MỤC LỤC
STT
NỘI DUNG
TRANG
1
I. MỞ ĐẦU
2
2
1. Lí do viết chọn đề tài
2
3
2. Mục đích nghiên cứu
3
4
3. Đối tượng nghiên cứu
3
10
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
15
12
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
16
13
1. Kết luận
16
14
2. Kiến nghị
17
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do viết chọn đề tài
Mục tiêu quan trọng của chương trình Tiếng Việt tiểu học là dạy cho học sinh
một công cụ để giao tiếp và học tập. Nhưng để sử dụng Tiếng Việt như một công
1
2. Mục đích nghiên cứu:
2
Nâng cao hiệu quả của việc dạy đặt câu cho học sinh lớp 2. Từ đó rút ra
những kết luận sư phạm ứng dụng vào việc dạy đặt câu trong phân môn Luyện từ
và câu nói riêng và các môn học khác nói chung.
Cải tiến các phương pháp, hình thức dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy
đặt câu cho học sinh lớp 2.
Giúp học sinh biết đặt câu đúng và giàu hình ảnh. Từ đó, học sinh sẽ học tốt
phân môn luyện từ và câu nói riêng và các môn học khác nói chung.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Rèn kĩ năng đặt câu đúng cho học sinh lớp 2B trường Tiểu học Hermann
Gmeiner Thanh Hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Tham khảo tài liệu, thông tin
đại chúng ....
Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Thông qua việc dự giờ thăm lớp và quan sát việc
học tập của các em của lớp tôi chủ nhiệm.
- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với đồng nghiệp, tổ chuyên môn, học
sinh, phụ huynh để tìm ra nguyên nhân và hướng khắc phục.
- Phương pháp điều tra: tìm hiểu thực trạng ở trường, ở lớp.
Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh ...
trong quá trình bản thân viết SKKN.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Ở nước ta , môn Tiếng Việt ở tiểu học giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nó góp
phần đắc lực vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ở tiểu học theo đặc
Bạn Vân Anh
là học sinh lớp 2A
HS đặt:
Mẹ em là công nhân.
Bố em là thợ xây.
Em là học sinh lớp 2B …
4
Thực ra những câu học sinh đặt như trên là hoàn toàn đúng, đúng cả về nội
dung, đúng cả về cấu trúc ngữ pháp. Nhưng nếu học sinh cứ đặt câu theo mẫu như
thế thì câu văn vô cùng khô khan, không có hình ảnh và cảm xúc. Thực trạng này
cũng trả lời cho câu hỏi vì sao mà học sinh ở các lớp trên viết văn khô khan, cả bài
văn chỉ có vài dấu chấm dấu phẩy, câu từ không hợp lý, diễn đạt vụng về. Ngôn
ngữ của học sinh còn nghèo nàn, vốn Tiếng Việt của các em còn hạn chế nên việc
sử dụng từ để đặt câu còn kém.
- Một số em chưa hiểu rõ thế nào là câu, hiểu lẫn lộn mẫu câu Ai là gì ? với
Ai làm gì ?
Ví dụ : Tìm mẫu câu Ai là gì? Thì đặt câu: Em đang đọc sách
Tìm mẫu câu: Ai làm gì? thì lại đặt: Bố em làm nghề xây dựng.
- Một số khác thì ý thức học và tự học của các em còn hạn chế, chưa vận
dụng từ vào để sắp xếp thành câu hợp lí . . .
Từ thực trang trên, tôi thấy nếu không có biện pháp luyện tập cách đặt câu
cho học sinh thì chất lượng dạy học phân môn nói riêng và các môn học khác sẽ
không cao. Trong năm học trước, khi đánh giá chất lượng bài thi, các giáo viên
đều có chung nhận định: Các em viết câu lủng củng, câu văn thì nghèo nàn, khô
khan. Những hạn chế trên một phần là do giáo viên chưa chú ý đúng mức đến
TL
SL
TL
SL
TL
2A 32 em
8 em
25 %
9 em
28,2 %
15 em
46,8 %
2B 32 em
8 em
25 %
Ví dụ: Khi dạy bài tập 2 – Từ ngữ về tình gia đình. Câu kiểu: Ai làm gì?
