MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề.
2.2 Thực trạng.
2.3 Các giải pháp thực hiện:
Giải pháp 1. Tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao nghiệp vụ chuyên
môn.
Giải pháp 2. Phân loại đối tượng học sinh.
Giải pháp 3. Củng cố và hệ thống các kiến thức cơ bản ở lớp dưới
Giải pháp 4: Giúp học sinh có kĩ năng giải toán về tỉ số phần trăm
qua các tiết học chính khóa.
Giải pháp 5: Đổi mới phương pháp dạy ôn
Giải pháp 6: Ra đề khảo sát nhanh
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
3. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
3.2. Kiến nghị:
TRANG
1
2
2
2
2
4
5
sản xuất. Qua việc học giải toán về tỉ số phần trăm, học sinh hiểu thêm về kiến
thức thực tế. VD: Tính tỉ số phần trăm của học sinh (theo giới tính, theo lực học,
theo độ tuổi...); tính tiền vốn; tính tiền lãi khi mua bán hàng hóa; tính tiền lãi khi
gửi tiết kiệm.....Qua đó, rèn luyện cho các em những phẩm chất không thể thiếu
của người lao động. Ngoài ra, giải toán về tỉ số phần trăm giúp các em biết vận
dụng phương pháp chung để giải các dạng toán tương tự và giúp các em học tốt
môn toán ở bậc học tiếp theo.
Trong quá trình giảng dạy lớp 5, tôi thấy khi dạy đến dạng “Giải toán về tỉ
số phần trăm” học sinh chưa nắm vững bản chất của từng dạng toán, không phân
biệt được các dạng toán. Đặc biệt khi nhận bài thi có phần tỉ số phần trăm có
những em làm còn lẫn lộn giữa dạng này với dạng khác. Điều đó đã làm giảm
chất lượng dạy học giải toán có lời văn nói chung và dạy học giải toán về tỉ số
phần trăm nói riêng.
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5, tôi luôn băn khoăn trăn trở, suy
nghĩ làm thế nào để giúp các em học tốt phần “Giải toán về tỉ số phần trăm”. Từ
đó, góp phần nâng cao chất lượng đại trà môn Toán lớp 5. Qua thực tế giảng dạy
với sự đầu tư nghiên cứu của mình, tôi đã đưa ra một số phương án, cách thức tổ
chức, hướng dẫn học sinh giải toán về tỉ số phần trăm. Vì vậy, tôi muốn chia sẻ
với các bạn đồng nghiệp kinh nghiệm nhỏ “Rèn kĩ năng giải toán về tỉ số phần
trăm cho học sinh lớp 5”.
Với đề tài này, tôi chỉ đi sâu nghiên cứu để giúp các em làm chắc các dạng toán
về tỉ số phần trăm trong môn Toán lớp 5. Mong rằng sẽ nhận được sự góp ý chân
thành của các cấp quản lí và các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn chỉnh và
áp dụng trong giảng dạy góp phần nâng dần chất lượng học giải toán có lời văn nói
riêng và môn Toán nói chung trong nhà trường Tiểu học. Phạm vi nghiên cứu được
2
trải nghiệm trong ba năm học 2014 - 2015; 2015 - 2016; 2016 - 2017. Đối tượng
nhân và chia các số thập phân, các em chuyển sang học giải toán về tỉ số phần trăm.
Nội dung tỉ số phần trăm và giải toán về tỉ số phần trăm được sắp xếp ở chương 2
trong sách Toán 5 với yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng như sau:
+ Nhận biết được tỉ số phần trăm của 2 đại lượng cùng loại.
+ Biết đọc, viết tỉ số phần trăm.
+ Biết viết một phân số thành tỉ số phần trăm và ngược lại biết viết tỉ số
phần trăm thành phân số.
+ Biết thực hiện phép cộng, trừ các tỉ số phần trăm; nhân tỉ số phần trăm
với một số tự nhiên; chia tỉ số phần trăm cho một số tự nhiên khác 0.
