MỤC LỤC
Trang
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài: ......................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................2
1.5. Những điểm mới của SKKN......................................................................2
2. Nội dung sáng kiến
2.1. Cơ sở lý luận của SKKN............................................................................2
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dúng KKN ...............................................3
2.3. Sáng kiến kinh nghiệm …………………………………………..............3
2.3.1. Nội dung vấn đề......................................................................................3
2.3.2. Các phương pháp phân tích đa thức thành nhân tử.................................4
2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục ...................................14
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận ...................................................................................................15
3.2. Kiến nghị..................................................................................................16
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Môn toán là môn hay và khó ở bất kỳ trường nào, lớp nào, nhưng nó lại
giúp học sinh học tập tốt các môn học khác, giúp học sinh hoạt động có hiệu quả
trong mọi lĩnh vực của đời sống, sản xuất khi còn học trong nhà trường cũng
như trong cuộc sống.
Môn toán có khả năng phát triển năng lực trí tuệ và hình thành các phẩm
chất trí tuệ, là môn học mang sẵn trong nó những phương pháp quy nạp thực
nghiệm và cả phương pháp suy diễn logic, môn toán tạo cơ hội cho người học
vẫn còn lúng túng. Phải chăng điểm xuất phát từ bài đầu tiên là học sinh làm
quen với phân tích đa thức thành nhân tử, các em còn chưa hiểu rõ hết bản chất
của vấn đề, chưa nắm rõ các phương pháp phân tích, quy tắc toán học nên dẫn
đến nhầm lẫn khi giải toán. Chính vì vậy, ngay từ bài đầu tiên về phân tích đa
2
thức thành nhân tử giáo viên cần phải nghiên cứu để giúp học sinh hiểu rõ bản
chất của việc phân tích đa thức thành nhân tử, nắm thật vững kiến thức để hạn
chế sự nhầm lẫn, sai sót sau này.
- Thông qua các bài toán phân tích đa thức thành nhân tử rèn luyện cho
học sinh các kỹ năng giải toán phân tích đa thức thành nhân tử và phát huy khả
năng suy luận, phán đoán của học sinh, khả năng vận dụng sáng tạo trong quá
trình giải bài tập.
- Nâng cao chất lượng dạy học.
- Giúp học sinh hiểu đúng về môn học, gây cho học sinh hứng thú học tập
môn, gợi cho học sinh tính độc lập tìm hiểu, tự nghiên cứu đam mê với môn
học.
- Giải toán là hình thức tốt nhất để rèn luyện các kỹ năng: Tính toán, dự
đoán, suy luận…và là hình thức tốt nhất để kiểm tra năng lực, mức độ tiếp thu
và vận dụng kiến thức.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp khối 8 trường THCS Trần Phú - Thành phố Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Đọc sách, tham khảo tài liệu, nghiên cứu lý thuyết.
- Tìm một số bài toán đặc trưng sử dụng giải bài toán phân tích đa thức
thành nhân tử.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
- Chủ yếu rèn kỹ năng phân tích đa thức thành nhân tử.
- Thêm phương pháp giảm dần số mũ của lũy thừa và phương pháp dùng
hoá vấn đề và rút ra được những điều gì bổ ích. Dạng toán phân tích đa thức
thành nhân tử là một dạng toán rất quan trọng của môn đại số 8 đáp ứng yêu cầu
này, là nền tảng, làm cơ sở để học sinh học tiếp các chương sau này, nhất là khi
học về rút gọn phân thức đại số, quy đồng mẫu thức nhiều phân thức và việc giải
phương trình, … Tuy nhiên, vì lý do sư phạm và khả năng nhận thức của học
sinh đại trà mà chương trình chỉ đề cập đến bốn phương pháp cơ bản của quá
trình phân tích đa thức thành nhân tử thông qua các ví dụ cụ thể, việc phân tích
đó là không quá phức tạp và không quá ba nhân tử.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh giải bài toán phân tích đa thức
thành nhân tử một cách chính xác, nhanh chóng và đạt hiệu quả cao. Để thực
hiện tốt điều này, đòi hỏi giáo viên cần xây dựng cho học sinh những kĩ năng
như quan sát, nhận xét, đánh giá bài toán, đặc biệt là kĩ năng giải toán, kĩ năng
vận dụng bài toán, tuỳ theo từng đối tượng học sinh, mà ta xây dựng cách giải
cho phù hợp trên cơ sở các phương pháp đã học và các cách giải khác, để giúp
học sinh học tập tốt bộ môn.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
- Trường THCS Trần Phú còn tồn tại nhiều học sinh yếu trong tính toán,
kỹ năng quan sát nhận xét, biến đổi và thực hành giải toán, phần lớn do mất kiến
thức căn bản ở các lớp dưới, nhất là chưa chủ động học tập ngay từ đầu chương
trình lớp 8, do chây lười trong học tập, ỷ lại, trông nhờ vào kết quả người khác,
chưa nỗ lực tự học, tự rèn, ý thức học tập yếu kém. Một nhóm học sinh rất ham
học, ham tìm hiểu và muốn đi sâu vào các dạng toán phân tích đa thức thành
nhân tử nhưng chưa có cơ hội tiếp cận, tìm hiểu. Ngoài ra, một vài học sinh còn
chưa xác định rõ phân tích đa thức thành nhân tử là như thế nào? Và làm thế nào
để phân tích được đa thức đã cho thành nhân tử.