( TV2 – Tuần 14- Trang 116). Tôi đã thực hiện như sau:
Chọn và sắp xếp các từ ở ba nhóm sau thành câu:
1
2
3
Anh
khuyên bảo
anh
chị
chăm sóc
chị
em
trông nom
em
chị em
giúp đỡ
Như vậy với những từ ở trên, HS dễ dàng ghép mỗi từ ở mỗi nhóm để tạo
thành các câu có nghĩa.
Tôi tiếp tục cho các em nhắc thành thạo bằng miệng các câu trên nhất là HS
trung bình và yếu để các em định hình và làm quen với cách đặt câu. Tôi hỏi tiếp:
- Vậy các em thấy đầu câu được viết như thế nào ? Cuối câu có dấu gì ?
HS dễ dàng trả lời và nhận ra một quy tắc là đầu câu bao giờ cũng phải viết
hoa và cuối câu bao giờ cũng có dấu chấm.
Bằng hệ thống câu hỏi hợp lý tôi tiếp tục khai thác giúp các em đặt được
nhiều câu với những từ đã cho sẵn ở trên . Cụ thể như một từ ở nhóm 1 có thể
ghép được với nhiều từ ở nhóm 2 và nhóm 3 để tạo thành câu mới mang một nội
dung khác như:
Anh khuyên bảo em.
Anh chăm sóc em.
Anh trông nom em.
Anh giúp đỡ em.
Chị em khuyên bảo nhau.
Chị em chăm sóc nhau.
Chị em trông nom nhau.
Chị em giúp đỡ nhau.......
Vậy là, chỉ với 3 nhóm 12 từ, bằng cách khai thác hợp lý tôi đã giúp các em
đặt được rất nhiều câu có nội dung hết sức phong phú. Tiết học tăng buổi tôi cho
các em tiếp tục đặt câu dựa vào nội dung bài tập trên và các em đã đặt được rất
nhiều câu, ví dụ như: Em cho gà ăn. Em đang học bài. Mẹ em đang cắt cỏ....Như
vậy, từ những kiến thức có sẵn trong sách tôi đã giúp các em vượt xa ra ngoài thực
tế và thực tế ở đây lại hết sức sát thực và gần gũi với các em .
Sau khi học sinh nắm chắc mẫu câu Ai làm gì ? tôi đưa ra một số câu khác .
8
câu:
1
2
3
em, chị em,
quét dọn, giặt,
nhà cửa, sách vở,
Linh, cậu bé
xếp, rửa
bát đũa, quần áo.
Ai
làm gì?
M: Em
quét dọn nhà cửa.
HS đặt:
Em giặt quần áo.
sử dụng. Vì vậy, việc chuyển từ ngôn bản nói sang ngôn bản viết đối với các em
hết sức dễ dàng .
Ví dụ: Bài 3 - Tuần 2- TV2 Tập 1 – Trang 12
Kể lại nội dung mỗi tranh dưới đây bằng 1, 2 câu để tạo thành một câu
chuyện.
HS kể: “ Lan và các bạn đi chơi trong công viên. Lan ngắm hoa và định ngắt
hoa. Tùng nhìn thấy và khuyên bạn đừng ngắt hoa.”
Tôi cho HS quan sát kĩ tranh, gợi ý thêm để học sinh đặt được những câu có
nhiều hình ảnh và cảm xúc hơn : “ Một buổi sáng đẹp trời, Lan và các bạn dạo
chơi trong công viên. Ở đây, khung cảnh thật là lãng mạn. Lan đang say sưa ngắm
những bông hoa hồng. Em định đưa tay ngắt một bông hoa thì bỗng một bạn nam
ngăn lại. Bạn nói: Bạn đừng ngắt hoa, hãy để nóa khoe sắc hương để mọi người
cùng thưởng thức nhé. Lan hiểu ra và hai bạn cùng nhau ngắm những bông hoa
thật đẹp.”
Biện pháp 3. Thêm một số câu hỏi phụ vào mẫu câu.
Sau khi HS đã đặt câu thành thạo với hai dạng trên tôi vận dụng liên tục vào
trong các giờ học Luyện từ và câu khi có bài tập đặt câu và thực tế thì các em đặt
câu rất tốt. Tôi tiếp tục tìm thêm một phương án nữa giúp HS đặt câu hay hơn và
câu văn có ý nghĩa cụ thể hơn. Đó là bước sang học kì II HS tiếp tục làm quen với
11
việc đặt và trả lời câu hỏi Khi nào ? Vì sao ? ở đâu ? Như thế nào ? Để làm gì ? .
