1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Hoá học là một môn khoa học tự nhiên, đòi hỏi học sinh cần phải có kỹ năng
tư duy và sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải các bài tập.
Phương pháp giải bài tập hóa học giữ vai trò quan trọng trong các phương pháp dạy
học của bộ môn. Trong quá trình giải bài tập, kiến thức được mở rộng, giáo viên có
điều kiện sửa sai được cho học sinh. Từ đó, các em được rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức đã học vào từng trường hợp cụ thể, mở rộng kiến thức hoá học vào
các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống hàng ngày.
Trong quá trình giảng dạy việc phân dạng và đưa ra các bài tập cụ thể cho
từng trường hợp là rất quan trọng, đặc biệt đối với bài tập dạng nhận biết lại càng
cần thiết hơn, bỡi bài tập loại này có nhiều dạng với các phương pháp giải rất đa
dạng. Do đó, việc đưa ra các bài tập phù hợp với từng dạng nhằm giúp các em học
sinh có một tư liệu học tập và không bị lúng túng trước các dạng bài tập này. Đồng
thời, cũng là một cẩm nang để các đồng nghiệp có thể sử dụng làm tư liệu trong
quá trình giảng dạy đưa nhận thức của học sinh ngày một nâng cao.
Thực tiễn giảng dạy ở Trường THCS Thiệu Chính tôi thấy, học sinh thường rất
lúng túng đối với các bài tập dạng nhận biết, sự đa dạng của loại bài nhận biết
thường đẩy học sinh vào bế tắc trong khi dạng bài tập này lại rất phổ biến trong hầu
hết các kỳ thi. Do đó việc phân loại và biết được phương pháp giải từng dạng của
bài tập nhận biết là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi học sinh. Qua dạng
bài tập nhận biết còn củng cố kiến thức về mặt lý thuyết mà học sinh đã được học.
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học bản thân cũng rất trăn trở với
việc nâng cao chất lượng dạy và học của bộ môn. Vì vậy, tôi đã lựa chọn sáng kiến
kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng phân dạng và giải bài tập nhận biết
các chất vô cơ để nâng cao chất lượng giảng dạy cho học sinh lớp 9 ở Trường
THCS Thiệu Chính, Thiệu Hóa" để chia sẻ cùng đồng nghiệp.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Chương trình hóa học THCS ngoài nhiệm vụ hình thành ở học sinh những
kiến thức hóa học cơ bản thì việc bồi dưỡng các kỹ năng, năng lực nhận thức cho
học sinh là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục,
đào tạo có viết "quán triệt nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực
tiễn..." [1]. Trong dạy học Hoá học đã khẳng định "không có tri thức thì sẽ không
có kỹ năng. Không có việc áp dụng tri thức sẽ không đạt được sự phát triển kỹ
năng. Ngược lại nếu chỉ có tri thức mà không có kỹ năng, không biết áp dụng tri
thức thì những kiến thức đó cũng trở thành vô dụng...” [2].
Thông qua việc giải bài tập hoá học giúp học sinh hình thành, rèn luyện củng
cố kỹ năng về Hoá học. Từ đó kiến thức lý thuyết sẽ được nắm vững thực sự nên có
thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành bài tập lý thuyết và thực hành.
Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy việc giải các bài tập nhận biết ở nhiều
học sinh còn rất mơ hồ, lúng túng và cho là khó không những đối với Trường
THCS Thiệu Chính nơi đang công tác nói riêng mà đó cũng là thực trạng chung của
các trường THCS hiện nay. Đa phần là do nhiều học sinh chưa nắm vững lý thuyết
hoặc kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức thực tế còn kém, nhưng phần lớn các
em chưa biết chọn lọc kiến thức đặc trưng của từng chất để nhận biết. Muốn làm
các bài tập nhận bết thành thạo các em phải dựa vào các phản ứng hóa học đặc
trưng để nhận biết, nghĩa là phản ứng đó phải là phản ứng gây ra các hiện tượng
bên ngoài mà giác quan ta có thể cảm nhận và cảm thụ được. Cụ thể là dùng mắt để
nhận biết hiện tượng hoà tan; kết tủa; mất màu; tạo màu hay đổi màu. Dùng mũi để
nhận biết các mùi vị đặc trưng như NH3 có mùi khai; SO2 có mùi sốc; H2S mùi
trứng thối ... Tuyệt đối không dùng phản ứng không đặc trưng. Vậy đòi hỏi học
sinh phải nắm vững lý thuyết về tính chất hoá học và biết phản ứng nào là đặc
trưng, từ đó vận dụng làm bài tập. Nhưng để nhớ được tính chất hoá học đặc trưng
của vô số chất thì quả là khó. Để khắc phục lối truyền thụ tri thức một chiều, lối
học thụ động, máy móc, cần phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, phương
pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại.
