Sử dụng hình ảnh trực quan và biện pháp so sánh để dạy tốt văn bản truyện kiều của nguyễn du cho học sinh lớp 9 ở trường THCS hải lĩnh - Pdf 43

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Ngữ văn là một môn khoa học, đòi hỏi người dạy, người học phải say mê, suy
ngẫm, hào hứng khi tiếp cận thì mới có thể hiểu và làm rõ được vấn đề. Dạy Ngữ văn,
học Ngữ văn cũng là một nghệ thuật, nó vốn không ưa sự lặp lại nhàm chán, cần đến
sự sáng tạo và linh hoạt về phương pháp. Điều 24, Luật giáo dục (do Quốc hội khóa X
thông qua) cũng đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học,
môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Đây là một định hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên
dạy bộ môn Ngữ văn.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy tình yêu văn học trong học sinh đã giảm
sút rất nhiều. Một phần, do Ngữ văn là môn học khó chiếm lĩnh, dù các em thích văn
nhưng không phải em nào cũng có khả năng tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng.
Trong khi đó, học sinh có năng khiếu học văn không nhiều. Phần khác, do xu hướng
phát triển của thời đại khoa học, nhu cầu xã hội, yêu cầu của nghề nghiệp, sự định
hướng của gia đình,… ảnh hưởng không nhỏ đến việc lựa chọn môn học của các em.
Những ngành nghề các em thích, sau này có thu nhập cao, khối dự thi thường là các
ban Khoa học tự nhiên. Chính vì vậy, việc xem thường, coi nhẹ, xa lánh môn văn là
điều dễ hiểu.
Song, với vai trò là một môn học quan trọng, có vị trí lớn trong trường học: cung
cấp tri thức, rèn luyện nhân cách,… cho học sinh, giúp các em tự hoàn thiện mình hơn
trong các mối quan hệ xã hội. Là môn học thuộc nhóm công cụ, môn Ngữ văn còn thể
hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác: học tốt môn văn sẽ có tác động, hỗ trợ tích
cực đến các môn học còn lại. Mặt khác, Ngữ văn là món ăn tinh thần của con người,
không chỉ dùng lý trí để “nhận” mà còn phải “cảm” bằng cả trái tim và tâm hồn. Vì thế,
người dạy không thể xem học sinh là “chiếc bình” cần đổ đầy kiến thức mà phải thấy
được các em là những “ngọn đuốc” cần được thắp sáng.
Vậy, làm thế nào để đánh thức khát vọng học văn vốn đang dần tắt nguội, để thắp
sáng những nội lực văn chương trong học sinh, để các em chủ động đến với văn và yêu

v cú nim yờu thớch, tớch cc ún hc cỏc on trớch ca tỏc phm nhng tit bi
sau mt cỏch tt nht.
1.3. i tng nghiờn cu:
ti nghiờn cu v ni dung v ngh thut trong tỏc phm Truyn Kiu ca
Nguyn Du. C th l nghiờn cu bi hc tỡm hiu chung v Truyn Kiu gm cú:
+ Túm tt tỏc phm
+ Giỏ tr ngh thut ca tỏc phm.
1.4. Phng phỏp nghiờn cu:
- Phng phỏp nghiờn cu xõy dng c s lý thuyt.
- Phng phỏp iu tra kho sỏt thc t, thu thp thụng tin.
- Phng phỏp thng kờ, x lý s liu.
- Phng phỏp phõn tớch.
- Phng phỏp so sỏnh.
2. NI DUNG SNG KIN KINH NGHIM
2.1. C s lớ lun ca sỏng kin kinh nghim.
Cựng vi s phỏt trin mnh m ca khoa hc k thut thỡ
phng phỏp lun ca khoa hc nhõn bn cng cú nhng i mi.
Vic i mi sỏch giỏo khoa ng vn THCS nhm giỳp hc sinh hỡnh
thnh, phỏt trin nng lc ch yu: nng lc hnh ng, nng lc
thớch ng, nng lc giao tip, nng lc t khng nh. ng thi
phỏt huy tớnh tớch cc, t giỏc, ch ng, sỏng to ca hc sinh. Vn
hc trung i l mt b phn ca vn hc vit. Nú giỳp hc sinh tỡm
v th gii ca ngi xa. Qua tỏc phm vn hc trung i giỳp cỏc
em bi dng nhõn cỏch, bit yờu quý cỏc giỏ tr phi vt th, yờu
quờ hng, yờu t nc, yờu gia ỡnh v t ho dõn tc, cú lý
2


