Một số biện pháp nâng cao hiệu quả việc dạy học từ láy cho học sinh lớp 4 - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
-----------o0o------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC DẠY
HỌC TỪ LÁY CHO HỌC SINH LỚP 4

Người thực hiện: Mai Thị Hiên
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ba Đình
Sáng kiến kinh nghiệm thuộc môn: Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC
Trang
I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:.....................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu :............................................................................................. 2
3. Đối tượng nghiên cứu:………….………………………………………....……… 2
4. Phương pháp nghiên cứu:…………………………………………...……………..2
II: NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận của vấn đề……………………………………………........................3
2. Thực trạng của vấn
đề...............................................................................................3
3. Biện pháp giải quyết vấn đề:………………………………………………...……..4

thể không coi trọng việc dạy vốn từ láy cho học sinh. Trong giao tiếp thông
thường, cả người phát (nói, viết) và người nhận (nghe, đọc) đều cần nắm được
từ láy, hiểu từ láy và sử dụng từ láy một cách chính xác, thì việc giao tiếp mới
diễn ra suôn sẻ, đạt được hiệu quả cao. Nhất là đối với học sinh độ tuổi Tiểu học,
khi mà vốn Tiếng Việt nói chung, vốn từ láy nói riêng ở các em còn hạn chế, cần
phải được bổ sung, phát triển để đáp ứng các nhu cầu học tập, giao tiếp.Vì vậy,
việc dạy từ láy cho học sinh càng được coi trọng, không thể dạy lướt qua.
Trước tình hình một số học sinh đã học lớp 4, khi học xong phần từ láy mà
bản chất từ láy các em không hiểu, thậm chí còn không phân biệt được các từ
láy đơn giản và thông thường nên đây chính là mối quan tâm và lo ngại của giáo
viên chủ nhiệm. Từ thực tế kỹ năng nhận biết từ láy của học sinh còn hạn chế,
chưa đạt yêu cầu cơ bản của học sinh cuối cấp ở bậc Tiểu học. Do vậy, tôi suy
nghĩ và tìm ra “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả việc dạy học từ láy cho hs
lớp 4”

1


2/ Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nhằm nâng cao hiệu quả việc dạy học từ láy cho học sinh tiểu học,
đồng thời giúp học sinh hiểu sâu hơn về từ láy. Các em phải đạt được yêu cầu và
nắm bắt tính chất cơ bản của từ láy, không còn mắc lỗi phổ biến và có khả năng
nhận biết và vận dụng tốt từ láy vào vốn từ Tiếng Việt của mình.
3/ Đối tượng nghiên cứu:
Vấn đề tiếp thu học từ láy là học sinh lớp 4A2-Trường Tiểu học Ba Đình, TP
Thanh Hoá
4/ Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.

hay nói đúng hơn là sợ do nắm chưa vững và ít thực hành về từ láy.
Năm học 2015 – 2016, được sự thống nhất của giáo viên chủ nhiệm khối
lớp 4 và sự cho phép của Ban giám hiệu. Sau khi học xong phần từ láy,tôi thống
kê các sai lầm của học sinh trong lớp 4A2 đó là: một số học sinh chưa nắm vững
khái niệm về từ láy, còn lúng túng khi phân biệt từ láy với từ ghép. Bên cạnh đó
học sinh giải nghĩa từ láy chưa chính xác và sử dụng từ láy còn chưa thật hiệu
quả, từ đó tôi có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học về từ láy để các em
đạt kết quả tốt hơn.
Sau khi học xong phần từ láy, tôi ra đề kiểm tra các kiến thức về từ láy.
Bài kiểm tra
Bài 1: Những từ nào là từ láy
Ngay ngắn, ngay thẳng, thẳng thắn, thẳng tuột, thẳng tắp.
Bài 2: Hãy xếp các từ sau thành 2 loại: từ ghép, từ láy

3


Sừng sững, chung quanh, lủng củng, hung dữ, mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp,
dẻo dai, vững chắc, thanh cao, giản dị, chí khí.
Bài 3: Từ láy “ xanh xao” dùng để tả màu sắc của đối tượng:
A, da người
B, lá cây còn non
C, lá cây đã già
D, trời
Bài 4: Cho đoạn văn sau:
“ Đêm về khuya lặng gió. Sương phủ trắng mặt sông. Những bày cá nhao lên
đớp sương tom tóp, lúc đầu còn loáng thoáng dần dần tiếng tũng toẵng xôn xao
quanh mạn thuyền”.
a. Tìm những từ láy có trong đoạn văn
b. Phân loại các từ láy tìm được theo các kiểu từ láy đã học.