Dựa vào sự hiểu biết của các em về cách đặt và trả lời các câu hỏi này tôi áp dụng
gợi ý thêm cho các em bằng cách thêm một số câu hỏi phụ vào các câu mà các em
đã đặt được như các câu ở trên . Cụ thể trong câu:
" Anh chăm sóc em ." Tôi hỏi các em:
Hỏi: Anh chăm sóc em như thế nào ?
HS trả lời: Anh chăm sóc em rất tận tình và chu đáo.
Hỏi: Vì sao anh chăm sóc em?
Tùy theo đặc điểm của bài tập, giáo viên có thể chia nhóm cho học sinh thảo
luận theo những cách khác nhau như: Chia nhóm theo vị trí chỗ ngồi, chia nhóm
theo hình thức ngẫu nhiên, chia nhóm theo trình độ nhận thức và mức độ nắm vốn
từ của học sinh…. Mỗi cách chia nhóm đều có ưu và nhược điểm nhất định, khi
lựa chọn giáo viên phải linh hoạt, thường xuyên thay đổi hình thức để tránh nhàm
chán cho học sinh.
- Giao nhiệm vụ thảo luận cho học sinh.
Nhiệm vụ thảo luận nhóm được cụ thể hóa trong phiếu bài tập ( hoặc phiếu
giao việc) cho cả nhóm.
Ví dụ: Luyện từ và câu ( Tuần 5)
Bài: Tên riêng và cách viết tên riêng. Câu kiểu: Ai là gì?
PHIẾU HỌC TẬP
Thảo luận nhóm 3, đặt câu:
a, Giới thiệu về trường của em: ……………………………………………….
b, Giới thiệu môn học em yêu thích:………………………………………….
c, Giới thiệu về làng ( phố, ấp, xóm) nơi em đang ở: ………………………
- Học sinh thảo luận nhóm
Trong bước này, học sinh thực hiện các yêu cầu của phiếu bài tập, giáo viên
quan sát hướng dẫn và giúp đỡ các nhóm khi cần thiết, đảm bảo mọi nhóm đều
thảo luận sôi nổi, hiệu quả.
- Các nhóm báo cáo kết quả.
Trong thời gian các nhóm báo cáo kết quả, giáo viên tạo điều kiện cho các
nhóm khác nhận xét, bổ xung để đi đến kết quả thảo luận cuối cùng của lớp.
13
- Giáo viên tổng kết, chốt lại kiến thức cần nhớ sau khi thảo luận nhóm và
tuyên dương những nhóm, cá nhân tiêu biểu, phê bình nhắc nhở những nhóm,
những cá nhân chưa tích cực để lần sau các em cố gắng hoạt động hiệu quả hơn.
Phương pháp thảo luận nhóm nhằm hình thành năng lực giao tiếp, kỹ năng
cách khác, giúp học sinh được hoạt động với nhiều từ hơn để ghi nhớ câu hiệu quả
hơn.
Những trò chơi này theo dạng rất đơn giản, giáo viên không phải chuẩn bị, dể
tổ chức và không gây ồn ào nhưng lại có tác động tích cực đến việc ghi nhớ từ ngữ
của học sinh. Nếu giáo viên tổ chức tốt 2 trò chơi thì ngoài tác dụng củng cố kiến
thức của bài học, trò chơi còn có tác dụng trở lại với bài học mới để ghi nhớ kiến
thức của bài học. Học sinh phải cố gắng để khi chơi được nhiều từ nhất. Từ đó,
hiệu quả của giờ học được nâng cao, số lượng câu và chất lượng câu sau mỗi bài
học sẽ được chuyển biến rõ rệt.