+ Biết giải bài toán về tỉ số phần trăm theo 3 dạng:
- Tìm tỉ số phần trăm của hai số.
- Tìm giá trị tỉ số phần trăm của một số.
- Tìm một số biết giá trị tỉ số phần trăm của số đó.
Trong chương trình dạy học về tỉ số phần trăm. Nội dung này chính thức
dạy trong 7 tiết. Cụ thể như sau :
3
Tiết 1: Khái niệm về tỉ số phần trăm.
Tiết 2: Giải toán về tỉ số phần trăm.
Tiết 3: Luyện tập.
Tiết 4: Giải toán về tỉ số phần trăm (tiếp theo).
Tiết 5: Luyện tập.
Tiết 6: Giải toán về tỉ số phần trăm (tiếp theo).
Tiết 7: Luyện tập.
Còn lại là các bài toán phần trăm đơn lẻ nằm rải rác trong cấu trúc của
chương trình.
So với các yếu tố khác trong phân môn Toán thì số tiết phân phối giải toán
về tỉ số phần trăm chiếm một dung lượng nhỏ. Song đây là lượng kiến thức khá
Cũng số quýt đó nhưng thay vì chia thành 4 phần bằng nhau, ta lại chia
thành 100 phần. Thì số cam không phải chia thành 3 phần mà chia thành 75
phần nhỏ.
Như vậy, tỉ số phần trăm là sự so sánh giữa hai số: “Số cam bằng 75% số
quýt” hay “Tỉ số giữa cam và quýt là 75%” thì số cam được viết trước chiếm số phần
trên tử số là 75, còn quýt được viết sau chiếm số phần ở mẫu số là 100 phần.
Các “Bài toán về tỉ số phần trăm” thực chất là các “Bài toán về tỉ số”
được dạy trong chương trình học. Giáo viên cần phải hiểu rõ và phân biệt 3 dạng
bài toán cơ bản về tỉ số phần trăm, đó là:
Dạng 1: Tìm tỉ số phần trăm của hai số.
VD: Trường Tiểu học Vạn Thọ có 600 học sinh, trong đó có 315 học sinh
nữ. Tìm tỉ số phần trăm của số học sinh nữ và số học sinh toàn trường. (VD a,
trang 75, Toán 5)
Dạng 2: Tìm giá trị tỉ số phần trăm của một số.
4
VD: Một trường Tiểu học có 800 học sinh, trong đó số học sinh nữ chiếm
52,5%. Tính số học sinh nữ của trường đó. (VD a, trang 76, Toán 5).
Dạng 3: Tìm một số biết giá trị tỉ số phần trăm của số đó.
VD: Số học sinh nữ của một trường là 420 em và chiếm 52,5% số học sinh
toàn trường. Hỏi trường đó có bao nhiêu học sinh ?(VD a, trang 78, Toán 5).
Trong Toán 5, phần tỉ số của hai số là thương của hai số, thương đó
thường là số thập phân. Chính vì vậy, phần “Giải toán về tỉ số phần trăm” được
học sau khi học sinh nắm vững về phân số, phân số thập phân (lớp 4) và phép
chia với số thập phân (lớp 5) là hoàn toàn hợp lí.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến.
Trong chương trình Toán 5, giải toán về tỉ số phần trăm là dạng toán đa
20/30
10/30
21/31
10/31
19/30
11/30
23/31
8/31
Qua thực tế dạy ở lớp và qua các bài thi, tôi thấy học sinh thường mắc các lỗi
do các nguyên nhân sau:
a. Về phía giáo viên:
- GV chưa chú ý rèn kĩ năng giải toán về tỉ số phần trăm cho học sinh; chưa
coi trọng việc khái quát chung cách giải để khắc sâu kiến thức cho học sinh.
- GV chưa quan tâm đến hết các đối tượng học sinh trong lớp.
5
- Đôi khi giáo viên chưa kịp thời sửa sai, hoặc sửa sai chưa triệt để lỗi sai
của học sinh.
b. Về phía học sinh:
- Học sinh bị rỗng kiến thức cơ bản của lớp dưới.