Tỉ lệ

65,8 %
61 %
58,5 %
58,5 %

Chưa hoàn thành
Số lượng

4em
5em
5em
7em

Tỉ lệ

9,8 %
12,2 %
12,2 %
17,1 %

Qua việc kiểm tra trên cho thấy tỉ lệ học sinh chưa hoàn thành còn cao. Từ lí do
trên tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy
học từ láy cho học sinh lớp 4 ”.
Để dạy học phần từ láy có chất lượng, tôi đã tìm ra các nguyên nhân sau:
* Nguyên nhân 1: học sinh lung túng khi xác định từ láy:
* Nguyên nhân 2: Học sinh không phân biệt được từ láy với từ ghép:
* Nguyên nhân 3: Học sinh chưa hiểu rõ nghĩa từ láy:
* Nguyên nhân 4: Học sinh còn lúng túng khi sử dụng từ láy:

xinh
xinh xắn;cũ
cũ kĩ; ...
- Còn có những từ láy trong đó không xác định được tiếng gốc như: bâng
khuâng, man mác, hời hợt.
- Có một số từ mà các tiếng trong từ được biểu hiện trên chữ viết không có
phụ âm đầu.
VD: ao ước, yên ả, ấm ức, ấm áp, ít ỏi; óng ả;…(những từ này xác định
được tiếng gốc)
+ Ấp úng; ẽo ợt, ỉ eo, oái oăm, ỏn ẻn, ọc ạch; õng ẹo; ậm oẹ; ... (những từ
này không xác định được tiếng gốc) ( Sách Ngữ pháp TV – NXB Đại học quốc
gia Hà Nội) [2]
Thoạt nhìn và đối chiếu với định nghĩa về từ láy ta có thể nghĩ rằng các từ
trên không phải là từ láy, nhưng nếu quan sát kĩ ta thấy các từ trên đều giống
nhau về hình thức ngữ âm ( các tiếng đều vắng phụ âm đầu). Bên cạnh đó đặc
trưng ngữ nghĩa của những từ ngữ này cũng gần giống với đặc trưng ngữ nghĩa
nói chung của từ láy.
Chính vì vậy mà giáo viên cần nói rõ cho học sinh thấy được các từ láy trên
là từ láy đặc biệt vì chúng cùng vắng khuyết phụ âm đầu, nó không giống các từ
láy bình thường về hình thức ngữ âm.
* Phân biệt từ láy với từ ghép:
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 định nghĩa từ láy: “Phối hợp những tiếng có âm
đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau. Đó là từ láy.”

5


Định nghĩa trên chủ yếu nhấn mạnh các dấu hiệu hình thức của từ láy. Cho
nên, trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ thêm các
trường hợp sau:

“dẻo” là dễ uốn cong, “dai” có khả năng chịu lực, khó bị làm đứt, cho rời ra từng
mảnh. Hai tiếng này bổ sung cho nhau tạo thành nghĩa chung dẻo dai có khả
năng hoạt động trong thời gian dài nên nó là từ ghép.[3]
* Giúp học sinh hiểu rõ nghĩa từ láy:
So với nghĩa của tiếng gốc , nghĩa của từ láy xác định hơn, gợi tả hơn, có
giá trị biểu hiện , biểu cảm cao hơn.

