thư viện, Ban văn nghệ và thể dục-thể thao, Ban vệ sinh sức
khỏe, Ban đối ngoại.
Việc bầu và thành lập các ban do Hội đồng tự quản tổ chức. Tôi thường
gợi ý cho học sinh giới thiệu chức năng, nhiệm vụ của các ban; quyền lợi của
người tham gia, suy nghĩ của bạn có thể làm gì tốt nhất,... Các thành viên Hội
13


đồng tự quản phát cho mỗi bạn một tờ giấy nhỏ ghi tên, nguyện vọng tham
gia vào ban nào, sau khi lựa chọn mỗi học sinh dán lên bảng quy định cho
từng ban mà mình lựa chọn hoặc cũng có thể cho các bạn lựa chọn ban rồi
điền tên mình vào cột trong bảng.
2.3.6. Giải pháp thứ sáu: Xây dựng hoạt động của Hội đồng tự quản.
Học sinh phát triển toàn diện nhờ các hoạt động tự giáo dục của mình.
Hội đồng tự quản là tổ chức của học sinh, vì học sinh và do học sinh thực
hiện. Các em làm chủ trong mọi hoạt động. Vì vậy tôi thường hướng cho các
em tự đề xuất, bàn bạc đưa ra nội quy và cùng nhau giám sát việc thực hiện
các quy ước do mình xây dựng và cam kết thực hiện. Như vậy các em tự đề ra
các quy ước (dù là quy ước nhỏ nhất) và có trách nhiệm thực hiện các quy
ước đó. Điều đó đảm bảo tính dân chủ trong lớp học.
Trong Mô hình trường học mới VNEN, nguyên lí giáo dục là (Học đi
đôi với hành - Nhà trường gắn liền với gia đình và các tổ chức xã hội) được
thể hiện rõ rệt thông qua tổ chức và quản lí lớp học, đưa những điểm văn hóa,
kinh tế, truyền thống lịch sử của địa phương vào nhà trường. Do vậy vai trò
của gia đình là rất quan trọng trong việc học tập, giáo dục đối với học sinh.
Để phối hợp một cách chặt chẽ với gia đình, cộng đồng, ngay từ đầu

học sinh, của cộng đồng thông qua hoạt động của nhóm và chính bản thân các
em trong mỗi tiết học. Phải nắm vững yêu cầu về quan điểm dạy học, chương
trình, nội dung dạy học.
Thấy được tầm quan trọng và ích lợi của hoạt động nhóm, đòi hỏi
người giáo viên phải không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, vận dụng linh hoạt
hoạt động nhóm, trong quá trình dạy học. Nắm vững các cách chia nhóm và tổ
chức nhóm. Phải thực hiện tốt việc tổ chức lớp học. Hướng dẫn cho Hội đồng
tự quản, các Ban tự quản thực hiện một cách có hiệu quả.
Tận dụng tốt lợi thế về cơ sở vật chất để thực hiện thành công dạy học
theo Mô hình trường học mới. Phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với cha mẹ
học sinh, cộng đồng xã hội trong quá trình dạy học và giáo dục học sinh để
hình thành và phát triển những kĩ năng cần thiết cho các em cũng như thực
hiện tốt khâu xã hội hóa giáo dục.
2.4 . Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Qua thời gian thực hiện dạy học theo Mô hình trường học mới, tôi nhận
thấy những thay đổi tích cực từ phía học sinh, từ đầu năm lớp học rất trầm,
nhưng khi được làm việc hợp tác với các bạn trong nhóm, với tinh thần trách
nhiệm cao. Các em được hoạt động tích cực, những em chậm chạp và rụt rè
như em Thảo, em Lâm, Hà Linh cũng năng động hơn. Những em có tính tự ti
như em Duy, em Hoàn cũng hòa nhập với các bạn nhanh hơn.
Trong việc tổ chức hoạt động của nhóm phần nào cũng giúp cho các em
mạnh dạn, tự tin hơn. Sau các đợt thao giảng và kiểm tra nội bộ của nhà
trường được Ban giám hiệu và các đồng nghiệp đánh giá rất cao về tinh thần
học tập của lớp. Các em rất năng động, sáng tạo biết yêu thương giúp đỡ lẫn