- Nhiều em chưa biết cách đặt câu lời giải đúng (chủ yếu dạng toán tìm tỉ
số phần trăm của hai số).
- Các em chưa nắm vững bản chất và cách giải của 3 dạng toán về tỉ số
phần trăm, nhầm lẫn giữa các dạng toán giải (dạng 2 và dạng 3).
- Các em còn nhiều lúng túng và vướng mắc khi đề toán liên quan đến các
thuật ngữ: tính tiền vốn, tiền lãi, giá mua; tính tiền lãi, tiền tiết kiệm; vượt kế
hoạch, vượt chỉ tiêu.....
dạy, ngoài việc chuẩn bị bài chu đáo, tôi luôn tự giải các bài tập của từng buổi học
vào một quyển vở để chấm bài cho học sinh. Bản thân tôi đã xung phong dạy mẫu
6
chuyờn cho c trng d gi v gúp ý. (Bi: Gii toỏn v t s phn trmdng 2,3). Sau tit dy, c trng úng gúp ý kin rỳt kinh nghim, ch ra nhng
hn ch thiu sút trong cỏch dy, cỏch truyn th kin thc, tỏc phong.... Ngoi
ra, tụi luụn hc hi bn bố ng nghip trong nh trng, liờn tc tham gia d gi
ng nghip trong khi nõng cao trỡnh chuyờn mụn nghip v cng nh kh
nng truyn t giỳp hc sinh nm vng cỏch lm bi trong mi tit hc.
Qua cỏc vic lm trờn, tụi thy mỡnh vng vng hn v kin thc v
phng phỏp. Khụng nhng th, tụi ó nm vng ni dung chng trỡnh tng
khi lp v ng v trớ lp no tụi cng cú th dy c. Trong mi tit dy,
tụi hon ton lm ch c kin thc v t tin ng trờn bc ging ging dy
cho cỏc em hc sinh mt cỏch d hiu nht.
Nh vy, vi ý thc trỏch nhim trong cụng vic n nay tụi ó cú trỡnh
chuyờn mụn vng, liờn tc t giỏo viờn gii cp trng, cp huyn; cú nhiu
hc sinh t gii trong cỏc kỡ thi cp trng, cp huyn trong nhiu nm, c
ng nghip tớn nhim cao. ú l kt qu nghiờn cu tỡm tũi, hc hi thc s m
tụi tõm c. Tụi ó em kt qu ú vo chng trỡnh dy cho hc sinh lp 5
trong nm hc 2015 2016; 2016 - 2017.
Gii phỏp 2. Phõn loi i tng hc sinh.
Trong mt lp hc thỡ lc hc ca hc sinh thng khụng ng u nờn
việc giáo viên nắm bắt đợc lực học của từng học sinh trong lớp
là nhiệm vụ đầu tiên và cũng hết sức quan trọng. T ú, tụi cú
nhng gii phỏp giỳp cỏc em t c chun kin thc k nng ca mụn hc.
Chính vì vậy, qua thực tế lực học của lớp, tôi chia hc sinh thành
các nhóm sau:
+ Nhúm 1: Hc sinh b rng kin thc lp di
giúp các em phát huy khả năng của mình.
Ngoài ra, với học sinh nhóm 1, 2, 3 tôi luôn đánh giá các em theo hướng
động viên, khuyến khích còn nhóm 4 đánh giá theo sự sáng tạo. Bên cạnh đó,
trong thời gian dạy buổi 2, tôi dành nhiều thời gian để ôn tập củng cố lại các
dạng toán liên quan đến tỉ số phần trăm với nhiều hình thức: vấn đáp, làm phiếu
bài tập, giải toán liên quan đến tỉ số,… với mục đích giúp các em nắm chắc bản
chất về tỉ số.