Từ thực tế giảng dạy, bằng hiệu quả đạt được nhất định trong năm học 2016
- 2017, tôi đã mạnh dạn lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm rèn
60
7
28
1
4,0
Tổn
47
2
4,2
7
14,9 28 59,6
9
19,1
1
2,2
g
Nguyên nhân cuả thực trạng trên là:
a) Về phía học sinh:
Bài tập nhận biết là dạng bài tập trừu tượng bắt buộc học sinh phải nhớ rõ
tính chất lý thuyết của từng chất cũng như PTHH đặc trưng của từng chất rồi sau đó
mới tiến hành nhận biết được các chất khác nhau dựa vào các tính chất hóa học đặc
trưng đó. Đặc biệt mỗi chất hóa vô cơ lại có nhiều tính chất khác nhau và việc xác
định tính chất nào là tính chất đặc trưng để phân biệt giữa chất này với chất kia
cũng là một vấn đề khó đối với học sinh.
Hơn nữa nhận biết hóa vô cơ với số lượng lớn các bài tập với nhiều dạng
khác nhau, mỗi dạng lại có rất nhiều phương pháp giải. Việc vận dụng phương pháp
nào vào giải từng dạng bài tập cho hiệu quả rất nhiều học sinh còn lúng túng.
Vì vậy đòi hỏi các em phải luyện tập nhiều lần thì mới hình thành kỹ năng
giải thành thạo được.
b) Về phía giáo viên:
* Bước 3: Cho thuốc thử vào mẫu, trình bày hiện tượng quan sát được (mô tả hiện
tượng) rút ra kết luận đã nhận được hoá chất nào.
* Bước 4: Viết phương trình phản ứng minh hoạ ( nếu có)
Ta thấy rằng bước 2 là quan trong nhất học sinh phải xác định được phải dùng
thuốc thử nào, cách làm nào để phân biệt được. Muốn vậy các em phải nắm rõ phản
ứng đặc trưng mà các em có thể tìm hiểu qua các bảng mà giáo viên cung cấp sau:
MỘT SỐ THUỐC THỬ DÀNH CHO HỢP CHẤT VÔ CƠ
BẢNG 1. TRẠNG THÁI, MÀU SẮC CỦA CÁC ĐƠN CHẤT VÀ HỢP CHẤT:
Cr(OH)2
Vàng
MnS
Hồng nhạt
K2Cr2O7
Đỏ da cam
MnO2
Màu đen
Zn
Trắng hơi xanh
H2S
Khí mùi trứng thối
Hg
Lỏng, bạc trắng
SO2
Khí không màu, mùi hắc
HgO
Vàng hoặc đỏ
SO3
Lỏng, không màu, sôi ở 45o
Mn
Trắng bạc
Rắn xanh thẫm
Cu2O
Rắn da cam hay đỏ AgCl
Kết tủa trắng
CuO
Rắn màu đen
AgBr
Kết tủa vàng nhạt
Cu(OH)2
Xanh
Ag3PO4 Vàng
2+
Muối Cu
Xanh lá mạ
Ag2S
Màu đen
FeCl3
Vàng nâu
K2MnO4 Màu lục thẫm
BẢNG 2.NHẬN BIẾT MỘT SỐ CHẤT KHÍ
Khí
Thuốc thử và hiện tượng
Giải thích
1.SO2
2.Cl2
3.N2
- Giấy tẩm dung dịch HCl: Có
khói trắng xuất hiện
Không màu
- Khí NO: Hóa nâu khi gặp O2
- Hòa tan kim loại hoặc làm quì
tím hóa đỏ trong nước khi sục
NO2 và O2 vào
- Làm quì tím ẩm hóa đỏ
- Dd Ca(OH)2 dư: bị vẩn đục
- Làm CuO (đen) thành Cu (đỏ)
Làm vẩn đục dung dịch PbCl2
- Mùi trứng ung
- Làm quì tím ẩm hóa đỏ
-Kết tủa đen với dd Cu(NO)3
- Tạo kết tủa vàng với HNO3 (l)
- Tạo bột màu vàng với SO2
- Làm mất màu dung dịch Br2
- dd KI: Làm xanh giấy tẩm hồ
tinh bột
- Cháy với ngọn lửa màu xanh
nhạt kèm theo tiếng nổ nhỏ.