6


Để hiểu rõ nghĩa của từ láy giáo viên cho học sinh làm bài tập 2 trang 40
( SGKTV4-tập 1). Từ các tiếng cho trước giáo viên cho học sinh tìm các từ láy,
sau đó yêu cầu học sinh giải thích từng từ mà các em tìm được.
Từ một tiếng gốc là ‘ngay, thẳng, thật’ ta có thể tạo ra một số từ láy với
những sắc thái ý nghĩa , sắc thái biểu cảm rất khác nhau
Khi dạy về nghĩa của từ láy cho học sinh, giáo viên cần nói rõ: Nghĩa của
từ láy rất phong phú, đa dạng mà dạng giảm nhẹ hoặc mạnh hơn (so với nghĩa từ
gốc) chỉ là hai dạng cơ bản trong sự phong phú, đa dạng ấy. Nói cách khác ngoài
hai dạng giảm nhẹ và mạnh hơn (so với nghĩa của tiếng gốc), nghĩa của từ láy
còn có những dạng khác được hình thành từ những hướng khác, từ nghĩa của
tiếng. Vì vậy , khi dạy về nghĩa của từ láy cho học sinh, nếu giáo viên cứ quy
nghĩa của tất cả các từ láy vào một trong hai dạng ấy thì khó tránh được sự máy
móc cứng nhắc và vô tình đã hình thành cho học sinh một nhận thức không đầy
đủ rằng: Nghĩa của từ láy chỉ có hai dạng ấy mà thôi.
VD:
+ Ngay :
ngay ngắn
+ Thẳng : thẳng thắn
+Thật :
thật thà

VD: Gạch dưới từ láy trong các từ ngữ sau đây: gia giảm, gia đình, bôí rối, xinh
xẻo, đi đứng, bao bọc, quanh co, cáu kỉnh, cuống quýt, êm ái, ít ỏi, ao ước, vỡ
bờ, giã giò.
Dạng bài tập này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh như sau:
- Trước hết cần loại bỏ những trường hợp không phải là từ mà là cụm từ, gồm
hai từ đơn như:, giã giò.
- Dựa vào những đặc trưng của từ láy loại bỏ tiếp những từ mà hai tiếng không
có hình thức âm thanh giống nhau như: gia đình, vỡ bờ những từ mà hai tiếng có
quan hệ về âm thanh nhưng cả hai tiếng đều có nghĩa như: đi đứng, bao bọc, gia
giảm.
-Cuối cùng, cần chú ý tới những từ láy khó nhận biết, dễ nhầm lẫn như: quanh
co, cuống quýt, êm ái, ít ỏi.
-Bằng cách hướng dẫn trên, học sinh dễ dàng tìm ra các từ láy sau: bối rối, xinh
xẻo, quanh co, cáu kỉnh, cuống quýt, êm ái, ít ỏi, ao ước.
+ Dạng 2: Cho một đoạn văn, câu văn... trong đó có từ láy, yêu cầu học sinh
nhận biết từ láy trong câu văn, đoạn văn ấy.
VD: Xếp các từ láy có trong đoạn văn sau vào nhóm thích hợp:
CÂY NHÚT NHÁT
Gió rào rào nổi lên. Có một tiếng động gì lạ lắm. Những chiếc lá khô lạt xạt
lướt trên cỏ. Cây xấu hổ co rúm mình lại. Nó bỗng thấy xung quanh lao xao. He
hé mắt nhìn: không có gì lạ cả. Lúc bấy giờ nó mới mở bừng những con mắt lá
và quả nhiên không có gì lạ thật.
(Theo Trần Hoài Dương)
a, Từ láy có 2 tiếng giống nhau ở âm đầu.
b, Từ láy có 2 tiếng giống nhau ở vần.
c, Từ láy có 2 tiếng giống nhau ở cả âm đầu và vần.
(Tiếng Việt 4- tập 1)
Đối với dạng bài tập này giáo viên nên cho học sinh kẻ thành bảng để dễ dàng
tìm và liệt kê, tránh nhầm lẫn.
Từ láy có 2 tiếng Từ láy có 2 tiếng giống Từ láy có 2 tiếng giống