Sau thời gian được ôn tập và có hệ thống, học sinh lớp tôi có nhiều
chuyển biến tích cực trong học tập: đi học chuyên cần, tích cực tự giác học bài
và cơ bản đã nắm được bản chất của tỉ số. Đó là cơ sở để các em học tốt dạng
giải toán về tỉ số phần trăm trong chương trình lớp 5.
Giải pháp 3. Củng cố và hệ thống các kiến thức cơ bản ở lớp dưới.
Để các em nắm được bản chất của dạng “Giải toán về tỉ số phần trăm”
đồng thời giúp các em khỏi ngỡ ngàng khi học dạng toán này, điều đầu tiên giáo
viên phải củng cố lại các kiến thức cơ bản đã học ở lớp 3, lớp 4 và lớp 5 có liên
quan đến dạng: Giải toán về tỉ số phần trăm.
Vì kiến thức cũ được ví như nền móng của một ngôi nhà, nền móng có
vững chắc thì mới xây dựng được những ngôi nhà vững chắc. Nếu học sinh
không hiểu gì về tỉ số, phân số thập phân, tỉ số phần trăm thì học sinh không thể
giải được dạng toán này. Nguyên nhân là do một số em khả năng nhớ còn hạn
chế và các em không được luyện tập, củng cố lại sau 3 tháng nghỉ hè.
Mà trong mỗi một tuần học, các em chỉ được ôn tập 6 tiết/tuần. Nếu mỗi
một buổi dạy, giáo viên chép đề bài lên bảng rồi tổ chức cho học sinh làm và
chữa bài thì sẽ mất nhiều thời gian và lượng bài tập làm được rất ít. Nội dung
dạy ôn luyện lại chưa có chương trình cụ thể, hoàn toàn do giáo viên trong khối
soạn thảo dưới sự kiểm duyệt của phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn nên
nếu giáo viên không có hệ thống bài tập in sẵn đến cho học sinh để các em vừa
ôn, vừa ghi đề thì rất mất thời gian mà hiệu quả lại không cao. Chính vì vậy, khi dạy
dạng bài ôn luyện cho học sinh. Tôi đã củng cố lại kiến thức cơ bản cho các em đồng
thời chuẩn bị nội dung phiếu ôn luyện cụ thể và đã in đến từng học sinh.
2
3
- Bước 2 : Củng cố: Tỉ số của 2 số được viết dưới dạng phép chia a : b
a
(b khác 0).
b
2
VD 2: Viết phân số thành tỉ số phần trăm.
5
2
40
- Bước 1: HS làm: =
= 40%
5
100
hay dưới dạng phân số
- Bước 2: Tôi lưu ý: Tỉ số phần trăm bản chất là tỉ số của hai số được viết
dưới dạng phân số thập phân có mẫu số là 100. Trong đó, tỉ số
100 nên có thể chuyển
40
có mẫu số là
100
40
thành tỉ số phần trăm như sau: viết 40 thêm kí hiệu
3
của đội Hai. Hỏi đội Hai trồng được bao nhiêu cây?
- Bước 1: HD HS phân tích đề toán
- Bước 2: Yêu cầu học sinh làm bài.
Bài giải:
Đội Hai trồng được số cây là:
20 x 3 : 2 = 30 (cây)
Đáp số : 30 cây
- Bước 3: Củng cố: Đây là dạng toán: Tìm một số khi biết giá trị một phân
số của số đó.
Quy tắc: Muốn tìm một số khi biết giá trị một phân số của số đó, ta lấy giá
trị của phân số đó nhân với mẫu số rồi chia cho tử số của phân số đó.
e. Củng cố về tỉ số phần trăm
Sau khi giúp học sinh củng cố các kiến thức cũ có liên quan đến dạng
“Giải toán về tỉ số phần trăm”, tôi tiếp tục củng cố về “Tỉ số phần trăm” cho học
sinh. Nên sau khi học xong bài “Tỉ số phần trăm – SGK Toán 5 – Trang 73). Tôi
củng cố cho học sinh qua các VD sau:
VD 5: Viết thành tỉ số phần trăm (theo mẫu)
M:
a,
1
2
3
75
=
= 75%
4 100
và có mẫu số là 100. Từ phân số thập phân chuyển thành tỉ số phần trăm.