- Chuyển CuO (đen) -> Cu (đỏ)
- Tạo kết tủa với dd BaCl2
- Làm quì tím ảm hóa đỏ
- Chất lỏng màu nâu đỏ
SO2 + Br2 + 2H2O " 2HBr + H2SO4
5SO2 + 2KMnO4 + 2H2O " 2H2SO4
+2MnSO4 +K2SO4
SO2 + 2H2S → 3S↓ + 2H2O
t
CuO + H2 →
Cu + H2O
SO3 + H2O + BaCl2 → BaSO4 + 2HCl
SO3 + H2O → H2SO4
5Cl2 +Br2 + 6H2O → 10HCl + 2HBrO3
o
- Bị nhạt màu bởi Cl2, SO2.
SO2 + 2H2O + Br2 → H2SO4 + 2HBr
t
14.O2 Làm Cu đỏ hoá đen
2Cu + O2 →
2CuO
15.
- Hơi nước làm cho CuSO4
CuSO4 + nH2O → CuSO4.nH2O (màu
H2O
(khan, màu trắng) -> màu xanh xanh)
16.HCl - Làm quì tím ẩm hóa đỏ
NH3 + HCl đặc → NH4Cl (khói trắng
(khí)
- Tạo khói trắng với NH3
tinh thể)
BẢNG 3. MỘT SỐ KIM LOẠI
Na, K,
+ H2O
→ tan + dd trong + H2
Ba
BẢNG 4. OXIT Ở THỂ RẮN
Na2O, + H2O
Tan , dung dịch làm xanh giấy quì
K2O,
Na2O + H2O -> 2NaOH
BaO
K2O + H2O -> 2KOH
BaO + H2O -> Ba(OH)2
CaO + H2O
→ tan, dd đục, CaO + H2O -> Ca(OH)2
+ dd Na2CO3
CaO + H2O + Na2CO3 -> CaCO3 ↓+2NaOH
P2O5 + H2O
Tan, làm đỏ quì tím; P2O5+3H2O ->2H3PO4
Al2O3 Tan trong cả axit và
Al2O3 + 6HCl -> 2AlCl3 + 3 H2O
kiềm
Al2O3 + NaOH -> 2NaAlO2 + H2O
CuO + dd HCl, HNO3, H2SO4 Tạo dd màu xanhCuO + 2HCl -> H2O+ CuCl2
Ag2O + dd HCl đun nóng
Ag2O + 2HCl -> H2O+ 2AgCl↓ trắng
MnO2 + dd HCl đun nóng
MnO2 +4HCl ->MnCl2+ 2H2O+ Cl2↑vàng lục
BẢNG 5. CÁC DUNG DỊCH MUỐI ( NHẬN BIẾT GỐC AXIT)
Cl
+ AgNO3
Ag+ + Cl- → AgCl ↓ trắng
- gốc Br- + Cl2
Cl2 + 2 Br- -> 2Cl- + Br2Error! Not a valid
link.
PO43- + 3Ag+ -> Ag3PO4 ↓ vàng
- NO3+ H2SO4 đặc + Cu
Khí màu nâu bay ra : NO2
Cu + 2NO3- + 4H+ -> Cu2+ + 2NO2 + 2H2O
SiO32+ dd axit mạnh
→ H2SiO3↓ trắng keo
- gốc
+ dd Ba(OH)2, Ca(OH)2 → BaCO3↓, CaCO3↓ trắng
AlO2+ dd axit dư
→ Al(OH)3↓ sau đó tan dần
BẢNG 6. NHẬN BIẾT KIM LOẠI TRONG MUỐI
Na+ + Đốt cháy, quan
→ Na+ cháy với ngọn lửa màu vàng
K+
sát màu ngọn lửa
→ K+ cháy với ngọn lửa màu tím
Rb+
→ Rb+ cháy với ngọn lửa màu đỏ huyết
Cs+
→ Cs+ cháy với ngọn lửa màu xanh da trời
2+
Ba
→ Ba2+ cháy với ngọn lửa màu lục (hơi vàng)
Ca2+
→ Ca2+ cháy với ngọn lủa màu đỏ da cam
Mg2+ Dd OHMg2+ + 2OH- -> Mg(OH)2 ↓ trắng keo
- Fe2+ Dd OHFe2+ + 2OH- -> Fe(OH)2 ↓ trắng xanh
+ dd thuốc tím
dd mất màu tím và hơi ngã sang màu vàng nhạt
trong H+
đó để nhận biết là: tính tan, trạng thái, màu sắc, mùi vị, t0 sôi, t0 nóng chảy... [3].
