1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu
học đã được các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lí chỉ đạo cũng như giáo viên trực
tiếp giảng dạy đặc biệt quan tâm. Đổi mới phương pháp dạy học có thể hiểu là
tìm con đường ngắn nhất để đạt chất lượng và hiệu quả cao. Con đường này
không có sẵn, không bằng phẳng mà đầy chông gai, khúc khuỷu, gập ghềnh với
sự đan xen giữa cái chung và cái riêng, cái cũ và cái mới. Vì vậy, đổi mới
phương pháp dạy học (PPDH) bao gồm cả hai mặt: Phải đưa vào các PPDH mới
đồng thời đồng thời tích cực phát huy những ưu điểm của PPDH truyền thống.
Lý luận dạy học đã khẳng định không có phương pháp vạn năng, đặc biệt trong
lĩnh vực giáo dục, yếu tố kinh nghiệm và sự kế thừa thể hiện khá đậm nét
(thuyết trình, vấn đáp là những phương pháp rất xưa cũ nhưng hiện tại vẫn được
sử dụng trong các tiết dạy với mức độ đậm nhạt khác nhau). Đổi mới PPDH là
sự kết hợp nhuần nhuyễn sáng tạo giữa kinh nghiệm của giáo viên với những
yếu tố mới của PPDH hiện đại. Với cách nhìn từ phương pháp mới, giáo viên có
thể thực hiện việc cải tiến PPDH nói chung và môn Tiếng Việt lớp 3 nói riêng
nhằm gây hứng thú học tập, tạo niềm tin, niềm vui bằng sự hình thành và phát
triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết để học sinh
giao tiếp. Thông qua việc dạy Tiếng Việt góp phần rèn luyện thao tác tư duy.
Tiếng Việt là tiếng ghi âm, nghĩa là viết như thế nào thì đọc như thế ấy, có
đọc được thì mới hiểu được nội dung. Vì thế phân môn Tập đọc có vị trí đặc biệt
trong chương trình Tiểu học. Nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho
học sinh kĩ năng đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh Tiểu học
đồng thời làm cơ sở, nền móng cho mọi sự phát triển. Đọc trở thành nhiệm vụ
cấp thiết của mỗi người đi học. Biết đọc con người đã nhân khả năng tiếp nhận
lên nhiều lần, từ đây họ biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối
quan hệ tự nhiên, xã hội. Tiếng việt – Tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kỳ quan trọng
đối với đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người. Đối với đời sống cộng
đồng đó là công cụ để giao tiếp, tư duy. Đối với con người, đặc biệt là trẻ em nó
pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tập đọc lớp 3”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nhằm giúp các em học sinh lớp 3 hứng thú học, đọc, cảm nhận văn bản tốt
hơn . Để những tiết học Tập đọc lớp 3 đạt kết quả cao nhất.
1.3. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng
dạy phân môn Tập đọc lớp 3 tại trường Tiểu học Điện Biên 1.
1.4. Phương pháp nghiên cứu :
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau :
- Nghiên cứu tài liệu
- Quan sát thực tế
- Đúc rút kinh nghiệm
- Điều tra, thống kê số liệu.
- Thực nghiệm sư phạm
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận:
Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ 4 kỹ năng
cũng là 4 yêu cầu về chất lượng của phân môn Tập đọc: Đọc đúng, đọc nhanh
(đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều
mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này được hình
thành qua 2 hình thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện
đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Vì vậy khi dạy tập đọc không thể xem nhẹ yếu tố
nào.
Phân môn Tập đọc có một nhiệm vụ rất quan trọng đối với học sinh Tiểu
học. Do đó, vấn đề dạy học phân môn Tập đọc hiện nay rất được chú trọng. Có
nhiều chuyên đề, phương pháp đặt ra nhằm đưa chất lượng đọc của các em nâng
lên. Nhưng nhìn chung chủ yếu chỉ tập trung đến các lớp đầu cấp để làm sao các
em đọc đúng, đọc trôi chảy là được. Còn ở các lớp cuối cấp, giáo viên chỉ tập
3
- HS ngoan ó cú s chun b bi theo yờu cu ca giỏo viờn.
- HS lp 3 ó cú vn t ng v Ting Vit nht nh.
