PHẦN THỨ NHẤT: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Từ năm học 2012 – 2013 đến nay, Trường Tiểu học Đông Hải I áp dụng mô
hình dạy học mới có tên gọi: “ Mô hình trường học mới Việt Nam”. Qua nhiều
năm thực hiện, nhà trường đã được đánh giá là thực hiện khá thành công mô
hình trường học mới. Mô hình trường học mới Việt Nam là một trong những mô
hình dạy học có nhiều đổi mới so với chương trình dạy học hiện hành. Đổi mới
về quan điểm dạy học, đổi mới về hình thức tổ chức, đổi mới về phương pháp
dạy, phương pháp học, đổi mới về môi trường học tập, không gian học tập, đổi
mới tài liệu học tập … Nhìn chung, mô hình trường học mới Việt Nam là mô
hình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam hiện nay. Theo quan
điểm dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam, học sinh sẽ học tập bằng
cách tự học có hướng dẫn. Hướng dẫn học tập gồm hướng dẫn của giáo viên và
hướng dẫn của tài liệu hướng dẫn học. Vì cách học mới là tự học nên để giáo
viên thành công trong khi thực hiện dạy – học theo mô hình trường học mới, thì
việc rèn kĩ năng tự học cho học sinh là quan trọng nhất. Kĩ năng tự học của học
sinh mà tốt sẽ giúp cho các em chủ động hoàn toàn trong quá trình học tập của
bản thân mà không cần chờ đợi nhắc nhở từ người khác. Kĩ năng tự học tốt cũng
giúp các em đẩy nhanh tiến độ học tập tùy vào năng lực học tập của cá nhân mà
không phụ thuộc vào người khác. Đồng thời, kĩ năng tự học tốt sẽ giúp ích cho
việc học tập suốt quãng đời học tập của các em sau này. Chính vì vậy tôi chọn
đề tài nghiên cứu về “Một số biện pháp rèn kĩ năng tự học theo mô hình
trường học mới Việt Nam cho học sinh lớp 2”. Học sinh lớp 2 là đối tượng bắt
đầu tham gia học tập theo mô hình trường học mới nên kĩ năng tự học phải được
hình thành ngay từ khi các em còn học lớp 2.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm cách giúp học sinh lớp 2 có thể tự học được theo hướng dẫn học theo
mô hình trường học mới. Tạo cho học sinh có thói quen chủ động học tập, chủ
động hợp tác, chủ động chia sẻ để đạt được mục tiêu hoàn thành các nhiệm vụ
học tập theo hướng dẫn học.
3. Đối tượng nghiên cứu:
sinh chủ động tự thực hiện các nhiệm vụ học tập bằng các việc làm cụ thể theo
tài liệu hướng dẫn học hoặc theo hướng dẫn của thầy cô, lắng nghe, trao đổi,
phối hợp, hợp tác trong nhóm, trong lớp để tự lĩnh hội kiến thức mới, rèn kĩ
năng, hình thành năng lực, phẩm chất. Thông qua việc tự học, học sinh được rèn
luyện nhiều hơn các kĩ năng tự làm việc, kĩ năng nghe, nói, giao tiếp, ….; Kết
hợp hoạt động học ở lớp và hoạt động học ứng dụng ở nhà. Có nhiều cơ hội để
tham gia, bày tỏ ý kiến, phát huy theo khả năng của từng học sinh. Đặc biệt, học
sinh yếu được quan tâm hỗ trợ nhiều hơn để tiến kịp bạn.
Bên cạnh việc đổi mới về phương pháp dạy, học thì mô hình trường học
mới còn đổi mới về tài liệu, hình thức tổ chức, đổi mới về tổ chức lớp học, đánh
giá học sinh, đổi mới về sự tham gia của phụ huynh, cộng đồng, …. Trong đó
đổi mới về cách dạy và học là quan trọng nhất.
2. Thực trạng và khó khăn khi thực hiện mô hình.
Trường Tiểu học Đông Hải 1 là một trong những trường thực hiện dạy học
thí điểm Mô hình trường học mới Việt Nam. Đến thời điểm hiện tại, Trường đã
thí điểm dạy học mô hình này sang năm thứ năm, có thể nói là sớm và cũng khá
thành công trong việc áp dụng mô hình.