b) Các ví dụ cụ thể
- Phương pháp định tính
Ví dụ 1: Bằng phương pháp vật lý hãy trình bày cách nhận biết các khí sau đựng
trong các lọ riêng biệt: Cl2, H2, NH3, H2S.
Hướng dẫn giải:
Khí nào có màu vàng lục là Cl2. Các khí còn lại không màu là: H2, NH3 , H2S
mở nắp lấy tay phẩy nhẹ khí nào có mùi khai là NH 3; Khí nào có mùi trừng thối là
H2S; Khí còn lại không có mùi gì là H2.
- Phương pháp định lượng: HS phải dùng một số phương pháp như cân, đo, đong,
đếm ... để phân biệt các chất đó.
Ví dụ 1: Bằng phương pháp vật lý hãy trình bày 2 cách phân biệt 2 lọ chứa 2 chất
bột kim loại màu trắng bạc : Al và Fe
Hướng dẫn giải:
Cách 1: Dùng nam châm cho vào gần 2 lọ đựng 2 chất bột trên lọ nào bị nam châm
hút là Fe, lọ còn lại không có hiện tượng gì là Al
Cách 2: Cân cùng một thể tích 2 kim loại trên chất nào nhẹ hơn là nhôm (vì D=
2,7g/cm3 ) chất nào nặng hơn là Fe ( vì D = 7,856g/cm3)
Chú ý: Với phương pháp vật lý thường ít áp dụng tuy nhiên để giải được các bài tập
nhận biết bằng phương pháp vật lý đòi hỏi HS phải nhớ được màu sắc, trạng thái, mùi
vị, khối lượng riêng, niệt độ nóng chảy, tính tan của từng chất mới làm được.
2.3.4.2. Phương pháp hóa học
* Nhận biết các chất riêng biệt
DẠNG 1: Nhận biết bằng thuốc thử tự chọn
a) Phương pháp:
- Xác định loại chất, đưa ra dấu hiệu đặc trưng của từng chất và lựa chọn thuốc thử
thích hợp
- Trình bày cách nhận biết.
- Viết PTHH xảy ra ( nếu có)
b) Các ví dụ cụ thể:
Không có hiện tượng gì
Na2SO4
HCl, NaNO3, H2O, NaCl
+ Na2CO3
Hiện tượng sủi bọt
HCl
Không hiện tượng NaCl, NaNO3, H2O
+AgNO3
Không hiện tượng: NaNO3, H2O
↓trắng: NaCl
Đun nóng
Bay hơi hết: H2O
lắng đọng chất rắn: NaNO3
Phương trình:
Na2SO4 + BaCl2 -> BaSO4 + 2NaCl
2HCl + Na2CO3 -> 2NaCl + CO2 + H2O
NaCl + AgNO3 -> NaNO3 + AgCl
Ví dụ 3 : Nhận biết các khí sau chứa trong các lọ riêng biệt bằng phương pháp hóa
học : O2, N2, Cl2, NH3, H2 [5].
KL tan : Fe
Chú ý: Qua các ví dụ trên ta thấy tuy là sử dụng thuốc thử không giới hạn. Nhưng
trong một bài toán nhận biết HS nên chọn ít hóa chất làm thuốc thử và nên chọn
những thuốc thử phổ biến, một hóa chất dùng để thử có thể nhận biết được nhiều
chất, đặc biệt dùng hóa chất không phải viết PTHH càng tốt ( như Quỳ tím....). GV
có thể cho HS trình bày dưới dạng sơ đồ như vậy HS sẽ nhớ kiến thức lâu hơn.
c) Bài tập áp dụng:
Bài 1: Có 3 lọ không nhãn đựng các dung dịch muối sau: CuSO 4, AgNO3, NaCl.