tiếng đều có nghĩa. Chính vì vậy mà đây là những từ ghép.
Đối với các từ như: ghi nhớ, đền thờ, tưởng nhớ, vững chắc dễ dàng nhận thấy
đây là những từ ghép. Các từ còn lại là từ láy
* Bài tập về sử dụng từ láy:
Có 2 dạng:
+ Dạng 1: Điền từ láy thích hợp vào đoạn văn.
Dạng bài tập này là đoạn văn, trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh đọc
kỹ đoạn văn để sơ bộ nắm nội dung đoạn văn, tìm câu chủ đề trong đoạn văn
(câu chủ đề của đoạn văn là câu mang nội dung thông tin chính, lời lẽ ngắn gọn,
thường đủ chủ ngữ, vị ngữ và phần lớn trường hợp đều đứng ở vị trí đầu đoạn
văn). Đối với các đoạn văn mà chủ đề của đoạn được đặt thành tên riêng, học
sinh cần đặc biệt quan tâm tới tên chủ đề, vì trong tên chủ đề bao hàm nội dung
khái quát của đoạn văn.
Sau đó giáo viên cho học sinh lần lượt đọc từng câu trong đoạn. Ở từng
chỗ trống trong câu, dựa vào ngữ cảnh, thể loại, phong cách ngôn ngữ của đoạn
văn để hiểu nội dung từng câu văn. Học sinh tiếp tục đọc các từ láy cho sẵn để
hiểu nghĩa từng từ, cho các từ láy thích hợp để điền vào chỗ trống. Điền xong,
cần đọc lại đoạn văn đã điền từ, dựa vào ngữ cảm, xem đã hợp lý, thoả đáng hay
chưa.
VD: Chọn từ láy thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau:
PHONG CẢNH ĐỀN HÙNG
Trước đền, những khóm hải đường đâm bông........, những cánh bướm nhiều
màu sắc bay....... như đang múa quạt xoè hoa. Trong đền, dòng chữ vàng Nam
9


quốc sơn hà uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa. Bên phải là đỉnh Ba
Vì.......... , nơi Mị Nương- con gái Vua Hùng thứ 18- theo Sơn Tinh về trấn giữ
núi cao. Dãy Tam Đảo như bức tường xanh.......... chắn ngang bên trái đỡ lấy
mây trời ............. Phía.......là núi Sóc Sơn,nơi in dấu chân ngựa sắt Phù Đổng,

Đối với những câu đã cho sẵn thì học sinh dễ dàng tìm được các từ láy thích
hợp để điền vào.
+ Dạng 2: Học sinh tìm từ láy và đặt câu với từ tìm được:
Dạng bài tập này,học sinh cần đọc kỹ yêu cầu đề bài để nắm được phải
tìm từ và đặt câu theo chủ đề nào? Sau đó tìm từ láy thích hợp theo chủ đề, phải
hiểu nghĩa từ láy của mình tìm. Rồi tìm mô hình câu thích hợp tương ứng với
từng từ đã tìm, phù hợp với nội dung chủ đề.
10


VD: Tìm 4 từ láy âm, láy vần, láy cả âm vần dùng để tả cảnh thiên nhiên.
Đặt câu có nội dung miêu tả cảnh vật thiên nhiên với mỗi từ láy đó.
Bài tập này, học sinh tìm từ láy âm, láy vần, láy cả âm vần chủ đề tả cảnh
thiên nhiên.
Các em tìm từ láy âm , láy vần, láy cả âm vần tả cảnh thiên nhiên như:
xum xuê, lộp độp,rung rinh, xinh xinh, mơn mởn, rực rỡ.......rồi tìm mô hình câu
thích hợp tương ứng với từng từ vừa tìm. Cần dựa vào nghĩa của từ vừa tìm để
đặt câu có nội dung phù hợp với nội dung của chủ đề. Cuối cùng, học sinh điền
từ láy vào mô hình câu ấy rồi xem lại câu có đủ bộ phận chính hay chưa? Nghĩa
của câu phù hợp với chủ đề hay không? Ý các câu không nhất thiết phải gắn với
nhau)
Với bài tập trên, các em cần tìm từ láy đôi tả cảnh thiên nhiên và từ đó các
em phải hiểu nghĩa, ví dụ: lộp độp (mô phỏng tiếng của vật nhỏ, mưa rơi từ trên
xuống, nghe thưa, không đều, như giọt mưa rơi). Sau đó, học sinh tìm mô hình
câu thích hợp với nghĩa của từ láy trên, ví dụ: Những giọt nước mưa rơi...trên
mái nhà.
Cuối cùng, học sinh điền từ láy vào mô hình câu đã tìm và dùng bút chì
phân tích bộ phận chính của câu. Nếu có đủ 2 bộ phận chính thì các em sẽ được
câu hoàn chỉnh, phù hợp với chủ đề.
Những giọt nước mưa rơi lộp độp trên mái nhà.