- Mt s hc sinh ngt ngh cha hp lớ khi c bi dn n hiu cha
ỳng, hiu sai ni dung bi c.
- Hc sinh cha ch ng th hin cm xỳc khi c nu cha cú s hng
dn ca giỏo viờn.
Qua thc t ging dy v theo dừi i tng hc sinh lp mỡnh dy
(3A), i vi phõn mụn tp c, hc sinh cũn nhng tn ti nh:
- Mt s em c sai du thanh: Cũn nhm ln gia thanh ngó v thanh
hi. Vớ d: suy ngh/ suy ngh; ngh k/ ngh k ( Quyn, Huy, Quang Anh)
- Mt s em cũn phỏt õm sai khi c cỏc nguyờn õm ụi: ngi, ca,
tui, bi... ( Tin, H)
- Nhiu em trong lp cha nm vng cỏch ngt hi, ngh hi, ng iu,
cha bit nhn ging, lờn ging h ging nhng t cn thit. (Cng, Trng,
Hng, Quõn, Hng Anh,)
4
- Một số em đọc còn nhỏ, tốc độ chậm và một số em lại đọc quá nhanh.
- Đa số các em đọc chưa hay, chưa thể hiện được cảm xúc của nhân vật,
cảm xúc của người đọc đối với các bài tập đọc.
2.3. Các biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân một Tập đọc
lớp 3
2.3.1. Giáo viên và học sinh cần chuẩn bị chu đáo cho tiết dạy.
Để tiết dạy và học đạt hiệu quả cao thì việc cả thầy và trò chuẩn bị chu
đáo cho tiết dạy là việc vô cùng cần thiết. Người thầy chuẩn bị cho bài dạy tốt sẽ
luôn tự tin, có định hướng tốt cho phương pháp, hình thức dạy học. Trò chuẩn bị
tốt sẽ tiếp thu kiến thức một cách chủ động, linh hoạt và kiến thức sẽ được lưu
lại lâu hơn, sẽ tăng khả năng áp dụng vào thực tiễn.
â
Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của tiết học. Nếu
học sinh hứng thú và có sự chuẩn bị bài trước cho bài học ở nhà thì việc dạy và
học của cô và trò sẽ rất thuận lợi. Sự chuẩn bị của học sinh giúp cho tiến độ của
5
bài học có thể sẽ theo như dự kiến. Nếu học sinh không có sự chuẩn bị thì sẽ làm
giảm đi phần nào chất lượng của giờ học. Theo yêu cầu của giáo dục tiểu học
hiện nay, học sinh không phải làm bài tập về nhà. Việc giao nhiệm vụ chuẩn bị
trước cho nội dung bài ngày mai sẽ học không được hiểu là bắt học sinh làm bài
tập về nhà. Việc học sinh chuẩn bị trước bài tiết học ngày mai tạo cho học sinh
thói quen chuẩn bị bài trước khi đến trường, giúp học sinh tự tin và có trách
nhiệm đối với việc học tập đồng thời cũng tăng khả năng tự học cho các em.
Đối với việc chuẩn bị trước cho tiết tập đọc, giáo viên yêu cầu học sinh
thực hiện:
- Đọc trước bài ít nhất 3 lần
- Đọc nhiều lần từ mà em cảm thấy khó đọc
- Đọc chú giải để hiểu những từ ngữ khó. Nếu vẫn còn thấy một số từ
khác trong bài khó hiểu thì có thể mạnh dạn tham khảo ý kiến của người trong
gia đình.
- Đọc đúng giọng nhân vật, thể hiện được tình cảm của nhân vật trong bài
và đồng thời đọc thể hiện được tình cảm của bản thân đối với cá nhân vật trong
bài.
- Trả lời câu hỏi trong bài, tự rút ra nội dung của bài tập đọc
- Đọc cho những người trong gia đình nghe toàn bộ bài đọc. Phần này
giúp cho học sinh tăng việc giao tiếp và làm cho tình cảm của những người
trong gia đình gắn bó hơn.