Hãy trình bày phương pháp hóa học để nhận biết các dung dịch trên. Viết các
PTHH [6].
Bài 2: Có 3 mẫu phân không ghi nhãn là : KCl, NH 4NO3 và Ca(H2PO4)2. Hãy nhận
biết mỗi mẫu phân bón trên bằng phương pháp hóa học [6].
Bài 3: Hãy dùng phương pháp hóa học phân biệt 4 chất lỏng riêng biệt : HCl,
H2SO4, HNO3, H2O [7].
Bài 4: Có 5 lọ đựng riêng biệt các khí sau:
a) O2 , Cl2, HCl, SO2, O3.
b) N2, H2, CO2, Cl2, O2.
[8].
DẠNG 2: Nhận biết chỉ bằng thuốc thử quy định
a) Phương pháp
Đối với dạng này, nếu đề bài không yêu cầu sử dụng thuốc thử cho trước thì ta
chọn thuốc thử sao cho có thể phân biệt được nhiều chất nhất. Nếu đề bài yêu cầu
thuốc thử thì ta sử dụng thuốc thử đó trước.
Khi đã sử dụng hết lượng thuốc thử cho phép ta sử dụng chất vừa nhận được
hoặc sản phẩm của chất sau phản ứng nào đó làm thuốc thử để phân biệt các chất
còn lại.
b) Các ví dụ cụ thể:
BaCO3 + 2NaHCO3
Ba(HCO3)2 + Na2SO4
BaSO4 + 2NaHCO3
- Sục khí CO2 dư vào 2 kết tủa vừa tạo thành trong nước, kết tủa nào tan là BaCO 3
=> dd ban đầu là Na2CO3. Kết tủa nào không tan là BaSO4 => dd ban đầu là
Na2SO4. PTHH: BaCO3 + CO2 + H2O
Ba(HCO3)2
Ví dụ 3: Cho các oxit kim loại sau: K2O, Al2O3, CaO, MgO. Chỉ được dùng thêm
một hóa chất hãy nhận biết các oxit trên [4].
Hướng dẫn giải:
Lấy mỗi chất một ít làm thí nghiệm, đánh số thứ tự
Cho H2O vào các oxit kim loại tên. Mẫu nào tan có hiện tượng vẫn đục là CaO.
PTHH: CaO + H2O → Ca(OH)2
Mẫu nào tan là K2O: PTHH: 2K + 2H2O → 2KOH + H2
Mẫu không tan là MgO, Al2O3.
Dùng dd KOH vừa tạo ra ở trên lần lượt cho vào 2 mẫu không tan ở trên mẫu nào
tan ra là Al2O3 : PTHH: Al2O3 + 2KOH → 2KAlO2 + H2O
Mẫu còn lại không tan là MgO
Ví dụ 4: Chỉ dùng một hóa chất, nêu phương pháp nhận biết 4 mẫu kim loại sau:
Ba, Mg, Ag, Fe [8].
Hướng dẫn giải:
Lấy mỗi chất một ít làm mẫu thử, đánh số thứ tự
Cho dd H2SO4 vào các kim loại trên. Mẫu thử nào không có bọt khí thoát ra là Ag.
Mẫu nào có bọt khí thoát ra và có kết tủa trắng là Ba.
PTHH: Ba + 2H2O → Ba(OH)2 + H2
Ba(OH)2 + H2SO4 → BaSO4 + H2O
Các mẫu còn lại có khí H2 thoát ra và tạo muối FeSO4, MgSO4 là : Fe, Mg.
PTHH: Fe + H2SO4 → FeSO4 + H2
Mg + H2SO4 → MgSO4 + H2
Lọc bỏ kết tủa BaSO4 ở phản ứng trên thu được Ba(OH) 2. Lần lượt cho dd
Hướng dẫn giải
Lần lượt cho một mẫu thử tác dụng với hai mẫu còn lại ta có bảng sau:
Chất nhỏ
HCl
K2CO3
Ba(NO3)2
Mẩu thử
HCl
↑ CO2
K2CO3
↑ CO2
BaCO3↓
Ba(NO3)2
BaCO3↓
Dựa vào bẳng trên ta thấy có một mẫu thử đổ vào tất cả các mẫu thử còn lại thấy có
một kết tủa và một chất khí, mẫu thử đó là K2CO3 .
