Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HÓA

PHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
-------------------***---------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5
PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM VÀ TỪ NHIỀU NGHĨA

Người thực hiện : Lê Thị Thúy
Chức vụ

: Giáo viên

Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Thiệu Dương
SKKN thuộc lĩnh vực ( môn ) : Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2017

1


MỤC LỤC
Trang
A :MỞ ĐẦU:

1

1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm.
2. Mục đích nghiên cứu.


18

1. Kết luận:

18

2. Kiến nghị đề xuất:

18

D: KẾT LUẬN:

21

A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm.
2


Người ta thường nói: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”.
Quả đúng như vậy! Trong chương trình Tiểu học, môn Tiếng Việt giữ một vị trí
đặc biệt quan trọng chiếm thời lượng nhiều nhất. Bởi vì nó vừa là môn khoa học,
vừa là môn công cụ giúp học sinh có kĩ năng lĩnh hội những kiến thức của các
môn học khác. Một trong những phân môn rèn cho học sinh kĩ năng nói viết
thành câu là môn học Luyện từ và câu. Mạch kiến thức Luyện từ và câu được
mở rộng và nâng cao dần cho học sinh Tiểu học từ lớp 2 đến lớp 5. Trong nội
dung chương trình môn học Luyện từ và câu lớp 5 học sinh được học về các lớp
từ. Đó là các từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. Mảng
kiến thức này khá trừu tượng đối với học sinh. Tài liệu tham khảo dành cho giáo

nhận diện được từ đồng âm, từ nhều nghĩa và luyện sử dụng từ đặt câu cũng như
cảm nhận được giá trị nghệ thuật của từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng một số phương pháp chủ
yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.

B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:

4


Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy Tiếng Việt là dạy học thông
qua giao tiếp. Các hoạt động giao tiếp, đặc biệt giao tiếp bằng ngôn ngữ là công
cụ để học sinh tiếp cận, rèn luyện và phát triển khả năng sử dụng từ Tiếng Việt.
Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ, vai trò của từ trong hệ thống ngôn ngữ quy
định tầm quan trọng của việc dạy từ ngữ ở Tiểu học. Nếu như không có vốn từ
đầy đủ thì không thể sử dụng ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp được. Vì vậy
việc cung cấp kiến thức lý thuyết về từ cũng như kỹ năng nắm nghĩa, sử dụng từ
cho học sinh Tiểu học là rất quan trọng. Mặt khác, ngôn ngữ Tiếng Việt của
chúng ta thực sự phong phú và nhiều mảng kiến thức khó. Một trong những nội
dung khó đó là phần nghĩa của từ.
Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, nội dung nghĩa của từ được tập
trung biên soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu. Để giúp học sinh phân
biệt được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, tôi tập trung hướng dẫn học sinh phân
biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển trong từ nhiều nghĩa. Nghĩa gốc và nghĩa chuyển
trong từ nhiều nghĩa là một hiện tượng độc đáo của tiếng Việt, góp phần làm

2. Thực trạng dạy và học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trước khi áp dụng
sáng kiến.
Trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, trong quá trình giảng dạy mảng
kiến thức từ đồng âm và từ nhiều nghĩa ở lớp 5 tôi nhận thấy:
- Về phía giáo viên: Trong quá trình dạy học các bài này, mỗi giáo viên
đều làm đúng vai trò người hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tích cực lĩnh hội
kiến thức. Tuy nhiên, chưa thực sự chú trọng đến xác định nghĩa gốc và nghĩa
chuyển trong từ nhiều nghĩa khi dạy học sinh phân biệt từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa trong các bài học. Do đó, sau các bài học học sinh chỉ nắm được kiến thức
về nội dung học một cách tách bạch. Đôi khi giảng dạy nội dung này, giáo viên
còn khó khăn khi lấy thêm một số ví dụ cụ thể từ bên ngoài SGK để minh họa
phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
- Về phía học sinh: Học sinh không nắm chắc khái niệm nghĩa gốc, nghĩa
chuyển của từ, không hiểu thế nào là từ một nghĩa, thế nào là từ nhiều nghĩa.
Trong thực tế học sinh làm các bài tập về phân biệt và tìm các từ có quan hệ
đồng âm, các nghĩa của từ nhiều nghĩa trong một số văn cảnh thì đa số học sinh
lúng túng và làm bài chưa đạt yêu cầu.
* Kết quả thực trạng của việc dạy và học phân biệt từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa ở trường Tiểu học Thiệu Dương:
Năm học 2016 – 2017 tôi được phân công phụ trách lớp 5Đ. Ngay ở
những tuần học đầu tiên tôi đã tiến hành kiểm tra về kĩ năng phân biệt nghĩa gốc
và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa , thống kê và phân loại lỗi của các em cụ thể
như sau:
Bài 1: Trong các từ gạch chân ở các dòng sau, từ nào được dùng theo nghĩa gốc,
từ nào được dùng theo nghĩa chuyển?
a) Không nên ăn1 quả xanh.
b) Tàu vào bến ăn2 than.
c) Càng đi xa tôi càng nhớ nhà1.
d) Nhà2 tôi ở đầu xóm.
Kết quả: Nhiều học sinh xác định sai. Tập trung vào 2 lỗi cơ bản sau:

có thể gọi đó là nghĩa chuyển dần từ nghĩa gốc sang nghĩa chuyển)
Bài 3: Đặt câu theo những nghĩa khác nhau của từ chín và cho biết từ nào được
dùng theo nghĩa gốc, từ nào được dùng theo nghĩa chuyển?
Kết quả: Nhiều học sinh đã làm như sau:
a) Bài thi cuối kì, em được chín1 môn toán.
( nghĩa gốc)
b) Bạn nên suy nghĩ cho chín2 rồi hãy nói.
(nghĩa chuyển)
Thực ra, hai từ “chín” ở 2 câu trên không phải là từ nhiều nghĩa mà chúng
là những từ đồng âm, vì nghĩa của hai từ này không hề có mối liên hệ với nhau.
(chín1: số tự nhiên đứng liền sau số 8)
(chín2: suy nghĩ kĩ để đạt hiệu quả cao)
Bài 4: Các từ in đậm trong câu thơ sau là hiện tượng từ đồng âm hay từ nhiều
nghĩa?
Rằm xuân1 lồng lộng trăng soi
Sông xuân2 nước lẫn màu trời thêm xuân3.
Kết quả: Nhiều học sinh hiểu nhầm xuân 1 cũng giống xuân2 và xuân3
(tươi đẹp, sáng trong, đầy sức sống) nên xác định sai cho rằng là hiện tượng
đồng âm. Thực chất, từ xuân1 chỉ mùa đầu tiên, tươi đẹp, đầy sức sống của một
năm.(nghĩa gốc), còn xuân2 và xuân3 mới chỉ đặc điểm của sông, của trời:tươi
đẹp, sáng trong, đầy sức sống (nghĩa chuyển). Như vậy đây phải là hiện tượng từ
7


nhiều nghĩa vì nghĩa của các từ xuân có điểm giống nhau: tươi đẹp, đầy sức
sống.
Bài 5: a) Đặt một câu có hai từ non đồng âm với nhau.
b) Đặt một câu có hai từ cổ là hiện tượng từ nhiều nghĩa.
Kết quả: Với bài tập dạng này học sinh không làm đúng yêu cầu. Hầu hết
các em đặt thành các câu khác nhau, mỗi câu chứa một từ.

cụ thể.
- Đặt câu phân biệt nghĩa của các từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.
- Cảm nhận tác dụng của từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong cảm thụ văn học.
3.1. Cung cấp khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
Trước hết, khi dạy bài "Từ đồng âm", "Từ nhiều nghĩa" tôi đã chú trọng
đến việc dạy cho học sinh nắm vững khái niệm về hai loại từ này. Cụ thể:
- Từ đồng âm: Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng khác nhau về
nghĩa (SGK Tiếng Việt 5 - tập 1 - trang 51)
Từ đồng âm được dạy trong 1 tiết ở tuần 5, các em được học khái niệm về
từ đồng âm. Các bài tập về từ đồng âm chủ yếu giúp học sinh phân biệt nghĩa
các từ đồng âm, đặt câu phân biệt các từ đồng âm. Bài “Dùng từ đồng âm để
chơi chữ” đã được giảm tải, vì thế thời lượng dạy nội dung này còn ít. Muốn
hiểu được nghĩa của các từ đồng âm, cần đặt các từ đó vào lời nói hoặc câu văn
cụ thể.