- Đa số các em sử dụng các loại sách bài tập có đáp án để tham khảo, nên
khi làm bài tập, các em thường hay lúng túng, chưa tìm được hướng giải thích
hợp, không biết áp dụng phương pháp nào trước, phương pháp nào sau, phương
pháp nào là phù hợp nhất, hướng giải nào là tốt nhất.
- Phụ huynh học sinh chưa thật sự quan tâm đúng mức đến việc học tập
- Tìm nhân tử chung các hệ số 14, 21, 28 (là 7)
- Tìm nhân tử chung của các biến x2 y, xy2, x2y2 ( là xy )
- Nhân tử chung trong các hạng tử đã cho là: 7xy
Vậy 14x2 y – 21xy2 + 28x2y2 = 7xy.2x – 7xy.3y + 7xy.4xy
= 7xy.(2x – 3y + 4xy)
Ví dụ 2: Câu d bài 39-SGK trang 19:
2
2
x(y - 1) - y(y - 1) thành nhân tử.
5
5
2
Đối với bài này học sinh đặt nhân tử chung là (y - 1) rồi thực hiện bình
5
Phân tích đa thức
thường mà không cần đổi dấu.
* Trong hai ví dụ này giáo viên đã rèn được cho học sinh của mình tính
cẩn thận, kỹ năng nhẩm nhanh để tìm UCLN và kỹ năng nhận biết nhân tử
chung. Đối với học sinh yếu kém thì cách làm này rất quan trọng gây cho học
sinh hứng thú học.
Chú ý: Đến câu e bài 39 SGK trang 19
Phân tích đa thức 10x(x – y) – 8y(y – x) thành nhân tử.
Bài này dành cho học sinh khá, giỏi các em sẽ nhìn ra được nhân tử chung
là (x - y) hoặc (y - x) nhưng đôi khi vẫn bị nhầm dấu, phần đa học sinh còn lại
không nhìn ra mà phải dựa vào sự gợi ý của giáo viên
Giáo viên gợi ý:
- Tìm nhân tử chung của các hệ số 10 và 8 ? (Học sinh trả lời là: 2)
- Quy tắc đổi dấu và cách đổi dấu của các nhân tử trong một tích.
Chú ý: Tích không đổi khi ta đổi dấu hai nhân tử trong tích đó (một cách tổng
quát, tích không đổi khi ta đổi dấu một số chẵn nhân tử trong tích đó).
2.3.2.2. Phương pháp dùng hằng đẳng thức đáng nhớ:
+ Phương pháp chung:
Sử dụng bảy hằng đẳng thức đáng nhớ dưới “dạng tổng hoặc hiệu” đưa về
“dạng tích”
1. A2 + 2AB + B2 = (A + B)2
2. A2 – 2AB + B2 = (A – B)2
3. A2 – B2 = (A – B)(A + B)
4. A3 + 3A2 B + 3AB2 + B3 = (A + B)3
5. A3 – 3A2 B + 3AB2 – B3 = (A – B)3
6. A3 + B3 = (A + B)(A2 – AB + B2)
7. A3 – B3 = (A – B)(A2 + AB + B2)
Ví dụ 4 ( Câu b bài 26-SBT) Phân tích đa thưc 4x2 - 25 thành nhân tử.
Đối với học sinh yếu kém thì các em hay bị nhầm lẫn không phân tích 4 =
2
2 mà làm luôn 4x 2 - 25 = (4x - 5)(4x + 5). Gv cần khắc sâu cho học sinh nhớ là
4x2 = (2x)2 làm đúng 4x2 – 25 = (2x)2 - 52=(2x - 5)(2x + 5).