Bản thân tôi là một giáo viên trực tiếp đứng lớp, trực tiếp tham gia thí điểm
mô hình, cũng là cốt cán trung ương tham gia nhiều đợt tập huấn từ trung ương
đến địa phương từ năm học 2012 – 2013 đến nay về Mô hình trường học mới và
cũng đã gặt hái được khá nhiều thành công, đạt được nhiều thành tích xuất sắc
khi thực hiện mô hình. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, bản thân cũng gặp
không ít khó khăn. Lớp 2 là lớp học đầu tiên học sinh được thực hiện học tập
theo mô hình VNEN. Việc tổ chức lớp học rồi việc thực hiện các nhiệm vụ học
tập, việc đảm nhiệm các vai trò trong hội đồng tự quản học sinh đều khác xa so
với những gì các em được làm quen ở lớp 1. Khó khăn hơn cả là khả năng đọc
2
và đọc hiểu của các em còn rất khiêm tốn. Tài liệu học biên soạn đã dùng nhiều
một buổi học mà nó diễn ra thường xuyên trong quá trình học tập những tuần
học đầu tiên. Trước khi bước vào tiết học chính giáo viên cần giúp học sinh nắm
được cách sử dụng tài liệu học. Học sinh chỉ thực sự tự học khi các em biết sử
dụng tài liệu hướng dẫn học để học tập.
Quy trình thực hiện hướng dẫn sử dụng tài liệu gồm hướng dẫn sử dụng
các kí hiệu dùng trong tài liệu và hướng dẫn cấu trúc cơ bản của các bài học.
Sau trang đầu tiên là trang hướng dẫn sử dụng các kí hiệu dùng trong sách. Nội
dung của trang hướng dẫn bao gồm các kí hiệu trong sách được sắp xếp như sau:
3
K HIU DNG TRONG SCH
M: Mẫu và ví dụ
***** Chia thời gian theo tiết học
Hoạt động cá nhân
Hoạt động cặp đôi
Hoạt động nhóm
Hoạt động chung cả lớp
Hoạt động với cộng đồng
hng dn phn ny, giỏo viờn cn cú mt hng dn ph bng li vỡ lỳc
ny cú th hc sinh cha t c v lm theo hng dn c.
Ngay tit hc u tiờn ca hc sinh, giỏo viờn dnh ớt phỳt cho hc sinh lm
quen vi ti liu. u tiờn giỏo viờn yờu cu hc sinh quan sỏt tranh v c
thm cỏc chỳ thớch trong tranh ri chia s vi bn bờn cnh nhng iu quan
sỏt v c c. Cui cựng giỏo viờn t chc cho hc sinh chia s trc lp
nhng iu quan sỏt c. Giỏo viờn cn gii thớch thờm v cỏc kớ hiu v lụ gụ
trong hng dn hc sinh ghi nh c. Vic lm quen ny s c nhc li
trong cỏc tit hc sau hoc b sung khi hc sinh cha thnh tho s dng sỏch.
phù hợp với học sinh lớp 2 thì giáo viên cần phải điều chỉnh hướng dẫn học.
Kinh nghiệm tiếp theo để giúp học sinh lớp 2 rèn kĩ năng tự học tập theo hướng
dẫn học của mô hình trường học mới VNEN mà tôi muốn nói đến là kinh
nghiệm về điều chỉnh và bổ sung hướng dẫn học.
3. 2. Chuẩn bị tài liệu, đồ dùng học tập.
3.2.1 Chuẩn bị tài liệu:
Như chúng ta đã biết, tài liệu hướng dẫn học theo Mô hình VNEN là tài liệu
biên soạn theo hướng mở, theo hướng gợi ý nhằm mục đích có thể áp dụng cho
tất cả các vùng miền. Tài liệu mở để có thể cập nhật những nội dung, những
thông tin phù hợp với thực tiễn thời điểm tổ chức dạy – học, phù hợp với đối
tượng học sinh, phù hợp với đặc trưng, đặc điểm, điều kiện thực tế vùng miền.
Tài liệu mở nhằm phát huy, khuyến khích giáo viên sáng tạo, điều chỉnh, bổ
sung nội dung, phương pháp tổ chức cho học sinh tự học. các gợi ý và ví dụ
trong tài liệu giúp giáo viên định hướng được cách điều chỉnh tài liệu.