8


- Từ nhiều nghĩa: Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số
nghĩa chuyển. Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với
nhau. (SGK Tiếng Việt 5 - Tập 1 - Trang 67)
Từ nhiều nghĩa được dạy trong 3 tiết ở tuần 7 và tuần 8. Học sinh được
học khái niệm về từ nhiều nghĩa. Các bài tập chủ yếu là phân biệt các từ mang
nghĩa gốc và nghĩa chuyển, đặt câu phân biệt nghĩa. Nêu các nét nghĩa khác
nhau của một từ.
Trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5, các bài học về khái niệm từ đồng
âm, và từ nhiều nghĩa đều có cấu trúc bài học gồm ba phần: Nhận xét, Ghi nhớ,
Luyện tập.
- Nhận xét: là phần cung cấp ngữ liệu và nêu câu hỏi (bài tập) gợi ý cho học sinh
phân tích nhằm rút ra kiến thức lí thuyết. Theo quan điểm tích hợp, ngữ liệu

và đậu2 là từ đồng âm.
Ví dụ 2: Chân1 anh đi khắp chân2 trời góc bể.
chân1: là bộ phận cuối cùng của cơ thể, giúp nâng đỡ cơ thể, giúp cơ thể
di chuyển.
chân2: là bộ phận cuối cùng của sự vật.
Hai từ chân phát âm giống nhau, đồng thời chúng có nét nghĩa giống
nhau (Đều là bộ phận cuối của sự vật). Như vậy, chân1 và chân2 là từ nhiều
nghĩa.
Ví dụ 3: Chúng tôi ngồi vào bàn1 để bàn2 công việc.
bàn1: chỉ một đồ vật có mặt phẳng, chân đứng để đồ đạc hoặc làm việc.
(Danh từ).
bàn2 : chỉ sự trao đổi ý kiến.(Động từ)
Hai từ bàn xét về hình thức ngữ âm thì hoàn toàn giống nhau còn nghĩa
thì hoàn toàn khác nhau. Như vậy, bàn1 và bàn2 là từ đồng âm.
Để giúp học sinh không nhầm lẫn giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa tôi
đã dạy cho học sinh dựa vào một số dấu hiệu phân biệt qua bảng tóm tắt sau :
Dấu
hiệu
phân
biệt

Từ đồng âm

Từ nhiều nghĩa

- Đọc giống nhau, viết giống
- Đọc giống nhau, viết giống nhau
Giống
nhau.
- Dựa vào văn cảnh để xác định nghĩa

- Các từ đồng âm có nghĩa khác xa
nhau.
- Một số từ đồng âm xuất hiện từ quy
luật chuyển từ loại.

- Giữa nghĩa gốc và nghĩa
chuyển của từ luôn có mối quan
hệ về nghĩa.
- Tất cả nghĩa chuyển đều xuất
phát từ quy luật chuyển nghĩa
của từ.
Ví dụ:
Ngôi nhà1 vừa mới xây xong.
Cà nhà2 vui vẻ trò chuyện .
nhà1: chỉ nơi ở.
nhà2: Chỉ những người sống
trong nơi ở đó.

Ví dụ:
Bố đẽo cày1.
Bố đang cày2 ngoài đồng.
Cày1: Danh từ chỉ 1 loại nông cụ.
Cày2: Động từ dùng chỉ cày để lật đất
lên (chuyển loại từ danh từ sang động
từ)
3.3 Nhận biết từ một nghĩa và nhiều nghĩa.
Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiều
nghĩa với từ một nghĩa. Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạt
một khái niệm thì từ ấy chỉ có một nghĩa. Từ nào là tên gọi của nhiều sự vật,
hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy là từ nhiều nghĩa.