6
Ví dụ 5: Phân tích đa thức (x + y)2 – (x – y)2 thành nhân tử. (BT- 28a)-SBT-tr6)
Gợi ý: Đa thức trên có dạng hằng đẳng thức nào ?
(x + y)2 – (x – y)2 = (x + y – x – y)(x + y + x – y) (thiếu dấu ngoặc)
= 0.(2x) = 0 (kết quả sai)
Sai lầm của học sinh ở đây là: Thực hiện thiếu dấu ngoặc
Lời giải đúng:
(x + y)2 – (x – y)2 = [(x + y) – (x – y)].[(x + y) + (x – y)]
= (x + y – x + y)(x + y + x – y)
Ví dụ 6: Phân tích đa thức x2- xy+ x-y thành nhân tử (Bài 47a-SGK-Trang 22)
Phương pháp chung:
Lựa chọn các hạng tử “thích hợp” để thành lập nhóm nhằm làm xuất hiện
một trong hai dạng sau hoặc là đặt nhân tử chung, hoặc là dùng hằng đẳng thức.
Thông thường ta dựa vào các mối quan hệ sau:
+ Quan hệ giữa các hệ số, giữa các biến của các hạng tử trong bài toán.
+ Thành lập nhóm dựa theo mối quan hệ đó, phải thoả mãn:
- Mỗi nhóm đều phân tích được.
- Sau khi phân tích đa thức thành nhân tử ở mỗi nhóm thì quá trình phân
tích thành nhân tử phải tiếp tục thực hiện được nữa.
7
- Nhóm làm xuất hiện nhân tử chung: Với VD6 ta có hai cách nhóm các hạng
tử
Cách 1: Nhóm: (x2 - xy) và (x - y).
Ta được: (x2 - xy) + (x - y) = x(x - y)+(x - y) = (x - y)(x + 1)
Cách 2: Nhóm: (x2 + x) và (-xy - y).
Ta được: (x2 + x) + (-xy - y) = (x2 + x) - (xy + y)
= x(x + 1) - y(x + 1) = (x + 1)(x - y)
Đối với bài toán này thì học sinh hay bị sai ở hai ý sau:
x2 – xy + x – y = (x2 – xy) + (x – y) (Sai dấu khi dùng ngoặc)
= x(x – y) + (x – y)
= (x – y)x (sai vì bỏ sót số 1)
- Nhóm nhằm xuất hiện phương pháp dùng hằng đẳng thức:
Ví dụ 7: Phân tích đa thức x2 + 4x – y2 + 4 thành nhân tử. (Bài 48a-SGK-tr22)
Giải:
2
2
x + 4x – y + 4
pháp: (Vận dụng và phát triển kỹ năng)
Ví dụ 9: Phân tích đa thức x3 – 2x2 + x thành nhân tử. (Bài 51a-SGK-tr24)
8
Gợi ý cho học sinh:
Xét từng phương pháp: - Đặt nhân tử chung ?
- Dùng hằng đẳng thức ?
- Nhóm nhiều hạng tử ?
3
2
2
Giải: x – 2x + x = x(x - 2x + 1) = x(x - 1)2
Bài toán này đã sử dụng hai phương pháp là đặt nhân tử chung và dùng
hằng đẳng thức đáng nhớ.
* Khi phân tích đa thức thành nhân tử học sinh cần lưu ý, các đa thức mà
các hạng tử đều có nhân tử chung thì phải dùng phương pháp đặt nhân tử trung
trước rồi mới xét đến các phương pháp khác sau.
Tương tự Phân tích đa thức x4 – 9x3 + x2 – 9x thành nhân tử.
Giải: x4 – 9x3 + x2 – 9x = x(x3 – 9x2 + x – 9)
= x[(x3 – 9x2 ) + (x – 9)]
= x[x2 (x – 9) + 1.(x – 9)]
= x(x – 9)(x2 + 1)
Phương pháp chung:
- Là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp nhóm nhiều hạng tử,
đặt nhân tử chung, dùng hằng đẳng thức. Vì vậy học sinh cần nhận xét bài toán
một cách cụ thể, mối quan hệ của các hạng tử và tìm hướng giải thích hợp.
- Ta thường xét từng phương pháp: + Đặt nhân tử chung ?
+ Dùng hằng đẳng thức ?