10
3.2. Minh họa một phiếu bài tập
Bài 1: Đặt đề toán theo tóm tắt sau rồi giải :
Tóm tắt :
4 vỉ : 24 viên thuốc
3 vỉ : ... viên thuốc ?
Bài 2: Viết tỉ số của a và b biết:
a, a = 6
b, a = 4
c, a = 7
b=2
b = 10
b=4
Bài 3: Viết các phân số sau thành phân số thập phân.
3
5
20
125
6
30
64
800
số học sinh là học sinh giỏi Tiếng Việt. Hỏi lớp học đó có bao nhiêu
10
học sinh giỏi Toán, bao nhiêu học sinh giỏi Tiếng Việt?
Bài 6: Một đội văn nghệ có 60 bạn, trong đó
3
số bạn là nữ. Hỏi đội văn nghệ
5
đó có bao nhiêu bạn nữ?
Bài 7: Người thợ may cắt ra
3
chiều dài tấm vải thì được 6m. Hỏi lúc đầu tấm
5
vải đó dài bao nhiêu mét?
Bài 8: Một vườn cây có 1000 cây, trong đó có 540 cây lấy gỗ và còn lại là cây
ăn quả.
a, Số cây lấy gỗ chiếm bao nhiêu phần trăm số cây trong vườn?
b, Tỉ số phần trăm của số cây ăn quả và số cây trong vườn là bao nhiêu?
Qua cách dạy trên, tôi đã ôn lại các kiến thức cơ bản có liên quan đến
dạng “Giải toán về tỉ số phần trăm” đồng thời dành nhiều thời gian hơn cho học
sinh được làm bài cá nhân, thảo luận nhóm đôi và tôi cũng có thời gian đến với
từng cá nhân học sinh để kèm cặp, giúp các em kịp thời sửa sai và hạn chế được
những sai sót trong quá trình làm bài tập và cơ bản các em đã làm thành thạo các
dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, tìm một số phần trăm của một số, tỉ số, tỉ
số phần trăm ... Đây cũng là cơ sở, là nền tảng giúp các em tiếp thu tốt dạng toán
giải về tỉ số phần trăm trong chương trình học.
Cả trường : 600 học sinh
Nữ :
315 học sinh
Nữ chiếm : ......% ?
Hoặc viết câu hỏi dưới dạng tỉ số như sau :
Cả trường : 600 học sinh.
Nữ :
315 học sinh
Nữ
= ......% ?
Tỉ số :
Cả trường
Bước 3: Hướng dẫn học sinh giải :
- Tỉ số học sinh nữ và học sinh toàn trường là: 315 : 600 (hay
315
)
600
- Tỉ số phần trăm của học sinh nữ và học sinh toàn trường là:
315 : 600 = 0,525
0,525 x 100 : 100 = 52,5 : 100 = 52,5%
- Tôi phân tích cho học sinh hiểu thực chất bước:
315 : 600 = 0,525 =
0,525 × 100 52,5
=
= 52,5%
100
100
0,525 x 100 = 52,5%
Bước 5: Dạng khái quát: Cho 2 số a và b
+ Lập tỉ số: a : b
+ Tìm thương: a : b = c
+ Nhân nhẩm c với 100 rồi viết kí hiệu % vào thương vừa tìm được.
4.2. Dạng tìm giá trị tỉ số phần trăm của một số.
VD: Một trường Tiểu học có 800 học sinh, trong đó số học sinh nữ chiếm
52,5%. Tính số học sinh nữ của trường đó.(VD a, trang 76, Toán 5).
Bước 1: Hướng dẫn học sinh phân tích đề toán.
- Gọi HS đọc đề bài.
- Số học sinh cả trường là 800 học sinh ứng với bao nhiêu phần trăm?
(800 học sinh ứng với 100%).