cảnh.
- Ngoài ra, cũng có một số từ mang tính chất trung gian giữa nghĩa gốc và
nghĩa chuyển hoặc đang chuyển dần từ nghĩa gốc sang nghĩa chuyển.
Ví dụ 1 : Tôi đi sang nhà hàng xóm.
Trong ví dụ này từ đi có nghĩa là chỉ (người) tự di chuyển từ nơi này đến nơi
khác, không kể bằng cái gì. Nghĩa này của từ đi không hoàn toàn giống nghĩa
gốc (hoạt động của 2 bàn chân di chuyển từ nơi này đến nơi khác). Nhưng nó
vẫn có mối quan hệ với nghĩa gốc (di chuyển từ nơi này đến nơi khác ).
Theo tài liệu “Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học” (Tác
giả Lê Hữu Tỉnh - Trần Mạnh Hưởng), Khái niệm nghĩa gốc - nghĩa chuyển của
một từ nhiều nghĩa được hiểu như sau:
+ Nghĩa gốc: Là nghĩa cơ bản, là nền tảng cho sự phát triển nghĩa của từ.
Trong từ điển, nghĩa gốc được nói đến đầu tiên.
+ Nghĩa chuyển: Là loại nghĩa được hình thành từ nghĩa gốc, có mối quan
hệ mật thiết với nghĩa gốc. Trong từ điển, nghĩa chuyển được nói đến sau nghĩa
gốc.
Khi gặp hai hoặc nhiều nghĩa của từ trong văn cảnh, muốn biết từ đó dùng
theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển, tôi đã hướng dẫn học sinh thông qua cách
nhận biết trực quan như sau:
- Từ nào có ý nghĩa cụ thể hơn: Nghĩa của từ chỉ những sự vật, hiện tượng
hoặc tính chất, hành động cụ thể, mà các em có thể cảm nhận được bằng giác
quan thì từ đó được dùng theo nghĩa gốc.
- Từ nào có nghĩa trừu tượng hơn: nghĩa của từ chỉ những sự vật, hiện tượng
hoặc hành động, tính chất mà các em không thể cảm nhận bằng giác quan thì từ
đó được dùng theo nghĩa chuyển.
1 nghÜa gèc (nghÜa ®en)
12




- ăn2: chỉ hoạt động tiêu thụ năng lượng để máy móc hoạt động. Hành động “ăn”
trong câu b, là hành động trừu tượng (không dùng miệng). Nên từ ăn 2 được dùng
theo nghĩa chuyển.
- ăn3 : là hành động trừu tượng (không dùng miệng). Từ ăn 3 được dùng theo
nghĩa chuyển.
Như vậy, từ “ăn” nào chỉ hành động cụ thể (dùng miệng để ăn) thì từ đó
được dùng theo nghĩa gốc. Từ “ăn” chỉ hành động (không dùng miệng) là những
Từ dùng theo nghĩa chuyển.
Ví dụ 5: Từ tai.
a) Lắng tai1 nghe lấy những lời mẹ cha.
b) Chiếc ấm này, tai2 đã sứt.
13


- tai1: cơ quan hai bên đầu người, động vật. Từ “tai” dùng chỉ bộ phận cơ thể
người. Từ tai1 được dùng theo nghĩa gốc.
- tai2: bộ phận của vật có hình dáng giống cái tai. Từ “tai” chỉ bộ phận của vật.
Từ tai2 được dùng theo nghĩa chuyển.
Qua các minh chứng trên, tôi đã khắc chốt lại cho học sinh nắm vững mối
liên hệ giữa nghĩa của từ trong các văn cảnh cụ thể: Từ đồng âm là nhiều từ
nhưng nghĩa các từ trong văn cảnh đều là nghĩa gốc (còn gọi là nghĩa chính).
Còn từ nhiều nghĩa thì chỉ là một từ có một nghĩa gốc còn các nghĩa khác là
nghĩa chuyển từ nghĩa gốc.
3.5. Phân biệt hiện tượng đồng âm với hiện tượng nhiều nghĩa trong các văn
cảnh cụ thể.
Trên cơ sở những dấu hiệu phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, cách
nhận biết và mối liên hệ giữa nghĩa của từ nêu trên tôi hướng dẫn học sinh phát
hiện đâu là hiện tượng đồng âm, đâu là hiện tượng nhiều nghĩa trong các văn
cảnh cụ thể.
Ví dụ 1: Trong các từ gạch chân dưới đây, từ nào là từ đồng âm, từ nào là từ