+ Nhóm nhiều hạng tử ?
thành hai hạng tử khác hoặc “ thêm và bớt cùng một hạng tử ” thích hợp rồi áp
dụng các phương pháp trên để giải. Xin giới thiệu thêm về hai phương pháp này,
để học sinh vận dụng rộng rãi trong thực hành giải toán.
Củng cố các phương pháp cơ bản
Để học sinh nắm vững các phương pháp phân tích một cách tổng quát giáo
viên yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm (4 học sinh) tóm tắt lại các phương
pháp cơ bản để phân tích đa thức thành nhân tử dưới dạng sơ đồ tư duy và cho
học sinh trình bày lại.
Sau đây là một ví dụ minh họa về cách tóm tắt các phương pháp phân tích
đa thức thành nhân tử.
10
2.3.2.5. Giới thiệu bốn phương pháp phân tích khác: (Nâng cao - phát triển
tư duy)
a. Phương pháp tách một hạng tử thành nhiều hạng tử:
Ví dụ 11: Phân tích đa thức A = 4x 2 – 8x + 3 thành nhân tử. (VD5 –Nâng cao và
một số chuyên đề toán 8 - tr17 - Bùi Văn Tuyên)
Gợi ý hai cách phân tích: (chú ý có nhiều cách phân tích)
Giải:
Cách 1: (Tách hạng tử 4) A = 4x2 – 8x + 3 = 4x2 - 8x + 4 - 1
= ( 2x - 2)2 - 12 = ( 2x- 2 -1)(2x -2 +1)
= (2x -3)(2x -1)
Cách 2: (Tách hạng tử -8x) A = 4x2 – 8x + 3= 4x2 - 2x - 6x + 3
= (4x2 - 2x) - ( 6x - 3)
= 2x(2x - 1) - 3(2x - 1)
= (2x - 1)(2x - 3)
*Ta nhận thấy với các phương pháp thông thường thì không thể phân tích
A thành nhân tử được vì A không có nhân tử chung, không có một hằng đẳng
= (x – 3)(–5x + 1)
Lưu ý: Đối với đa thức f(x) có bậc từ ba trở lên, để làm xuất hiện các hệ số tỉ
lệ, tuỳ theo đặc điểm của các hệ số mà ta có cách tách riêng cho hợp nhằm để
vận dụng phương pháp nhóm hoặc hằng đẳng thức hoặc đặt nhân tử chung.
Ví dụ 12: Phân tích đa thức sau ra thừa số : n 3 – 7n + 6 (Dành riêng học sinh
giỏi)
Giải: n3 – 7n + 6 = n3 – n – 6n + 6
= n(n2 – 1) – 6(n – 1)
= n(n – 1)(n + 1) – 6(n – 1)
= (n – 1)[n(n + 1) – 6]
= (n – 1)(n2 + n – 6)
= (n – 1)(n2 – 2n + 3n – 6)
= (n – 1)(n(n – 2) + 3(n – 2))
= (n – 1)(n – 2)(n + 3)
Ví dụ 13: Phân thức A = x3 + 5x2 + 3x - 9 thành nhân tử. (Dành riêng học sinh
giỏi)
Ta có cách tách như sau: A = x3 + 5x2 + 3x - 9 = x3 - x2 + 6x2 - 6x + 9x - 9
Giải:
3
A = x + 5x2 + 3x - 9 = x3 - x2 + 6x2 - 6x + 9x - 9 = x2(x-1) + 6x(x - 1) +9(x - 1)
= (x - 1)(x2 + 6x + 9) =(x - 1)(x + 3)2
b. Phương pháp thêm bớt cùng một hạng tử:
Phương pháp thêm và bớt cùng một hạng tử nhằm sử dụng phương pháp nhóm
để xuất hiện dạng đặt nhân tử chung hoặc dạng hằng đẳng thức.
Ví dụ 14: Phân tích đa thức A= 4x4 + y4 thành nhân tử.(VD 6 nâng cao và một
số chuyên đề toán 8-tr17-Bùi Văn Tuyên )
Ta có A= 4x4 + y4 = (2x)2 + (y2)2 thêm 4x2y2 và bớt 4x2y2 làm xuất hiện hằng
đẳng thức)
Giải:
A= 4x4 + y4 = (2x)2 + 4x2y2 + (y2)2 - 4x2y2 = (2x + y2 )2 – (2xy)2
tử.
Giải:
Đặt y= x2 + 2x + 8.