tưởng XHCN, lòng khoan dung, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần
hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp không cam chịu nghèo nàn. Song,

tiếp thu, tiếp xúc với nhiều phương tiện nghe, nhìn: đài, báo, ti vi,
mạng intenet, truyện tranh, phim hoạt hình, phim trực tuyến online.
Các em không mÊy hứng thú khi ngồi nghe một giờ Ngữ văn. Đặc
biệt là văn học trung đại, lời tâm sự của người xưa gửi gắm vào các
tác phẩm tưởng nh xa vời, là không có thực.
Đứng trước tình hình hiện nay, là một giáo viên, nhiệm vụ của
chúng ta là phải giúp học sinh có được hứng thú trong giờ học văn,
giúp các em đồng cảm với nhân vật, với tác giả, từ đó cảm thông và
yêu quý họ. Xây dựng hứng thú, thái độ nghiêm túc, khoa học trong
việc học văn; có ý thức và biết cách ứng xử trong gia ®×nh, trong
3


trng hc v ngoi xó hi mt cỏch cú vn húa; khinh ghột nhng
cỏi xu xa, c ỏc, gi di phản ỏnh trong cỏc tỏc phm vn hc.
ng thi giỳp cỏc em gi gỡn c nn vn húa dõn tc m ngi
ngh s ó gi gm li qua nhiu th h. Giỏo viờn cn dn dt hc
sinh nm c cỏc hỡnh thc ngh thut trong vn hc trung i,
c bit l cỏc hỡnh thc ngh thut trong Truyn Kiu ca Nguyn
Du.
Trong chng trỡnh sỏch giỏo khoa ng vn 9 hin nay, Truyn
Kiu ca Nguyn Du cú mt v trớ khụng nh. Cú mt bi ginh riờng
cho vic gii thiu tỏc gi, túm tt tỏc phm, nờu giỏ tr tỏc phm v
5 on trớch. Qua thc t ging dy v tham kho cỏc ý kin v
Truyn Kiu, tụi thy: khi tỡm hiu Truyn Kiu cú giỏo viờn thiờn
v lý thuyt, nng v thuyt trỡnh mang tớnh cht gii thiu tỏc
phm v ch cho hc sinh c hoc k túm tt tỏc phm theo sỏch
giỏo khoa; cú giỏo viờn thiờn v chỳ trng cỏc giỏ tr ni dung, cũn
vic tỡm hiu giỏ tr ngh thut thỡ vn cha thc s cho õy l mt
vn quan trng. Do ú, hc sinh cm thy choỏng ngp trc

30
0
0
3
10.0 12 40.0 15 50.0 15 50.0
ng trc thc trng ú, l giỏo viờn trc tip ging dy tụi khụng khi bn
khon, trn tr, tin hnh xỏc nh gii phỏp v t chc thc hin.
2.3. Cỏc gii phỏp ó s dng gii quyt vn .
2.3.1. Gii phỏp:
- Sử dụng hình ảnh trực quan khi dạy tác phẩm Truyện Kiều.
- So sánh Truyện Kiều ca Nguyn Du với bản gốc Kim Vân Kiều
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.
2.3.2. T chc thc hin.
2.3.2.1. Sử dụng hình ảnh trực quan:
hc sinh cú th nm ct truyn mt cỏch sõu sc, tụi su
tm v vn dng vo bi hc nhng tranh nh minh ha cho cỏc
4