- Em hiểu học sinh nữ chiếm 52,5% nghĩa là như thế nào ? (Tổng số học
sinh của cả trường là 100 phần thì số học sinh nữ chiếm 52,5 phần).
- Tôi biểu thị tỉ số học sinh nữ và số học sinh toàn trường bằng tỉ số sau:
Số học sinh nữ
= 52,5
= .... học sinh ?
Tổng số học sinh toàn trường
100
800 học sinh
- Tôi nêu: Tính 52,5% của 800.
Bước 2: Hướng dẫn học sinh tóm tắt đề toán:
100% số học sinh toàn trường: 800 học sinh.
1% số học sinh toàn trường: .....học sinh?
52,5% số học sinh nữ
: ......học sinh ?
Bước 3: Hướng dẫn học sinh giải:
B1: Tìm 1% của 800 học sinh
Bước 1: Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán.
- Gọi HS đọc đề bài
- 52,5% số học sinh toàn trường chính là bao nhiêu em học sinh nữ? (420 em).
- Số học sinh của trường đó được coi là bao nhiêu phần trăm ? (100%).
Bước 2: Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán
52,5% số học sinh toàn trường: 420 học sinh
1% số học sinh toàn trường: ..... học sinh?
100% học sinh toàn trường: ......học sinh ?
Hoặc có thể hướng dẫn học sinh tóm tắt như sau :
Học sinh nữ chiếm: 52,5% : 420 học sinh
Học sinh toàn trường: 100% : .... học sinh ?
Bước 3: Hướng dẫn học sinh giải:
- Nêu cách tìm 1% số học sinh? (Lấy 420 : 52,5 = 8)
- Làm thế nào để tìm được số học sinh toàn trường? (Lấy giá trị của 1%
nhân với 100).
Tôi hướng dẫn học sinh trình bày bài giải cụ thể như sau:
14
1% số học sinh toàn trường là:
420 : 52,5 = 8 (học sinh)
Số học sinh của trường hay 100% số học sinh toàn trường là :
8 x 100 = 800 (học sinh).
Đáp số : 800 học sinh
Sau khi hướng dẫn học sinh giải xong tôi chỉ vào phép tính 420 : 52,5 = 8.
Đây là bước rút về đơn vị (Tìm giá trị 1% của 420). Và tôi cũng khẳng định dạng
toán này là dạng: Tìm một số khi biết giá trị một tỉ số phần trăm của số đó.
- Hai bước tính trên có thể viết gộp thành:
420 : 52,5 x 100 = 800
lấy số đó chia cho số chỉ phần trăm rồi
nhân với 100. Hoặc lấy số đó nhân với
100 rồi chia cho số chỉ phần trăm.
2. Dạng khái quát: Tìm số A khi biết m
% của số A là n
A = n : m x 100 hoặc A = n x 100 : m
Như vậy, với cách dạy 3 dạng toán về “Giải toán về tỉ số phần trăm” ở mỗi
một dạng, tôi đều hướng dẫn các em giải qua các bước: Phân tích đề bài; tóm tắt;
hướng dẫn giải; củng cố và khái quát cách giải. Tôi tin tưởng khi học sinh nắm vững
cách giải của từng dạng, phân biệt được 3 dạng và qua các tiết thực hành luyện tập,
các em sẽ làm thành thạo dạng toán: Giải toán về tỉ số phần trăm.
15
Giải pháp 5. Đổi mới phương pháp dạy ôn.
Thông thường, trong mỗi lớp học trình độ tiếp thu bài của học sinh không
đồng đều có em tiếp thu bài nhanh, có em tiếp thu bài chậm. Nên sau khi học
sinh học xong từng dạng bài của phần “Giải toán về tỉ số phần trăm” để giúp các
em nắm vững và rèn được kĩ năng giải toán tốt hơn. Tôi đã giúp các em củng cố
lại kiến thức cũ như sau:
5.1 Sử dụng bảng con để tìm kết quả:
Việc sử dụng bảng con trong tiết học Toán tôi thấy rất hiệu quả vì khi học
sinh thực hiện trên bảng con các em rất thích thú đồng thời giúp tôi kiểm soát
được kết quả bài làm của cả lớp. Tuy nhiên, khi yêu cầu học sinh sử dụng bảng
con tôi không lạm dụng mà tùy từng nội dung bài, tôi đã làm như sau:
- Thời gian kiểm tra: đầu tiết học hoặc cuối buổi học Toán.