Việc giáo viên, học sinh cùng chuẩn bị tốt cho tiết học sẽ giúp cả thầy và
trò hứng thú hơn trong dạy học, chất lượng giờ tập đọc sẽ được nâng lên. Các kĩ
năng tự tin, tự học, giao tiếp, ...cũng từ đó mà phát triển.
những từ được phiên âm thành tiếng Việt: như Lê –ô – nác – đô đa Vin – xi, Vê
– rô – ki – ô …
+ Dựa vào số đoạn, giáo viên chỉ định trước số học sinh tham gia đọc nối
tiếp ở mỗi vòng đọc. Học sinh có thể đứng hoặc ngồi tại chỗ với tâm thế sẵn
sàng đọc nối tiếp.
* Hướng dẫn học sinh đọc đúng câu dài, câu khó, ngắt nghỉ hợp lí: Ngắt
nghỉ đúng giúp học sinh đọc tốt, nắm được nội dung thông báo của nội dung bài
đọc. Để học sinh ngắt nghỉ đúng, học sinh cần thực hiện các yêu cầu sau:
- Xác định chỗ ngắt nghỉ.
- Thảo luận chọn phương án phù hợp.
- Thực hành đọc ngắt nghỉ theo phương án đã chọn.
GV hướng dẫn học sinh như sau:
+ Xác định chỗ ngắt nghỉ: Xác định chỗ ngắt nghỉ bằng cách vạch 1 vạch(/)
ở chỗ ngắt hơi và vách 2 vạch(//) ở chỗ nghỉ hơi; Xác định số lượng câu; chỗ có
dấu câu ( dấu phẩy, dấu chấm, dấu hai chấm, chấm than, chấm hỏi…)
+ Thảo luận chọn phương án phù hợp: Với câu dài, sau khi học sinh thảo
luận sẽ nêu rõ cách ngắt hơi chỗ nào nghỉ hơi chỗ nào. Việc ngắt hơi phải phù
hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm. Ví dụ: “ Nen
– li bắt đầu leo một cách rất chật vật.//Mặt cậu đỏ như lửa,/ mồ hôi ướt đãm
trán.// Thầy giáo bảo cậu có thể xuống.// Nhưng cậu vẫn cố sức leo.// Mọi người
vừa thấp thỏm sợ cậu tuột tay ngã xuống đất,/ vừa luôn miệng khuyến khích:/ “
Cố lên!// Cố lên!”//. Với câu khó cần đọc đúng bao gồm cả đúng tiết tấu, ngắt
nghỉ hơi, ngữ điệu câu. Cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các
tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc không đọc tách một từ ra làm hai, ngắt
hơi giữa các cụm từ cho đúng. Cần đọc đúng các ngữ điệu câu: Lên giọng ở cuối
câu hỏi, xuống giọng ở cuối câu kể. Thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm
diễn đạt trong câu cảm. Với câu cầu khiến cần nhấn giọng cho phù hợp để thấy
rõ các nội dung yêu cầu khác nhau. Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc bộ phận
giải thích của câu…
+ Thực hành đọc ngắt nghỉ theo phươgn án đã chọn: Chia nhóm học sinh,
hình thức giao tiếp giúp cho các em có sự tự tin cần thiết. Khi đọc thành tiếng
các em phải tính đến người nghe cả về cường độ và âm lượng. Đọc không phải
chỉ cho mình cô giáo mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cần đọc đủ lớn cho
tất cả những người này nghe rõ. Nhưng hoàn toàn không có nghĩa là phải đọc
quá to hoặc gào lên. Đối với học sinh đọc quá nhỏ “lí nhí”, giáo viên cần tập cho
học sinh đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên
nên cho học sinh đứng lên bảng để đối diện với những người nghe, đọc âm
lượng vừa phải, tốc độ phù hợp, không kéo dài ê a, thể hiện được sác thái, nội
dung bài đọc.
* Sau khi học sinh đã đọc đúng từ ngữ, câu dài, đoạn thì hướng dẫn học
sinh đọc toàn bài. Để học sinh đọc toàn bài đúng theo yêu cầu, GV cần hướng
dẫn học sinh đọc nối tiếp qua 3 vòng:
+ Vòng 1: Qua những học sinh đọc nối tiếp, giáo viên nghe và phát hiện
những hạn chế về cách phát âm, ngắt nghỉ, ngữ điệu câu, từ đó có biện pháp
hướng dẫn đối với cá nhân hoặc nhắc nhở chung đối với cả lớp để học sinh đạt
yêu cầu đọc đúng và đọc rành mạch.