Ta có: A = y2 + 3xy + 2x2 = y2 + xy + 2xy + 2x2 = (y2 + xy) +(2xy + 2x2)
= y(y + x) + 2x(y + x) = (y + x)(y + 2x)
Suy ra: A= (x2 +2x +8 +x)( x2 +2x +8 +2x) = (x2 + 3x + 8)( x2 + 4x + 8)
= (x2 + 3x + 8)(x + 2)(x + 4)
Trong cách giải trên, nhờ cách biến đổi y = x2 + 2x + 8 ta đã đưa một đa thức
bậc 4 đối với x rất phức tạp trở thành một đa thức bậc 2 đối với y rất đơn giản,
nhờ đó phân tích thành nhân tử được dễ dàng.
Bài tập áp dụng: Phân tích đa thức thành nhân tử. (Nâng cao và một số chuyên
đề toán 8 - tr18 - 21 - Bùi Văn Tuyên)
Bài 1: A = (x2 - 3x - 1)2 - 12(x2 - 3x - 1) +27
Bài 2: B = x2 - 2xy + y2 + 3x - 3y - 4
Bài 3: C = (12x2 - 12xy + 3y2) - 10(2x - y) + 8
d. Phương pháp giảm dần số mũ của lũy thừa:
Ví dụ 17: Phân tích đa thức x5 + x4 + 1 thành nhân tử.(Bài 74a nâng cao và một
số chuyên đề toán 8-tr21-Bùi Văn Tuyên)
Cách 1: Thêm x3 và bớt x3 (làm xuất hiện hằng đẳng thức và đặt nhân tử
chung)
Giải: x5 + x4 + 1 = x5 + x4 + x3 – x3 + 1
= (x5 + x4 + x3 )+ (1 – x3 )
= x3(x2 + x + 1)+ (1 – x )(x2 + x + 1)
= (x2 + x + 1)(x3 – x + 1 )
Cách 2: Thêm x3, x2, x và bớt x3, x2, x (làm xuất hiện đặt nhân tử chung)
Giải: x5 + x4 + 1 = x5 + x4 + x3 – x3 + x2 – x2 + x – x + 1
= (x5 + x4 + x3) + (– x3 – x2 – x ) + (x2 + x + 1)
= x3(x2 + x + 1) – x(x2 + x + 1) + (x2 + x + 1)
= (x2 + x + 1)(x3 – x + 1 )
Chú ý: Phương pháp này chỉ áp dụng được cho các đa thức có dạng x4 + x2 + 1,
phương pháp nhóm hoặc dùng phương pháp hằng đẳng thức
Nếu ở bước 1, đã sử dụng phương pháp nhóm các hạng tử thì bước tiếp
theo đối với các biểu thức đã nhóm thường sử dụng phương pháp đặt nhân tử
chung hoặc dùng phương pháp hằng đẳng thức
Nếu ở bước 1, đã sử dụng phương pháp dùng hằng đẳng thức thì bước
tiếp theo của bài toán thường sử dụng phương pháp đặt nhân tử chung hoặc
dùng hằng đẳng thức
Chú ý:
+ Phương pháp đặt nhân tử chung không thể sử dụng liên tiếp nhau ở hai
bước liền
+ Phương pháp nhóm không thể sử dụng liên tiếp nhau ở hai bước liền
+ Phương pháp dùng hằng đẳng thức có thể sử dụng liên tiếp nhau ở hai
bước liền
+ Trong phương pháp đặt nhân tử chung học sinh thường hay bỏ sót hạng
tử
+ Trong phương pháp nhóm học sinh thường đặt dấu sai
Vì vậy, giáo viên nhắc nhở học sinh cẩn thận trong khi thực hiện các phép
biến đổi, cách đặt nhân tử chung, cách nhóm các hạng tử, sau mỗi bước giải phải
có sự kiểm tra. Phải có sự đánh giá bài toán chính xác theo một lộ trình nhất
định, từ đó lựa chọn và sử dụng các phương pháp phân tích cho phù hợp.