Trò chơi học tập rất hấp dẫn đối với học sinh. Tuy nhiên, giáo viên không
nên lạm dụng trò chơi học tập, biến cả tiết học thành tiết chơi gây nhàn chán đối
với học sinh. Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo , chặt chẽ về điều kiện vật chất và
cách thức thể lệ chơi. Trong lúc chơi, giáo viên cần hướng dẫn, động viên hoàn
thành tốt bài tập, tạo sự hưng phấn, thích thú trong tiết học. Tổ chức trò chơi trong
giờ mở rộng vốn từ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố: thời gian ngắn, nội dung
kiến thức thay đổi theo từng bài học… Vì vậy, tổ chức trò chơi phải linh hoạt,
khéo léo, không làm ảnh hưởng đến thời gian và đảm bảo chất lượng dạy học.
Biện pháp 6. Vận dụng hợp lý các hình thức thi đua, khen thưởng nhằm
khuyến khích học sinh mạnh dạn, chủ động, sáng tạo trong giờ học.
Thi đua gắn với khen thưởng là một động lực không thể thiếu được trong quá
trình học của học sinh. Hình thức ti đua khen thưởng rất phù hợp với đặc điểm tâm
lý của học sinh tiểu học. Các em cố gắng phấn đấu vì động cơ rất đơn giản: Cố
gắng để được cô giáo khen, được bạn bè mến phục, cố gắng để làm vui lòng ông
bà, bố mẹ… Trong mỗi tiết hoc, nhờ không khí thi đua, học sinh sôi nổi hơn, hăng
say hơn. Nếu được khen đúng lúc, học sinh sẽ cảm thấy tự tin và phấn đấu hơn.
Hiện nay, giáo viên ít sử dụng khen thưởng nên giờ học trầm, không sôi nổi và
chất lượng dạy học cũng bị hạn chế do lý do này.
- Hình thức khen thưởng đua ra phải mang tính cụ thể, chủ yếu về mặt tinh
thần để khuyến khích học sinh: cộng điểm “tốt” 1 tràng vỗ tay…
15
Lớp Tổng
số
Đặt câu đúng mẫu,
Đặt câu đúng mẫu, đầy
Đặt câu chưa đúng mẫu
đầy đủ nội dung, có đủ nội dung .
hình ảnh và cảm
xúc.
SL
TL
SL
TL
SL
TL
2A 32 em
12em
đầy đủ mục tiêu cần đạt về kiến thức và kỹ năng ở từng bài tập đối với từng đối
tượng học sinh.
- Cần hướng dẫn HS đọc kĩ, nắm được yêu cầu của đề bài. Đặt câu như thế
nào? Đặt câu theo mẫu nào? Đặt câu nhằm mục đích gì?
- Cần hướng dẫn HS khá giỏi làm mẫu tốt trước khi cho cả lớp thực hành đặt
câu, biết cách gợi mở để kích thích HS sáng tạo khi đặt câu.
- Tổ chức cho HS thực hành đặt câu thông qua hoạt động nhóm để các em có
cơ hội thể hiện mình, có cơ hội rèn kĩ năng giao tiếp. Đây cũng là cơ hội để các em
phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập .
- Cần chữa ngay những lỗi của học sinh cũng như động viên kịp thời những
HS đặt được những câu văn hay, đầy đủ ý và có hình ảnh.
- Luôn luôn tạo không khí thoải mái, nhẹ nhàng trong các tiết học để HS tự
tin, học tập có hiệu quả hơn.
2. Kiến nghị
17
- Giáo viên cần vận dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực để nâng cao
hiệu quả dạy học phân môn Luyện từ và câu như: thảo luận nhóm, trò chơi học
tập và các hình thức thi đua khen thưởng.
- Giáo viên phải chú ý tự trau dồi vốn từ cho mình. Đọc tài liệu để có những
hiểu biết, vốn từ sâu sắc để đặt và hướng dẫn học sinh đặt câu văn có hình ảnh và
cảm xúc.
- Ban giám hiệu nhà trường chỉ đạo đầu tư mua sắm đầy đủ sách tham khảo,
tài liệu, các thiết bị công nghệ hiện đại phục vụ môn Tiếng Việt để giáo viên mượn
và sử dụng trong giảng dạy có hiệu quả hơn.
- Các cấp lãnh đạo mở các chuyên đề dạy phân môn Luyện từ và câu để giáo
viên các trường học hỏi kinh nghiệm để giảng dạy được tốt hơn.
Tuy nhiên, đề tài không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
sự góp ý của các cấp lãnh đạo và các đồng nghiệp.