+ Vòng 2: Học sinh đọc nối tiếp, kết hợp nắm nghĩa của từ được chú giải
trong SGK, nó có tác dụng góp phần nâng cao kĩ năng đọc hiểu (việc tìm hiểu
nghĩa từ có thể xen kẽ trong quá trình đọc nối tiếp hoặc sau khi đọc hết bài). Nếu
học sinh đọc sai, giáo viên vẫn tiếp tục hướng dẫn, sửa chữa.
+ Vòng 3: Học sinh đọc nối tiếp để giáo viên đánh giá sự tiến bộ, tiếp tục
hướng dẫn hoặc nhắc nhở.
2.3.3. Hướng dẫn học sinh luyện đọc hay:
8
Đọc đúng là yêu cầu cần thiết thì việc đọc hay là yêu cầu quan trọng trong
quá trình luyện đọc của học sinh. Đọc hay là việc đọc thể hiện kỹ năng làm chủ
ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường độ giọng… để thể hiện đúng tư tưởng, tình
cảm mà tác giả đã gửi gắm trong bài đọc, đồng thời thể hiện được sự thông hiểu,
rạo rực trong những ngày giáp Tết. Trời cuối đông lạnh buốt. Những dòng suối
hoa trôi dưới bầu trời xám đục và làn mưa bụi trắng xóa » ( Giọng Uyên đọc
lời trong thư cần khác với lời nói của Uyên, của người dẫn chuyện)
- Luyện đọc cá nhân thể hiện được cảm xúc của nhân vật: Ví dụ: Nen – li
leo lên một cách chật vật, mặt đỏ như lửa, mồ hôi ướt đẫm trán. Thầy giáo bảo
cậu có thể xuống, cậu vẫn cố sức leo. Cậu rướn người lên, thế là nắm chặt được
cái xà.
- Giáo viên nêu câu hỏi để định hướng cho học sinh đọc thầm (đoạn, bài)
và trả lời đúng nội dung. Có thể kết hợp cho học sinh đọc thành tiếng. Ví dụ: với
đoạn văn sau các em phải biết thể hiện đúng ngữ điệu của câu cảm, nhấn giọng ở
9
một số từ ngữ tả đôi giày và biết ngắt giọng ở câu văn dài giúp người nghe hiểu
được cảm xúc của tác giả khi được mang đôi giày: “Chao ôi! Đôi giày mới đẹp
làm sao! Cổ giày ôm sát chân. Thân giày làm bằng vải cứng, dáng thon thả, màu
vải như màu da trời những ngày thu. Phần thân giày gần sát cổ có hai hàng khuy
dập và luồn một sợi dây trắng nhỏ vắt ngang. Tôi tưởng tượng nếu mang nó
vào / chắc bước đi sẽ nhẹ và nhanh hơn, tôi sẽ chạy trên những con đường đất
mịn trong làng / trước cái nhìn thèm muốn của các bạn tôi”.
* Hướng dẫn học sinh đọc thể hiện được cảm xúc của người đọc:
Đọc thể hiện cảm xúc của người đọc yêu cầu người đọc phải thẩm thấu
nội dung văn bản, tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của nhân vật, khi đọc hòa mình
vào nhân vật giống như đang là mình vậy : nhân vật vui, buồn, cười, khóc… đều
được người đọc thể hiện một cách rõ nhất. Những đặc điểm riêng biệt của từng
nhân vật trong bài đọc được miêu tả chi tiết, cụ thể thông qua thái độ, biểu cảm
của người đọc, bộc lộ hết đặc điểm tính cách của nhân vật và thông điệp mà bài
đọc cũng như tác giả muốn gửi đến người đọc, người nghe. Yêu cầu học sinh
xác định được :
+ Nội dung thông báo của bài đọc là gì ? ( Ví dụ : Bài Chiếc áo len : Nội
+ Giáo viên đọc mẫu – Học sinh thảo luận, nhận xét về giọng đọc.
+ Học sinh luyện đọc theo cặp.
+ Tổ chức cho học sinh thi đọc diễn cảm trước lớp để các em học tập lẫn
nhau và được giáo viên động viên hay uốn nắn.
- Học sinh luyện đọc diễn cảm cả bài.
+ Giáo viên tiến hành các bước như trên.