tỡnh tit, tỡnh hung xoay quanh nhõn vt Thỳy Kiu nhm giỳp cỏc
em túm tt tỏc phm c tt hn.
Tụi tin hnh tỡm hiu cỏc th phỏp ngh thut c Nguyn
Du s dng qua vic phõn tớch ti nng miờu t ngoi hỡnh khc
ha tớnh cỏch v s phn nhõn vt; Kho sỏt phõn tớch cỏc bc tranh
ngoi cnh v bc tranh tõm cnh qua cỏc khớa cnh: cnh vt,
ngoi hỡnh, hnh ng, ngụn ng, dỏng iu, c ch, ni tõm
nhng nhõn vt tiờu biu. Dùng tranh để mô phỏng, minh họa kiến
thức giúp học sinh dễ nhớ và hình dung ra nội dung bài học một
cách dễ dàng hơn. Từ đó có những rung động và cảm nhận về các
đoạn trích đó sâu sắc hơn.

12


13


14


15


Phần III. Đoàn tụ:

2.3.2.2. Biện pháp so sánh.
Để làm nổi bật sự sáng tạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều,
khi dạy học đến nội dung “Giá trị của Truyện Kiều” tôi đã tiến hành
biện pháp so sánh bằng phương pháp tích hợp: bút pháp miêu tả,
khắc họa các nhân vật chính diện và phản diện; bút pháp miêu tả
thiên nhiên của Truyện Kiều so sánh với Kim Vân Kiều truyện - tác
phẩm văn học Trung Quốc mà Nguyễn Du đã dựa vào cốt truyện đó
để sáng tác Truyện Kiều như sau:
* Nguồn gốc Truyện Kiều.
- Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra được bản
gốc “Truyện Kiều” viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Du. Tuy nhiên, họ
đã tìm ra được rất nhiều bản dịch ở các thời điểm khác nhau của
“Truyện Kiều”. Tất cả các nhà nghiên cứu đều cho rằng Nguyễn Du
viết “Truyện Kiều” dựa trên cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của
Thanh Tâm Tài Nhân - một tác giả Trung Quốc sống ở thÕ kû XV.
- Từ một tác phẩm văn xuôi chữ Hán, viết theo kiểu tiểu thuyết

là nhờ cách xây dựng nhân vật mà do tác giả có vốn sống dồi dào tạo nên chất liệu kết
hợp với vốn kiến thức học rộng: dùng lối điểm nhãn để tinh lọc cổ họa, thi cổ. Do đó,
nhân vật chính diện hay phản diện đều chỉ bằng vài nét chấm phá đơn sơ đã trở thành
một nguyên khối, một cá tính, một con người thực:
Tú Bà, Mã Giám Sinh: Buôn thịt, bán người vì tiền mà mất lương tâm, nhân cách.
Hoạn Thư vì ghen tuông mà đày đọa Thúy Kiều.
Hồ Tôn Hiến vì danh vị cao sang mà nhân tâm hèn hạ.
Thúc Sinh lép vế nhưng vẫn là kẻ chung tình.
+ Giọng điệu khách quan nhưng lại ảnh hưởng đến người đọc, người nghe nên
tạo được cho tác phẩm góc độ thẩm mĩ riêng, một quan hệ mới. Đây cũng chính là
những yếu tố thi pháp văn xuôi sau này.
- Nguyễn Du đã có sự biến đổi một số tình tiết:

17


+ Nguyễn Du đã bỏ đi những chi tiết dài dòng, những đoạn miêu tả có tính chất
tự nhiên chủ nghĩa, nhiều khi thô bỉ, có hại với mĩ cảm người đọc và không nhằm
phục vụ chủ đề tác phẩm. Đồng thời nhà thơ thêm vào rất nhiều đoạn tả cảnh, tả tình
nhắm nêu rõ tính cách và tâm trạng của nhân vật. Dường như có hầu hết các cảnh
thiên nhiên mĩ lệ trong truyện Kiều :
Cỏ non xanh rợn chân trời,
Cành lê trắngđiểm một vài bông hoa.
Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.
Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.
Hay là những câu thơ ẩn chứa nỗi niềm của tác giả trước thực tại cuộc sống lúc
bấy giờ:
Đã đày vào kiếp phong trần