c. Nước to lên tình hình đê điều rất…..
Qua kiểm tra kết quả đạt được như sau:
Hoàn thành tốt
Số lượng

Khái niệm về từ láy
Phân biệt TG, TL
Nghĩa của từ láy
Nhận biếtvà sử dụng TL

22 em
20 em
20 em
18 em

Tỉ lệ

53,6 %
48,7 %
48,7%
43,9 %

Hoàn thành
Số lượng

19 em
21 em
21 em
23 em


- Bước 2: Tìm biện pháp nâng cao, tức là biết áp dụng các phương pháp
dạy khoa học phù hợp với các sai lầm của học sinh khi học phần từ láy.
Đối với học sinh chưa nhanh, giáo viên cần củng cố sâu hơn về khái niệm
của từ láy, nghĩa từ láy. Tăng cường luyện tập với các dạng bài tập khác nhau tạo
thành kỹ năng học từ láy Tiếng Việt.
Ban đầu đối với giáo viên và học sinh rất khó khăn do còn mới lạ, nhưng từ
cái mới lạ có cơ sở khoa học sẽ tạo cho học sinh có thói quen tốt và trở thành kỹ
năng học Tiếng Việt.
- Bước 3: Tiếp tục rút kinh nghiệm cho năm học tới.
2/ Kiến nghị
Vấn đề “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả việc dạy học từ láy cho học sinh
lớp 4” ở trường chúng tôi đã và đang được nhà trường cũng như các giáo viên
đặc biệt quan tâm. Đối với lớp 4 là lớp giai đoạn cuối bậc Tiểu học, đây là nền
tảng, là cơ sở cho các em học tiếp lên lớp 5 ngày càng tốt hơn. Khi các em được
trang bị một hành trang kiến thức, sự am hiểu về từ láy trong Tiếng Việt, giúp
các em tự tin hơn khi giao tiếp cũng như giúp các em học tập tốt hơn trong môn
tiếng việt lớp 5. Vì vậy tôi có một số đề xuất sau:
* Đối với giáo viên:
-Vì một thế hệ học sinh, nên tôi mong rằng vấn đề này được các thầy cô áp
dụng vào với đối tượng học sinh lớp mình một cách linh hoạt và có hiệu quả
cao hơn.
- Tập trung nghiên cứu bài dạy, tìm tòi các tài liệu bổ sung cho bài dạy hoàn
thiện hơn.
- Mỗi người thầy, cô phải là người gìn giữ sự trong sáng của Tiếng Việt
thông qua các bài giảng, thông qua sự giao tiếp hằng ngày.
* Đối với nhà trường: Thường xuyên có những chuyên đề, những bài giảng rút
kinh nghiệm từ các bài học thực tế đối với trường mình.
Tôi hi vọng rằng, cùng với việc thực hiện những đổi mới trong dạy học, những
bước cải tiến nhỏ trong công tác giảng dạy của mình sẽ góp phần làm cho chất
lượng giáo dục ngày một nâng cao. Với phạm vi thực hiện còn hạn hẹp, tôi nghĩ

- Đề tài: Một vài kinh nghiệm trong việc giáo dục Sức khoẻ giới tính – Vệ sinh
tuổi dậy thì cho học sinh lớp 5A2 trường Tiểu học Ba Đình, TP Thanh Hoá”
Đề tài được HĐKH ngành xếp loại B cấp thành phố năm học 2015 – 2016

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status