+ Học sinh đọc cá nhân – Giáo viên nhận xét đánh giá.
* Đối với những văn bản có từ hai nhân vật trở lên, tổ chức cho học sinh
thể hiện giọng đọc theo nhân vật của văn bản hoặc cho học sinh đọc phân vai.
Rèn cho các em biết thay đổi giọng đọc khi nhập vai các nhân vật trong bài đọc.
Cụ thể các em phải đọc phân biệt được lời của tác giả và lời của nhân vật; phân
biệt được lời của nhân vật khác. Giáo viên nên hướng dẫn như sau:
- Cho học sinh đọc bài và tìm trong bài có mấy nhân vật.
- Giáo viên giúp học sinh chỉ ra từng tính cách của từng nhân vật và xác
định giọng đọc phù hợp với từng nhân vật
- Giáo viên thực hiện đọc mẫu lời các nhân vật bằng giọng đọc của mình
(hoặc có thể gọi học sinh có năng lực đọc tốt thể hiện)
- Học sinh luyện tập nhiều lần theo hướng dẫn của giáo viên.
b. Ngoài giờ tập đọc:
- GV chú ý luyện đọc cho học sinh ở các môn học khác như: Môn Toán:
Học sinh nêu yêu cầu, tóm tắt bài toán, nêu các bước làm bài, phân tích đề bài
… đều giúp các em thể hiện tốt kĩ năng đọc thành tiếng và đọc hiểu văn bản,
Môn Tự nhiên và xã hội: Học sinh nêu và phân tích các hiện tượng tự nhiên và
xã hội, hoạt động thực tế, thực hành… cũng giúp học sinh nâng cao khả năng
đọc. Hoạt động ngoài giờ lên lớp: giáo viên hướng dẫn học sinh thuyết trình,
đóng tiểu phẩm, trao đổi nhóm… giúp các em tự tin hơn thể hiện giọng đọc của
mình một cách tốt nhất, đạt hiệu quả cao nhất.… Ngoài việc chú ý đọc đúng
chính âm, chính tả, còn hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ hơi hợp lí, lên giọng
xuống giọng ở các từ gợi tả, gợi cảm. Đọc đúng và hiểu các yêu cầu của môn
học giúp các em nắm nhanh dạng bài và làm bài tốt giúp các em phát triển tư
+ Cả lớp nhận xét, GV nhận xét, bình chọn bạn thắng cuộc là bạn gắn
đúng, nhanh, phát âm chính xác, đọc đúng giọng của người đọc báo cáo.
b. Thi đọc tiếp sức:
* Chuẩn bị: 1 đồng hồ, SGK, giáo viên dự kiến số nhóm tham gia chơi.
* Tiến hành:
- Giáo viên yêu cầu, hướng dẫn cách chơi.
- Giáo viên quy định các nhóm có số lượng học sinh bằng nhau.
- Từng nhóm lên bảng đứng thành hàng ngang. Mỗi em cầm một cuốn
SGK, đã mở sẵn trong đó có bài văn sẽ thi đọc.
12
+ Giáo viên hô lệnh: “bắt đầu”, em số 1 (đầu hàng bên phải hoặc bên trái)
đọc câu thứ nhất của bài, dứt tiếng cuối cùng câu thứ nhất, em số 2 (cạnh số 1)
mới được đọc tiếp câu thứ hai…Cứ như vậy cho đến em cuối cùng của nhóm.
Nếu chưa hết bài, câu tiếp theo lại đến lượt em số 1, em số 2 đọc…cho đến hết
bài văn thì dừng lại.
+ Giáo viên tính và ghi bảng thời gian đọc của mỗi nhóm.
- Học sinh sẽ bị trừ điểm nếu đọc sai lẫn hay thừa thiếu tiếng trong câu
hoặc đọc câu sau khi người trước chưa đọc xong, đọc vượt quá một câu theo quy
định.
- Giáo viên cho từng nhóm thi đọc, tính thời gian của mỗi nhóm cho điểm
nhóm “đọc tiếp sức” mỗi câu văn đọc đúng cho một điểm, không cho điểm các
trường hợp vi phạm.
13
* Tiến hành:
- Giáo viên nêu tên bài thơ sẽ đọc truyền điện, nêu cách chơi.
- Hai nhóm bắt thăm (hoặc oẳn tù tì) để giành quyền đọc trước.