Chính những lí do trên, để học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 2 nói
riêng có kĩ năng tự học có hướng dẫn thì giáo viên phải điều chỉnh tài liệu
hướng dẫn học. Việc điều chỉnh có thể thực hiện qua 5 bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu bài học
Nghiên cứu bài học để bước đầu xác định mục tiêu của bài học, đọc kĩ nội
dung, các hướng dẫn trong tài liệu. Nghiên cứu để biết mục tiêu bài học và nội
dung bài học đã phù hợp chưa? Nội dung bài học có đáp ứng được mục tiêu cần
đạt không? Và ngược lại, với nội dung của bài học đó, mục tiêu cần đạt là đủ,
thừa hay cần bổ sung hoặc sắp xếp lại. Ngoài việc nghiên cứu mục tiêu và nội
dung bài học thì giáo viên cũng cần nghiên cứu các hướng dẫn học đã phù hợp
với từng hoạt động tự học của học sinh chưa? Các hướng dẫn đó đã cụ thể, vừa
5
sức với học sinh chưa?... Việc nghiên cứu bài học đòi hỏi giáo viên phải tư duy
4
Sau khi nghiên cứu bài học, tôi xác định: Mục tiêu hoạt động là nhằm ôn lại
phép cộng có tổng bằng 10, đồng thời khởi động tiết học.
Vấn đề cần điều chỉnh là:
- Lô gô hoạt động và hướng dẫn chưa cụ thể, khó thực hiện với học sinh lớp 2,
gây căng thẳng ngay khi bước vào tiế học.
Từ những xác định trên tôi viết điều chỉnh như sau:
1. Ôn lại các phép cộng có tổng bằng 10
Việc 1: Em nhẩm lại các phép cộng có tổng bằng 10.
Việc 2: Chơi trò chơi “đố bạn”
Em nghĩ ra một số, em hỏi bạn số nào cộng với số em nghĩ ra bằng 10?
6
Bạn trả lời đúng bạn được nghĩ ra một số và đố lại em, bạn trả lời sai, em nêu
đáp án và đố tiếp.
Bước 4. Trao đổi và thống nhất
Sau khi hoàn tất việc viết điều chỉnh giáo viên cần phải thống nhất ý kiến
với khối tổ, tránh việc điều chỉnh ngẫu hứng theo ý kiến cá nhân.
Bước 5: Đối chiếu, rà soát tính hiệu quả trước khi thực hiện.
Bước này giúp giáo viên chắc chắn hơn về ý tưởng của mình.
3.2.2. Chuẩn bị đồ dùng học tập:
Để học sinh chủ động thực hiện nhiệm vụ học tập của mình một cách có hiệu
quả thì việc chuẩn bị đồ dùnghọc tập để đáp ứng đúng về chủng loại, đủ về số
lượng để các em tự sử dụng thì ngoài danh mục đồ dùng có sẵn theo chương
trình hiện hành ra, giáo viên và học sinh trường học mới cần làm thêm vô số đồ
sinh.
7
+ Quan tâm đến việc đảm bảo an toàn khi sử dụng các dụng cụ có khả năng gây
thương tích như kéo, kim, ....
+ Khuyến khích các em tái sử dụng các nguyên liệu đã qua sử dụng nhằm giúp
các em có ý thức thân thiện với môi trường như tận dụng lõi giấy vệ sinh, ống
lon đồ uống , đồ chơi hỏng, giấy màu, bìa các tông, ... để làm ra những đồ dùng
như ống truyền tin, chuông báo hiệu, thẻ màu, thẻ bìa,...
- Đồ dùng làm ra cần chú ý đến việc sử dụng cho nhiều tiết học, môn học.
Ví dụ: Trò chơi “Truyền điện” đây là trò chơi được thực hiện ở nhiều bài học,
trò chơi thường được sử dụng trong các dạng bài ôn lại kiến thức, kĩ năng đã
biết nhằm tạo đà cho các em bước vào bài mới một cách hứng thú nhất.
Dưới đây là hình ảnh minh họa một số đồ dùng tự làm do giáo viên và học
sinh lớp tôi đã làm:
Thẻ màu cặp
đôi
Biển báo cáo
Các loại bảng nhóm, bảng cam kết.
8
Các
công cụ
lớp học
VNEN
bổ sung theo mức độ từ dễ đến khó có thể chia nhỏ câu hỏi trong tài liệu để học
sinh có thể trả lời được các phần câu hỏi. Từ đó các em có thể nắm được nội
dung của bài và nâng cao kĩ năng đọc hiểu của mình lên. Đối với nhóm học sinh
đọc được, các em đã đọc được văn bản nên kĩ năng cần rèn cho các em là đọc
hiểu. Để giúp nhóm học sinh nhóm này đọc hiểu được, tôi soạn riêng cho các em
một hệ thống câu hỏi dễ mà các em chỉ cần đọc ở trong văn bản là trả lời được.