- Tôi nêu phép tính bất kỳ, học sinh ghi kết quả vào bảng con trong vòng
10 giây.
bắt được bài đến đâu và sửa sai kịp thời cho học sinh. Nên tôi đã làm như sau:
Sau khi giao bài tập cho học sinh, tôi quan sát và hướng dẫn đến từng cá
nhân học sinh (nếu sai về cách làm và cách trình bày bài) để các em tự điều
chỉnh kịp thời những sai sót của mình.
Trong quá trình chấm bài, tôi thường chấm ít nhất 1/2 số bài trong lớp.
Nhưng không nhất thiết hôm nay chấm tổ Một, ngày mai chấm tổ Hai… Vì như
vậy dễ tạo cho học sinh biết mình hôm nay không được chấm sẽ không tập trung
làm bài. Cách chấm của tôi như sau: Hôm tôi chấm theo dãy, hôm chấm theo
16
bàn, có hôm tổ Một chấm bài 1, tổ Hai chấm bài 2, tổ Ba chấm bài 3 hoặc chấm
đúng sai cho các em.
Riêng đối với học sinh chưa đạt chuẩn, trong tiết học tôi càng quan tâm
hơn, khi chấm bài có thể chỉ cần chấm 1 hoặc 2 bài cơ bản. Khi chấm, tôi chỉ ra
chỗ sai cho từng học sinh sau đó yêu cầu học sinh làm lại bài sai đó.
Bên cạnh đó, để giúp cho học sinh tích cực học bài hơn và sau mỗi lần
chấm tôi ghi lời phê ngắn gọn vừa khen ngợi, vừa động viên các em. Có nhiều
lúc, để giảm bớt thời gian ghi chép vào vở học sinh, tôi nhận xét trực tiếp bằng
lời cho học sinh.
Ví dụ:
- Em đã có sự tiến bộ, song cần cố gắng hơn nữa!
- Em cần chú ý viết câu lời giải.
- Em có nhiều tiến bộ. Song cần chú ý cách trình bày bài.
- Phần toán giải em cần trình bày đẹp hơn.
- Em đã nắm được cách giải toán về tỉ số phần trăm tốt.
- Em đã biết cách tìm tỉ số phần trăm của hai số rất tốt.
Khi chữa bài, tôi luôn tạo điều kiện cho học sinh chưa đạt chuẩn được
tham gia chữa. Tôi thường gọi các em học sinh đó lên bảng chữa bài 1, hoặc bài
phần trăm của số học sinh nam và học sinh nữ ?
Đề bài 2: Một cửa hàng bỏ ra 6 000 000 đồng tiền vốn. Biết cửa hàng
đó lãi 15%. Tính số tiền lãi.
Đề bài: Một cửa hàng bán trong một ngày được lãi 900 000 đồng, bằng
15% tiền vốn. Tính số tiền vốn.
Từ cách làm trên: sử dụng bảng con, chấm chữa bài, giải thích thuật ngữ,
xây dựng đề bài, tôi thấy học sinh rất tập trung làm bài. Những em được khen
ngợi rất thích thú và hứng khởi hơn trong học tập. Còn học sinh chưa đạt chuẩn,
các em sẽ thấy được khiếm khuyết của mình và tự bản thân các em sẽ khắc phục
kịp thời được. Qua việc được rèn luyện nhiều, tôi thấy học sinh đã giải toán thành
kĩ năng. Chính vì vậy, khi làm bài có liên quan đến tỉ số phần trăm các em làm một
cách chắc chắn và chính xác cao.
Giải pháp 6. Ra đề khảo sát nhanh.