+ Đại diện nhóm đọc trước là (A) đọc khổ thơ đầu tiên của bài thơ rồi chỉ
định thật nhanh “truyền điện” một bạn bất kì (nhóm B). Bạn được chỉ định đọc
tiếp khổ thơ thứ 2 của bài. Nếu đọc thuộc được chỉ định một bạn nhóm (A) đọc
tiếp khổ thơ thứ 3…Cứ như vậy cho đến hết bài.
Ví dụ: Bài “Bàn tay cô giáo” (lớp 3)
HS A1: Đọc khổ thơ 1
HS B1: Đọc khổ thơ 2
15
HS A2: Đọc khổ thơ 3
16
Tiếp tục như vậy cho hết bài. Trường hợp học sinh được “truyền điện”
chưa thuộc, các bạn nhóm đối diện sẽ hô từ 1 đến 5, nếu không đọc được phải
đứng yên tại chỗ bị “điện giật” Lúc đó HS A1 chỉ tiếp HS B2…
Nhóm nào có nhiều người phải đứng bị “điện giật” là nhóm thua cuộc.
Như vậy, ta thấy tổ chức trò chơi học tập luôn luôn làm cho học sinh hào hứng,
say mê tích cực trong học tập, làm cho học sinh ham mê học hơn.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến.
* Với học sinh:
Tuy thời gian không dài, thời gian từ giữa học kì 1 đến giữa học kì 2 năm
học 2016-2017, với cách tổ chức dạy học theo các biện pháp nêu trên, hiệu quả
đổi, giúp đỡ rất nhiều. Đặc biệt, tôi cũng đã đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng dạy học phân môn tập đọc lớp 3 để các đồng nghiệp góp ý cũng như
áp dụng trong khối. Qua trao đổi lại tôi thấy kết quả đạt được cũng khá cao, sự
lan tỏa của sáng kiến giúp tôi vững tin hơn với đề tài mà mình đã lựa chọn. Đặc
biệt trong cuộc thi : “Em luôn tự tin vào bản thân mình” học sinh của khối 3
thực hiện rất tốt các phần thi mà ban tổ chức đưa ra, trong đó chủ yếu là cá nhân
học sinh thể hiện vấn đề nói lưu loát, rành mạch, rõ ràng trước tập thể.
Như vậy với một thời gian ngắn nhưng tôi nhận thấy những biện pháp mà tôi
đưa ra đã thu được kết quả thật khả quan: Học sinh đọc diễn cảm chiếm đa số,
học sinh đọc đúng và trôi chảy nhiều, chỉ còn lại số ít học sinh đọc đúng nhưng
tốc độ đọc chưa nhanh, với hiện pháp như trên tôi hi vọng rằng đến cuối học kì 2
của năm học thì tất cả học sinh trong lớp đều đọc tốt. Thiết nghĩ nếu giáo viên
áp dụng các biện pháp này một cách thường xuyên ở lớp thì chắc chắn chất
lượng đọc của các em được nâng lên.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận:
Rèn đọc cho học sinh là một trong những kỹ năng hàng đầu của học Tiếng
việt trong nhà trường. Kỹ năng đọc của hoc sinh có ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng học tập.
Là một giáo viên tiểu học, bản thân tôi luôn tìm biện pháp, biện pháp nào hay,
tốt nhất, phù hợp nhất đối với học sinh tiểu học, qua nhiều năm giảng dạy tôi rút
ra một vài biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tập đọc
lớp 3.
- Giáo viên chuẩn bị bài chu đáo.
- Hướng dẫn học sinh luyện đọc đúng.
- Hướng dẫn học sinh luyện đọc hay.
- Tích cực tổ chức thực hành luyện đọc cho học sinh.
18
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường Tiểu học Điện Biên 1 – Tp Thanh Hóa
TT
1.
Tên đề tài SKKN
Một vài kinh nghiệm nhỏ về
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
Năm học
giá xếp loại
xếp loại đánh giá xếp
(Phòng, Sở,
(A, B,
loại
Tỉnh...)
hoặc C)
Phòng
A
2008-2009
luyện kĩ năng viết chữ đẹp
2.
cho học sinh lớp 1.
Một số kinh nghiệm nâng cao Phòng
B