Đối với nhóm học sinh đọc yếu, đây là nhóm khó khăn và nan giải nhất, cần sự
giúp đỡ của giáo viên nhiều nhất.
Trong nhóm học sinh này tôi tiếp tục chia các em thành hai nhóm nhỏ, nhóm
đọc chậm và nhóm chưa đọc được. Đối với nhóm đọc chậm, tôi có thể giải thích
giúp các em về nội dung và câu hỏi để các em hiểu mình cần phải trả lời cái gì
và trả lời ra sao. Sau đó tôi sẽ đặt lại câu hỏi để các em tự trả lời. ngoài giúp đỡ
trực tiếp, tôi còn huy động sự giúp đỡ từ nhóm Hội đồng tự quản học sinh, nhóm
học sinh và bạn cùng bàn tham gia giúp đỡ các em những công việc trên. Đối
với nhóm chưa đọc được, song song với việc luyện đọc tôi phải bắt đầu từ việc
đọc hộ tài liệu, từ câu lệnh, đến nội dung, câu hỏi, khuyến khích các em nghe,
nhớ và tìm câu trả lời trước, dần dần các em sẽ tự nâng dần kĩ năng đọc của
mình lên các mức độ cao hơn và tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập theo hướng
dẫn của tài liệu. Ngoài những biện pháp nhằm giúp học sinh rèn kĩ năng đọc
hiểu ra thì việc đánh giá, động viên sự tiến bộ thường xuyên đối với học sinh là
10
vô cùng quan trọng. Giáo viên không chỉ động viên khuyến khích những học
sinh đã tự hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập mà còn phải động viên khuyến
khích những học sinh đọc có tiến bộ . Chẳng hạn nhóm chưa đọc được khi các
em đã bước đầu đọc được giáo viên cần ghi nhận khen ngợi để các em tự tin rèn
luyện tiếp.
3.4. Áp dụng Quy trình 10 bước học tập linh hoạt theo mô hình trường học
mới Việt Nam.
ngồi ở vị trí nào cũng có thể nhìn thấy. Trong quá trình học tập đôi khi học sinh
có thể quên một số bước nào đó thì việc đọc lại “10 bước học tập” là cần thiết
nên vị trí treo phù hợp sẽ giúp các em học theo quy trình “10 bước học tập”
thuận tiện hơn.
Nếu nói Tài liệu hướng dẫn học là cẩm nang, là biển chỉ đường, là chìa khoá
giúp các em tự thực hiện các nhiệm vụ học tập thì quy trình 10 bước học tập sẽ
giúp các em biết tự học theo trình tự nào. Học sinh luôn học tập, thực hiện
nhiệm vụ theo 10 bước học tập linh hoạt, chủ động chứng tỏ kĩ năng tự học của
các em rất tốt.
3.5. Phát huy vai trò của Hội đồng tự quản, nhóm học tập:
3.5.1. Phát huy vai trò của Hội Đồng tự quản học sinh
Học sinh phát triển toàn diện nhờ các hoạt động tự giáo dục, học tập của
mình. Hội đồng tự quản học sinh là tổ chức của học sinh, vì học sinh và do học
sin thực hiện. Các em được làm chủ trong việc bầu ra Hội đồng tự quản, Chủ
tịch, Phó chủ tịch và các ban của Hội đồng tự quản.
Học sinh tự đề xuất, bàn bạc đưa ra các nội quy và cùng nhau thực hiện
các nội quy đó một cách có giám sát lẫn nhau theo sự phân công cụ thể cho từng
thành viên.
Quyền và trách nhiệm của mỗi thành viên Hội đồng tự quản học sinh
đồng thời được quy định và thực hiện trong nhóm và trong lớp học bởi học sinh.
Hội đồngtự quản có một số ban học tập. Số ban trong Hội đồng tự quản
do mỗi lớp quy định. Tên mỗi ban cũng do học sinh tự thảo luận bàn bạc đặt ra.
Ở lớp tôi, học sinh được chia thành các Ban gồm: Ban học tập; Ban đại
diện lớp học; Ban văn nghệ, thể thao; Ban quyền lợi học sinh và vệ sinh sức
khỏe; Ban đồ dùng, thư viện. Các thành viên trong mỗi ban cùng nhau xây dựng
những yêu cầu, nội dung và cách thức hoạt động của Ban.