15


nhau, cùng giúp nhau tiến bộ, các em biết nhường nhịn nhau và ngoan hơn


Điểm
5-6
SL

TL

Điểm
3-4
SL

Điểm
1-2

TL SL

TL

Toán

5

31,25%

8

50%

3


0%

- Xếp loại chung đến giữa học kì II năm học 2016-2017 như sau:
* Kiến thức, kĩ năng: Hoàn thành tốt, hoàn thành 16 em-100%
* Năng lực: Tốt, đạt 16 em - 100%
* Phẩm chất: Tốt, đạt 16 em -100%
Mặc dù mới thực hiện được 3/4 thời gian của năm học. Qua kết quả
trên, so với thực trạng ban đầu, ta thấy tỉ lệ học sinh hoàn thành bài 100%,
không còn học sinh chưa hoàn thành bài. Như vậy việc áp dụng các giải pháp
nâng cao hiệu quả tổ chức lớp học theo mô hình VNEN của tôi đã bước đầu
mang lại hiệu quả thiết thực.
Lớp học của Mô hình VNEN được bố trí giống như một phòng học bộ
môn, phòng thư viện linh hoạt. Tại lớp học cũng có góc học tập, góc cộng
đồng, góc trưng bày sản phẩm...để HS được phát huy khả năng sáng tạo độc
lập của mình.
Có thể nói Mô hình trường học mới được xây dựng theo hướng đổi mới
phương pháp dạy học với nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, học tập
mang tính tương tác và phù hợp với từng cá nhân học sinh. Chính vì vậy, việc
truyền thụ của giáo viên được chuyển thành việc hướng dẫn học sinh tự học.

16


Tham gia lớp học này, các em có điều kiện phát huy sở trường cá nhân của
mình. Học sinh được làm chủ lớp học, làm chủ quá trình học tập.
Mỗi một ngày đến lớp, các em được sinh hoạt và học tập trong môi
trường thân thiện, thoải mái, không bị gò bó, luôn được gần gũi với bạn bè,
với thầy cô. Đặc biệt với sự giúp đỡ, tương trợ của các bạn trong nhóm, nhiều
học sinh đã không còn rụt rè e ngại mà trở nên hoạt bát, hào hứng hơn trong
học tập. Vì thế mà đa số các em thích đến trường, thích được đi học.

3.1. Kết luận.
Qua thời gian vận dụng các giải pháp đổi mới phương pháp dạy học
theo Mô hình trường học mới nói trên bản thân tôi nhận thấy việc đổi mới
phương pháp dạy học ở trường Tiểu học nói chung và các khối lớp dạy theo
Mô hình trường học mới nói riêng là rất cần thiết.
Quá trình thực hiện đã mang lại những kết quả tốt đẹp. Giáo viên sử
dụng linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật dạy học nên đã phát huy được
tính tích cực, chủ động, tinh thần hợp tác, chia sẻ để cùng nhau tìm tòi, khám
phá kiến thức mới.
Học sinh luôn tự lập, tự khám phá, tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành
năng lực tự học, năng lực sáng tạo. Các em phát triển tốt các kỹ năng sống
như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử...Tạo được một môi trường học tập
thân thiện, vui vẻ, thoải mái. Chất lượng học tập ngày càng tăng lên rõ rệt.
3.2. Kiến nghị.
3.2.1. Đối với chuyên môn:
Tăng cường tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn của trường, cụm
trường nhằm trao đổi kinh nghiệm, giải quyết những khó khăn vướng mắc,
học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong quá trình thực hiện dạy học theo Mô hình
trường học mới VNEN.
3.2.2. Đối với nhà trường:
Về cơ sở vật chất: Đề nghị các cấp xây dựng, nâng cấp các phòng học
nhằm đáp ứng nhu cầu thực hiện dạy học theo Mô hình trường học mới một
cách hiệu quả.
Trên đây là nghiên cứu của bản thân tôi về “Một số kinh nghiệm nâng
cao hiệu quả tổ chức lớp học theo Mô hình trường học mới VNEN lớp 3 ở
trường Tiểu học Hải Long”. Tôi đã áp dụng và có hiệu quả thiết thực.
Mặc dù đã cố gắng nhưng thời gian áp dụng chưa nhiều, kinh nghiệm
và trình độ bản thân còn hạn chế nên sáng kiến kinh nghiệm còn nhiều điểm
thiếu sót, mong các bạn đồng nghiệp, Hội đồng khoa học nhà trường, ngành
góp ý để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status