14
Xây dựng học sinh thói quen học tập, biết quan sát, nhận dạng bài toán,
nhận xét đánh giá bài toán theo quy trình nhất định, biết lựa chọn phương pháp
thích hợp vận dụng vào từng bài toán, sử dụng thành thạo kỹ năng giải toán
trong thực hành, rèn luyện khả năng tự học, tự tìm tòi sáng tạo. Khuyến khích
học sinh tham gia học tổ, nhóm, học sáng tạo, tìm những cách giải hay, cách giải
khác.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
HS
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Kết quả áp dụng giải pháp (lần 1)
192
152
79,2%
Nhận xét: Học sinh đã hệ thống, nắm chắc kiến thức cơ bản về các hằng
đẳng thức đáng nhớ, quy tắc dấu, quy tắc dấu ngoặc vận dụng khá tốt các
phương pháp phân tích đa thức thành nhân tử trong giải toán, biết nhận xét đánh
giá bài toán trong các trường hợp, trình bày khá hợp lý.
*Tóm lại: Từ thực tế giảng dạy khi áp dụng phương pháp này tôi nhận
thấy học sinh nắm vững kiến thức hơn, hiểu rõ các cách giải toán ở dạng bài tập
này. Kinh nghiệm này đã giúp học sinh trung bình, học sinh yếu nắm vững chắc
về cách phân tích đa thức thành nhân tử trong chương trình đã học, được học và
rèn luyện kĩ năng thực hành theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức ở
những mức độ khác nhau thông qua một chuỗi bài tập. Bên cạnh đó còn giúp
cho học sinh khá giỏi có điều kiện tìm hiểu thêm một số phương pháp giải khác,
các dạng toán khác nâng cao hơn, nhằm phát huy tài năng toán học, phát huy
tính tự học, tìm tòi, sáng tạo của học sinh trong học toán.
15
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1.Kết luận:
Qua công tác giảng dạy ở trường THCS Trần Phú tôi thấy rằng đa số các
em khi học phân tích đa thức thành nhân tử cac em còn lúng túng, chưa có kỹ
năng làm bài. Chính vì vậy việc tạo điều kiện cho học sinh môi trường học tập,
tìm tòi, nghiên cứu sẽ gây cho học sinh sự đam mê đối với môn học, từ đó giúp
liên hệ và nghỉ đến để tìm hướng giải hợp lý như đã đề cập, giúp học sinh nắm
vững chắc hơn về các dạng toán và được rèn luyện về những kỹ năng phân tích
một cách tường minh trong mỗi dạng bài tập để tìm hướng giải sau đó biết áp
dụng và phát triển nhanh trong các bài tập tổng hợp, kỹ năng vận dụng các
phương pháp phân tích đa thức thành nhân tử một cách đa dạng hơn trong giải
toán. Đồng thời tạo điều kiện để học sinh được phát triển tư duy một cách toàn
16
diện, gợi sự suy mê hứng thú học tập, tìm tòi sáng tạo, kích thích và khơi dậy
khả năng tự học của học sinh, chủ động trong học tập và trong học toán.
Nếu thực hiện tốt phương pháp trên trong quá trình giảng dạy và học tập
thì chất lượng học tập bộ môn của học sinh sẽ được nâng cao hơn, đào tạo được
nhiều học sinh khá giỏi, đồng thời tuyển chọn được nhiều học sinh giỏi cấp
trường, cấp huyện, tỉnh,....
3.2. Kiến nghị:
- Từ nhu cầu thực tế từ học sinh và lòng say mê, và các trăn trở trong quá
trình giảng dạy của giáo viên. Kiến thức toán thì rộng và phong phú, sức thì có
hạn, trên đây là kinh nghiệm nhỏ của tôi trong công tác giảng dạy bộ môn toán
trường THCS nói chung và khối 8 nói riêng. Vì vậy trong quá trình trình bày đề
tài của mình còn có nhiều thiếu sót, rất mong sự quan tâm và đóng góp của các
bạn đồng nghiệp để bản thân và đề tài có kết quả tốt hơn.
- Là người trực tiếp đứng lớp dạy toán khối 8 nên tôi đưa ra một số kiến
nghị để SKKN này khi thực hiện có hiệu quả cao hơn
- Các nhà trường cần tăng cường tổ chức các cuộc thi có lồng ghép các
nội dung toán học để các em có hứng thú hơn trong việc lĩnh hội kiến thức một
cách tự nhiên. Tổ chức giao lưu toán học với các khối học để giúp các em giải
đáp các thắc mắc trong quá trình học tập ở lớp và ở nhà. Thành lập nhóm toán
học trong nhà trường.
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Ngô Thị Loan
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường THCS Trần Phú – Thành phố Thanh Hóa
TT
Tên đề tài SKKN
1.
Ứng dụng định lý Pitago vào
thực hành giải toán 8 - 9
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Cấp huyện
B
Năm học