12
Để phát huy được vai trò của Hội đồng tự quản, tăng cường được khả
bình đẳng giữa các thành viên trong nhóm, đồng thời tăng cường khả năng điều
hành cho mỗi học sinh. Hiện nay, trải qua một năm học, đa số học sinh lớp tôi
đều có thể đảm nhiệm vai trò làm nhóm trưởng.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi khám phá áp dụng mô hình theo cách
làm nhằm rèn kĩ năng tự tự học cho học sinh lớp 2, bằng cách giúp các em làm
quen với tài liệu đầu năm học, điều chỉnh tài liệu, rèn kĩ năng đọc, … tôi đã thu
được kết quả nhất định. Hầu hết học sinh lớp tôi đã đã hoàn toàn chủ động thực
hiện nhiệm vụ học tập của mình một cách tự giác, tích cực. Không còn thói quen
chờ đợi sự dẫn dắt, mở đường từ giáo viên mà các em tự học, tự tổ chức, tự tìm
hiểu, tự khám phá, tự rút ra bài học, tự áp dụng, tự đánh giá sự tiến bộ của mình,
cho mình. Để từ đó các em chủ động hơn, tự tin hơn, có nhiều kĩ năng hơn trong
13
mọi lĩnh vực cuộc sống. Với cách học mới này, qua các lần kiểm tra, lớp tôi luôn
được nhà trường đánh giá cao về ý thức tự học và thành thạo trong việc sử dụng
tài liệu hướng dẫn học để học tập. Bản thân cá nhân tôi nhiều năm liên tục đạt
các thành tích cao trong việc thực hiện dạy học theo mô hình trường học mới cụ
thể như sau: Năm học 2012 – 2013, tôi có sáng kiến đạt loại A cấp tỉnh viết về
mô hình trường học mới VNEN, năm học 2013 - 2014 và năm học 2015- 2016,
tôi đều đạt danh hiệu Giáo viên dạy giỏi bậc tiểu học cấp thành phố. Cũng trong
các năm học 2014 – 2015 tôi được Bộ giáo dục và Đào tạo chứng nhận có thành
tích xuất sắc trong khi thực hiện dự án mô hình trường học mới VNEN. Đặc
biệt, trong dịp Tổng kết dự án Mô hình trường học mới Việt Nam VNEN do Bộ
Giáo dục và Đào tạo tổ chức tôi vô cùng vinh dự được Bộ trưởng Bộ giáo dục và
Đào Tạo Phùng Xuân Nhạ tặng bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong khi
thực hiện nhiệm vụ dự án mô hình VNEN. Gần đây nhất trong Hội thi giáo viên
giỏi bậc tiểu học cấp tỉnh tôi đã đạt danh hiệu Giáo viên giỏi cấp tỉnh với số
điểm cao. Trong quá trình dạy học, tôi cũng rút ra được một số bài học kinh
Trong suốt quá trình tự học nếu gặp khó khăn em luôn được cô giáo nhiệt tình giúp
đỡ tại nhóm.
Cả nhóm đã thống nhất ý kiến, nhanh tay giơ biển báo phát tín hiệu hoàn thành để cô
giáo biết.
16
Sau mỗi hoạt động, đại diện Ban học tập sẽ điều hành cả lớp cùng chia sẻ kết quả học
tập. Các em tự tin báo cáo kết quả học tập.
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN
1. Kết luận:
Vẫn còn sớm để nói các việc làm như giúp học sinh lớp 2 làm quen với tài
liệu, lô gô ở tài liệu, điều chỉnh tài liệu hướng dẫn học hay rèn kĩ năng đọc và
đọc hiểu cho học sinh cùng với việc áp dụng quy trình 10 bước học tập và chuẩn
bị các công cụ, đồ dùng học tập, phát huy vai trò của Hội đồng tự quản, nhóm
học tập là sáng kiến kinh nghiệm rèn kĩ năng tự học cho học sinh lớp 2 theo mô
hình trường học mới Việt Nam, nhưng đây là những việc làm mà tôi tâm đắc
nghiên cứu và áp dụng trong quá trình dạy học theo Mô hình trường học mới
Việt Nam VNEN trong những năm học thực hiện mô hình. Tuy chưa nhiều
nhưng bước đầu tôi cũng đã thu được thành công nhất định đó là:
Sau nhiều năm học áp dụng cách làm trên, Học sinh các lớp do tôi chủ nhiệm
đã tương đối thành thạo việc sử dụng các tài liệu hướng dẫn học để tự hoàn
thành và hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập. Các em tự tin hơn, chủ động hơn
trong quá trình học tập của mình. Tôi tin rằng với cách làm này tôi đã thành
công ở lớp 2 thì chắc rằng đối với các khối lớp trên sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn
19