Bám vào nội dung của 3 dạng bài trên, tôi ra đề khảo sát nhanh để kiểm
tra khả năng nắm bài của các em. Có thể chỉ kiểm tra nhanh với thời gian 15
phút sau mỗi tiết học hoặc vào đầu giờ học trong buổi ôn Toán. Sau đây là một
số đề tôi đã áp dụng:
ĐỀ SỐ 1:
(Dành cho tiết tìm tỉ số phần trăm của hai số)
Bài 1: Tìm tỉ số phần trăm của:
a, 25 và 40
b, 16 và 80
Bài 2: Một đội bóng rổ thi đấu 20 trận, thắng 12 trận. Tìm tỉ số phần trăm các
trận thắng của đội bóng.
ĐỀ SỐ 2:
(Dành cho tiết tìm giá trị tỉ số phần trăm của một số)
Bài 1: Tìm 2% của 1000kg
Bài 2: Khối lớp Năm của một trường tiểu học có 150 học sinh, trong đó có 52%
là học sinh nữ. Hỏi khối lớp Năm có bao nhiêu học sinh nữ?
ĐỀ SỐ 3:
trường đánh giá có chuyển biến tốt về chất lượng.
Bên cạnh đó, khi nhận đề thi hoặc bài tập để làm, tất cả học sinh lớp tôi
đều rất tự tin khi làm bài, không còn hiện tượng bỏ giấy trắng mặc dù các em
học sinh chưa đạt chuẩn chỉ làm được 1 đến 2 bài nhưng hạn chế về sai xót.
Chính vì vậy, cuối học kì 1, năm học 2015 – 2016, 2016 – 2017, tôi đã ra đề
khảo sát giải toán về tỉ số phần trăm, số lượng học sinh hoàn thành tốt tăng, học
sinh chưa hoàn thành đã giảm nhiều.
Đề bài:
Bài 1: Một lớp học có 25 học sinh, trong đó có 12 học sinh nam. Hỏi số học sinh
nam chiếm bao nhiêu phần trăm số học sinh của lớp học đó?
Bài 2: Lớp 5A có 32 học sinh, trong đó số học sinh thích tập hát chiếm 75%.
Tính số học sinh thích tập hát của lớp 5A?
Bài 3: Kiểm tra sản phẩm của một nhà máy, người ta thấy có 44 sản phẩm
không đạt chuẩn và chiếm 5,5% tổng số sản phẩm. Tính tổng số sản phẩm?
Sau đây là kết quả khảo sát sau thời gian học:
Bài
Năm học 2015 – 2016
Năm học 2016 - 2017
Số HS làm đúng Số HS làm sai Số HS làm đúng Số HS làm sai
Bài 1
27/30
3/30
31/31
0/31
Bài 2
26/30
4/30
30/31
1/31
Bài 3
3.2. Kiến nghị:
* Đối với nhà trường:
- Tiếp tục duy trì và tổ chức có hiệu quả các hình thức bồi dưỡng giáo viên
như hiện nay.
- Tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn tập trung vào xây dựng
những nội dung dạy học khó; tổ chức giải đề thi các cấp....
* Đối với giáo viên:
- Xây dựng kế hoạch dạy học ngay từ đầu năm học.
- Tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Tích cực tham gia góp ý xây dựng trong các buổi học chuyên đề, thao
giảng, dự giờ, sinh hoạt chuyên môn.
Trên đây là một số kinh nghiệm tôi đã vận dụng trong quá trình dạy học.
Tuy đã cố gắng nhiều song vẫn còn nhiều hạn chế. Tôi rất mong được sự góp ý
của các đồng chí chỉ đạo chuyên môn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết:
Ninh Thị Ngọc
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Sách giáo khoa Toán 2, Toán 3, Toán 4, Toán 5.
2. Sách giáo viên Toán 2, Toán 3, Toán 4, Toán 5
3. Bài tập trắc nghiệm và tự luận Toán 5 (Tập 1) – NXB Đại học sư phạm.