còn lại là nghĩa chuyển nó đều có nét nghĩa giống nhau là đều chỉ bộ phận cuối
cùng nâng đỡ cơ thể, sự vật.
Ví dụ 3: Tìm nghĩa của các từ cam trong đoạn thơ sau và cho biết đây là hiện
tượng từ nhiều nghĩa hay từ đồng âm? Tại sao?
Cảm ơn bà biếu gói cam1
Nhận thì không đúng, từ làm sao đây?
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Phải chăng khổ tận đến ngày cam2 lai?
Tương tự như ví dụ trên, tôi cũng cho học sinh đọc và cảm nhận đoạn thơ
và tìm hiểu nghĩa của các từ cam.
- cam1 chỉ tên một loại quả.
- cam2 chỉ niềm hạnh phúc, sung sướng.
Như vậy, đây là hiện tượng từ đồng âm vì cam1 và cam2 chỉ giống nhau
về âm còn nghĩa khác hẳn nhau.
3.6. Đặt câu phân biệt nghĩa của các từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Một trong những kĩ năng quan trọng khi dạy phân môn Luyện từ và câu là
dạy cho học sinh biết sử dụng từ để đặt câu. Để rèn luyện kĩ năng đó, khi dạy
học sinh phân biệt nghĩa của từ đồng âm, từ nhiều nghĩa tôi đã cho học sinh làm
các bài tập đặt câu phân biệt nghĩa. Muốn đặt đúng câu có từ cho sẵn được dùng
theo nét nghĩa nào thì học sinh phải hiểu và đặt được câu vào các văn cảnh cụ
thể. .
Ví dụ 1: Đặt câu phân biệt nghĩa các từ đồng âm: đậu, chín, bác.
- Trở lại với ví dụ đã nêu ở phần trước, để hiểu nghĩa của từ đậu trong vai trò
của từ đồng âm tôi đã hướng dẫn học sinh đặt một câu có cả hai từ đậu đồng âm
với nhau như sau:
Ruồi đậu1 mâm xôi đậu2.
Trong văn cảnh này từ đậu1 là động từ có nghĩa con ruồi nó dừng lại ở
trên mâm xôi. Còn từ đậu2 là danh từ chỉ xôi đậu được nấu từ nếp và loại đậu
nào đó.
- Từ chín trong câu:

Ví dụ: Anh ấy bị thương ở chân.
+ Bộ phận dưới cùng của một số đồ dùng (chân ghế; chân giường; chân
kiềng ...).
Ví dụ: Chân ghế này rất chắc chắn.
+ Cương vị, phận sự của một người (có chân trong hội đồng nhân dân
tỉnh; chân thư ký).
Ví dụ: Anh ta có một chân trong hội đồng nhân dân khóa này.
Ví dụ 3: Tìm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ ngọt. Lấy ví dụ minh họa.
- Nghĩa gốc: Quả cam này rất ngọt. (Chỉ một vị giống như vị của đường, ngon
và hấp dẫn).
- Nghĩa chuyển:
16


+ Chị ấy nói ngọt thật. (Chỉ cảm giác êm ái, dễ chịu, hấp dẫn của âm thanh)
+ Trời hôm nay rét ngọt. (Chỉ cảm giác mạnh đậm)
Ví dụ 4: Dùng các từ dưới đây để đặt câu (một câu theo nghĩa gốc, một câu theo
nghĩa chuyển) : nhà, đi
Sau khi hiểu rõ yêu cầu của đề, học sinh có thể làm như sau:
a) - Ngôi nhà đẹp quá. (Nghĩa gốc)
- Nhà tôi đi vắng. (Nghĩa chuyển)
b) - Em bé đang tập đi.(Nghĩa gốc)
- Tôi đi du lịch.(Nghĩa chuyển)
Ví dụ 5: Đặt câu theo yêu cầu:
- Một câu có bốn từ cuốc đồng âm với nhau.
- Một câu có ba từ ăn là hiện tượng nhiều nghĩa.
Trước hết tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu các nét nghĩa khác nhau của từ
cuốc và từ ăn:
a) Với từ cuốc:
- cuốc1: đi bộ.