Mẫu nào đổ vào các mẫu còn lại có một khí, mẫu đó là HCl.
Mẫu nào đổ vào các mẫu còn lại có một chất kết tủa, mẫu đó là Ba(NO3)2
Các PTHH xảy ra:
2HCl + K2CO3 → 2KCl + H2O + CO2↑
K2CO3 + Ba(NO3)2 → 2KNO3 + BaCO3↓
Ví dụ 2: Không dùng thêm thuốc thử nào khác, hãy phân biệt các dung dịch:
MgCl2, NaOH, NH4Cl, BaCl2, H2SO4 [7].
Hướng dẫn giải:
+ Đánh số thứ tự 5 lọ dung dịch cần nhận biết
+ Lấy mỗi lọ dung dịch một ít ra ống nghiệm đã được đánh cùng số làm mẫu thử
+ Nhỏ 1 dung dịch vào mẫu thử của 4 dung dịch còn lại.
Sau khi hoàn tất 5 lần thí nghiệm ta được bảng sau đây:
−
−
−
−
−
−
−
−
BaSO4 ↓
NH3 ↑ khai
−
−
BaSO4 ↓
1 ↓ trắng +
1 ↓ trắng
1 ↑ khai
1 ↓ trắng 1 ↓ trắng
1 ↑ khai
Từ bảng trên ta thấy khi dùng 1 dung dịch nhỏ vào mẫu thử các dung dịch còn lại:
+ Nếu tạo được 1 ↓ trắng + 1 ↑ khai thì dung dịch nhỏ vào là NaOH. Mẫu thử tạo
được khí mùi khai bay ra là NH4Cl
+ Còn lại 3 dung dịch là MgCl2, BaCl2, và H2SO4 đều cho 1 lần ↓
+ Cho NaOH vào 3 dung dịch trên dung dịch nào tạo kết tủa là MgCl2.
+ Dùng kết tủa Mg(OH)2 ( là sản phẩm thu được khi nhỏ NaOH vào MgCl 2 cho vào
2 mẫu thử còn lại. Mẫu nào hoà tan được ↓ này là H2SO4.
Dung dịch còn lại là BaCl2
→ 2NaCl + Mg(OH)2
PTHH:
2Al + 2 H2O + 2 NaOH → 2NaAlO2 + 3H2
Al2O3 + 2NaOH → 2NaAlO2 + H2O
Hai mẫu còn lại lần lượt cho tác dụng với dd HCl. Mẫu nào tan có sủi bọt khí là Fe
và Fe2O3. Mẫu nào tan không có sủi bọt khí là Fe2O3 và FeO
PTHH:
Fe + 2HCl → FeCl2 + H2
FeO + 2HCl → FeCl2 + H2O
Fe2O3 + 6HCl → 2FeCl3 + 3H2O
Ví dụ 2: Làm thế nào để nhận biết sự có mặt của mỗi khí trong hỗn hợp gồm CO,
CO2, SO3 bằng phương pháp hóa học. Viết PTHH
Hướng dẫn giải
Dẫn hỗn hợp khí qua dung dịch BaCl2, nếu có kết tủa trắng thì nhận được SO3
SO3 + H2O + BaCl2 → 2HCl + BaSO4
Tiếp tục dẫn hai khí còn lại qua nước vôi trong dư, nếu vẫn đục thì nhận ra được
khí CO2 PTHH: CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 + H2O
Khí còn lại không hấp thụ đem dẫn qua CuO nung nóng thấy CuO từ mầu đen sang
t
mầu đỏ PTHH: CuO + CO
→ Cu + CO2
Hấp thụ sản phẩm bằng nước vôi trong dư, nếu vẫn đục thì đó là CO
Ví dụ 3: Dung dịch A chứa các ion: Na+ , SO42- , SO32-, CO32-. Bằng phản ứng hóa
học có thể nhận biết từng anion có trong dung dịch [10].