+ Và đây là một chi tiết sáng tạo khác nữa của Nguyễn Du: Trong Kim Vân
Kiều truyện, Thanh Tâm Tài Nhân đã kể cảnh Thuý Kiều báo oán như sau Hoạn Thư:
“Túm tóc Hoạn Thư, lôi ra lột hết áo quần, chỉ để cho một cái khố, tóc bị buộc lên
sàn nhà, hai tên cung nữ mỗi tên túm lấy một tay để lôi giăng ra, hai tên thì cầm roi
ngựa đứng trước và sau, một tên từ trên đánh xuống, một tên từ dưới đánh lên, đánh
như con đỉa bỏ trong thùng vôi, con lươn trong vạc nước nóng, luôn luôn giãy giụa
kêu trời, toàn thân chẳng còn một miếng da nào lành lặn”.
Nàng Kiều của Nguyễn Du thì không dã man như vậy. Kiều hạch tội Hoạn Thư,
sau khi nghe ả Hoạn trả lời khôn khéo, phải chăng, nàng đã “Truyền quân lệnh xuống
trướng tiền tha ngay”. Nàng Kiều của Nguyễn Du cũng biết uất hận như mọi con
ngưòi đau khổ bị chà đạp, nhưng nàng cũng biết khoan dung, xét thấu những điều
khuất khúc nơi kẻ tội đồ. Lòng khoan dung của Kiều chính là phẩm chất truyền thống
của con người Việt Nam.
- Ngoài ra, Nguyễn Du còn có những những sự thay đổi khác:
+ Có chi tiết ông đã để nàng Kiều phải hứng chịu những trận đòn ác liệt ở trước
cửa tri phủ Lâm tri, khi quan bảo nàng phải chọn lấy một trong hai điều: tra tấn hay là trở
lại lầu xanh. Kiều đã chịu sự tra tấn để xác nhận thêm ý muốn sống cuộc đời trong sạch,
và cái trận đòn “Ba câu chụm lại một nhành mẫu đơn” đã khiến “Đào hoen quyện má,
liễu tan tác mày” không hề xảy đến với Thuý Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân.
Như vậy, Nguyễn Du đã làm cho bọn quan lại càng xấu xa hơn và nàng Thuý
Kiều càng tốt đẹp hơn.
+ Thuý Kiều của Nguyễn Du càng đẹp đẽ hơn khi nàng đã dám hiên ngang
bênh vực Từ Hải trước mặt Hồ Tôn Hiến.
Trong khi Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân cam chịu phận mình thì Kiều của
Nguyễn du lại mạnh dạn đề cao khí thế anh hùng, đề cao sự nghịệp của Từ đối với nhân
vật Thuý Kiều, Nguyễn Du cũng đã lưu ý mọi chi tiết để đề cao vai trò nhân vật mình.
+ Thanh Tâm Tài Nhân chỉ để cho một viên tướng được phái đến Kiều. Viên
tướng này đã viện cớ mặc áo giáp mà không quy lạy trước nàng thì ở Nguyễn Du, số
tướng lãnh ấy đã được nâng lên mười vị, sẵn sang “Đặt gươm, cởi giáp trước sân khấu
đầu”. Và để cho xứng đáng với nàng, những người liên quan cũng được nâng cao. Từ

tác phẩm văn chương... Dù vậy, nhờ các biện pháp ấy mà tình hình học văn ở lớp tôi
d¹y đã được cải thiện rÊt nhiều: học sinh có hứng thú học tập, chất lượng được nâng
lên đáng kể. Mặt khác sau một thời gian thực hiện bước đổi mới như trên, qua bài
khảo sát giữa lớp thực nghiệm (9B) và lớp không thực nghiệm (9A) tôi thấy kết quả
đạt được đã cao hơn đáng kể, cụ thể:
Kết quả
Lớp Sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình Yếu - Kém TB trở lên
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9A
29
1
3.4
5
17.2 16 55.2
7
24.2 22 75.8
9B
30

mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.

Trần Thị Minh

Mục lục

Trang

1. Mở đầu

1

1.1. Lí do chọn đề tài.

1

1.2. Mục đích nghiên cứu.

2

1.3. Đối tượng nghiên cứu.

2

1.4. Phương pháp nghiên cứu

2

2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status