Mỗi khoảng trống trên bàn - có em vắng mặt
Là bao nhiêu khoảng trống ở trong tôi...
(Tháng ba đến lớp – Thanh Ứng)
Với bài tập này tôi hướng dẫn các em cảm nhận được: Bài thơ sáng tác
trong những ngày giáp hạt tháng ba, không còn thóc gạo để ăn nên thực trạng ở
miền núi là học sinh nghỉ học ngày một nhiều. Hiểu được bối cảnh sáng tác các
em sẽ hiểu được giá trị của từ nhiều nghĩa trong bài là từ khoảng trống.
- khoảng trống1: là chỗ khuyết, vắng học sinh.
- khoảng trống2: là sự trống trải, hụt hẫng ở trong lòng.
Như vậy, việc sử dụng từ nhiều nghĩa khoảng trống nhà thơ Thanh Ứng
đã làm nổi bật nỗi xót xa, nỗi buồn trước hiện tượng học sinh miền núi nghỉ học
ngày càng nhiều vì đói. Điều đó cho thấy tấm lòng yêu thương học trò tha thiết
của thầy cô giáo đối với các em học sinh ở một vùng quê nghèo.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Qua thời gian giảng dạy tôi thực hiện các phương pháp trên, tôi nhận thấy
các em có tiến bộ hẳn, phân biệt được từ đồng âm từ nhiều nghĩa. Cuối năm học,
tôi đã khảo sát lại 31 em ở lớp 5Đ kết quả cụ thể như sau.
TSHS
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
TL
SL
TL
SL
TL
31
12
38,7%

- Tạo điều kiện để cho học sinh bộc lộ cách hiểu của mình, hướng dẫn học
sinh phân biệt nghĩa sau đó mới đưa ra kết luận.
- Qua các bài tập học sinh thực hành về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa giáo
viên cần cho các em tự kiểm tra, kiểm tra lẫn nhau về kết quả mình đã làm được.
- Thực tế dạy học cho thấy, hiện nay các nhà trường không tổ chức bồi
dưỡng học sinh giỏi nên mảng kiến thức về phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển
trong từ nhiều nghĩa thực sự khó đối với học sinh. Với thời lượng các tiết học
chính khóa theo PPCT có hạn, để tạo điều kiện cho các em được luyện tập, củng
cố kiến thức thiết thực hơn giáo viên cần lựa chọn cẩn thận tài liệu và hệ thống
bài tập dạy cho học sinh của mình trong buổi 2.
Với sự nỗ lực nghiên cứu của bản thân, cùng với sự cộng tác giúp đỡ của
đồng nghiệp, tổ chuyên môn cũng như Ban giám hiệu nhà trường cùng với sự
hưởng ứng nhiệt tình, ham học hỏi của học sinh, việc ứng dụng sáng kiến kinh
nghiệm này vào thực tế giảng dạy đã thu được kết quả khả quan. Tôi thiết nghĩ
có thể phát triển mở rộng phạm vi nghiên cứu cũng như áp dụng giảng dạy cho
học sinh lớp 5 ở các trường tiểu học trên địa bàn.
2. Kiến nghị:
- Nhà trường phối hợp cùng phụ huynh và địa phương đầu tư cơ sở vật
chất, trang bị máy chiếu cho các lớp học để giáo viên có thể thực hiện dạy học
bằng giáo án điện tử đối với những tiết Luyện từ và câu nói riêng và các tiết của
các môn học khác nói chung. Có như vậy giáo viên mới linh hoạt đưa được
nhiều hình ảnh trực quan vào bài dạy giúp học sinh nắm nghĩa từ và hiểu bài tốt
hơn.
19


- Phòng giáo dục nên tổ chức những buổi tập huấn nâng cao kiến thức,
chuyên môn và phương pháp giảng dạy cho giáo viên. Tăng cường tổ chức các
tiết dạy mẫu để giúp các giáo viên học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, nâng cao chất
lượng và hiệu quả giờ dạy phân môn Luyện từ và câu nói riêng và chất lượng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status