Hướng dẫn giải:
Cho A tác dụng với dd HCl được hỗn hợp khí và dung dịch B
SO32- + 2H+ → SO2 + H2O
CO32- + 2H+ → CO2 + H2O
Cho hỗn hợp khí lần lượt qua dd KMnO 4 và sau đó là dd Ca(OH) 2. SO2 làm mất
màu dd KMnO4 ( nhận biết được ion SO32-), CO2 làm dd Ca(OH)2 vẫn đục rồi trong
suốt ( nhận biết được ion CO32-) . DD B + BaCl2 → BaSO4 + 2Clchứng tỏ trong A có ion SO42-, còn lại là ion Na+.
9A
22
5
19,2 10
42,3 7
38,5 0
0
0
0
9B
25
2
8,0
5
20,0 17
68,0 1
4,0
0
0
Tổng 47
7
14,9 15
31,9 24
51,1 1
2,1
0
0
Từ kết quả trên so với kết quả ban đầu cho thấy: Số học sinh biết sử dụng và
thành thạo phân loại cũng như phương pháp giải từng loại của bài tập nhận biết hóa
vô cơ tăng lên rõ rệt.
ngắn gọn đỡ tốn thời gian.
+ Với bảng dấu hiệu và phương pháp thì có thể áp dụng một cách nhanh
chóng và nhẹ nhàng bài tập nhận biết. Bằng cách vạch ra bản đồ tư duy học sinh có
thể hình dung bài làm và nhớ rất lâu các bài đã gặp.
+ Dễ dàng nhận thấy rằng: Với một bài toán Hoá có thể có nhiều cách giải
khác nhau. Việc tìm ra cách giải tối ưu nhất giúp các em phát huy khả năng tư duy
sáng tạo. Đây cũng chính là nhiệm vụ của người thầy giáo trong quá trình giảng dạy.
* Bài học kinh nghiệm :
+ Giáo viên phải chuẩn bị thật kỹ nội dung cho mỗi dạng bài tập cần bồi
dưỡng cho HS, xây dựng được phương pháp giải các dạng bài toán đó.
+ Việc hình thành các kỹ năng giải các dạng bài toán nêu trong đề tài phải được
thực hiện theo hướng đảm bảo tính kế thừa và phát triển. Tôi thường bắt đầu từ một
bài tập mẫu, hướng dẫn phân tích đề bài để học sinh xác định hướng giải và tự giải,
từ đó các em có thể rút ra phương pháp chung để giải các bài toán cùng loại. Sau đó
tôi tổ chức cho HS giải bài tập tương tự mẫu; phát triển vượt mẫu và cuối cùng nêu
ra các bài tập tổng hợp. Cách làm này giúp cho giáo viên dễ dàng phát hiện sai lầm
trong nhận thức của học sinh, giúp học sinh hiểu lý thuyết sâu sắc.
+ Mỗi dạng bài toán tôi đều xây dựng phương pháp giải, nhằm giúp các em dễ
dàng nhận dạng và vận dụng các kiến thức, kỹ năng một cách chính xác; hạn chế
được những nhầm lẫn có thể xảy ra trong cách nghĩ và cách làm của HS. Sau mỗi
dạng tôi luôn chú trọng đến việc kiểm tra, đánh giá kết quả, sửa chữa rút kinh
nghiệm và nhấn mạnh những sai sót mà HS thường mắc phải.
+ Trong quá trình giảng dạy bộ môn luôn có sự liên hệ thực tế để kích thích sự
ham hiểu biết của học sinh.
- Đề xuất: Để nâng cao được kết qủa dạy và học trong nhà trường. Bản thân tôi xin
được có một số đề nghị lên ban lãnh đạo, phòng giáo dục đào tạo và cơ quan có
thẩm quyền như sau :
1. Phòng Giáo dục và Đào tạo nên đưa về trường những sáng kiến kinh nghiệm
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
2. Giải quyết vấn đề
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Thực trạng
Kết quả của thực trạng
Nguyên nhân của thực trạng
2. 3. Những giải pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1. Hệ thống phân loại bài nhận biết
2.3.2. Nguyên tắc và phương pháp
2.3.3. Bảng một số thuốc thử dành cho hợp chất vô cơ
2.3.4. Các giải pháp cụ thể
2 3.4.1. Phương pháp vật lý
2.3.4.2. Phương pháp hóa học
2.4. Hiệu quả của đề tài (kết quả nghiên cứu đề tài)
3. Kết quả đạt được và đề xuất kiến nghị
- Kết luận
- Đề xuất
Trang
1-2
1
1
1
2
2
3