MỤC LỤC
Nội dung
1. Đặt vấn đề
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
2. Giải quyết vấn đề
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Thực trạng
Kết quả của thực trạng
Nguyên nhân của thực trạng
2. 3. Những giải pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1. Hệ thống phân loại bài nhận biết
2.3.2. Nguyên tắc và phương pháp
2.3.3. Bảng một số thuốc thử dành cho hợp chất vô cơ
2.3.4. Các giải pháp cụ thể
2 3.4.1. Phương pháp vật lý
2.3.4.2. Phương pháp hóa học
2.4. Hiệu quả của đề tài (kết quả nghiên cứu đề tài)
3. Kết quả đạt được và đề xuất kiến nghị
- Kết luận
- Đề xuất
Trang
1-2
1
1
1
kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào từng trường hợp cụ thể, mở rộng kiến
thức hoá học vào các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống hàng ngày.
Trong quá trình giảng dạy việc phân dạng và đưa ra các bài tập cụ thể cho
từng trường hợp là rất quan trọng, đặc biệt đối với bài tập dạng nhận biết lại càng
cần thiết hơn, bỡi bài tập loại này có nhiều dạng với các phương pháp giải rất đa
dạng. Do đó, việc đưa ra các bài tập phù hợp với từng dạng nhằm giúp các em
học sinh có một tư liệu học tập và không bị lúng túng trước các dạng bài tập này.
Đồng thời, cũng là một cẩm nang để các đồng nghiệp có thể sử dụng làm tư liệu
trong quá trình giảng dạy đưa nhận thức của học sinh ngày một nâng cao.
Thực tiễn giảng dạy ở Trường THCS tôi thấy, học sinh thường rất lúng túng
đối với các bài tập dạng nhận biết, sự đa dạng của loại bài nhận biết thường đẩy
học sinh vào bế tắc trong khi dạng bài tập này lại rất phổ biến trong hầu hết các
kỳ thi. Do đó việc phân loại và biết được phương pháp giải từng dạng của bài tập
nhận biết là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi học sinh. Qua dạng bài
tập nhận biết còn củng cố kiến thức về mặt lý thuyết mà học sinh đã được học.
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học bản thân cũng rất trăn trở với
việc nâng cao chất lượng dạy và học của bộ môn. Vì vậy, tôi đã lựa chọn sáng
kiến kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng phân dạng và giải bài tập
nhận biết các chất vô cơ để nâng cao chất lượng giảng dạy cho học sinh lớp 9 ở
Trường THCS Lê Đình Kiên" để chia sẻ cùng đồng nghiệp.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Chương trình hóa học THCS ngoài nhiệm vụ hình thành ở học sinh những
kiến thức hóa học cơ bản thì việc bồi dưỡng các kỹ năng, năng lực nhận thức cho
học sinh là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng.
Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ đó và dựa vào kinh nghiệm giảng dạy Hóa
học ở trường THCS tôi muốn đưa ra cách phân loại và phương pháp giải bài nhận
biết các chất vô cơ giúp học sinh có thể vận dụng để giải từng bài tập cụ thể. Từ
đó học sinh sẽ yêu thích bộ môn Hóa học hơn và nâng cao chất lượng bộ môn
Hóa của Trường THCS tôi đang trực tiếp giảng dạy.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
số
HS
22
25
47
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
0
1
0
4,0
2
4,2
7
14,9
28
59,6
9
19,1
1
2,2
Nguyên nhân cuả thực trạng trên là:
a) Về phía học sinh:
Bài tập nhận biết là dạng bài tập trừu tượng bắt buộc học sinh phải nhớ rõ
tính chất lý thuyết của từng chất cũng như PTHH đặc trưng của từng chất rồi sau
dấu hiệu rõ rệt. Trừ trường hợp đặc biệt, thông thường muốn nhận biết n hoá chất
cần phải tiến hành (n – 1) thí nghiệm.
- Tất cả các chất được lựa chọn dùng để nhận biết các hoá chất theo yêu cầu của
đề bài, đều được coi là thuốc thử.
2.3.3. Phương pháp trình bày một lời giải về nhận biết
* Bước 1: Lấy mẫu thử các chất nhận biết vào các ống nghiệm (đánh số thứ tự)
* Bước 2: Chọn thuốc thử (tuỳ thuộc yêu cầu đề bài yêu cầu: Thuốc thử tuỳ chọn,
hay hạn chế, hay không dùng thuốc thử bên ngoài, ...).
* Bước 3: Cho thuốc thử vào mẫu, trình bày hiện tượng quan sát được (mô tả
hiện tượng) rút ra kết luận đã nhận được hoá chất nào.
* Bước 4: Viết phương trình phản ứng minh hoạ ( nếu có)
Ta thấy rằng bước 2 là quan trong nhất học sinh phải xác định được phải dùng
thuốc thử nào, cách làm nào để phân biệt được. Muốn vậy các em phải nắm rõ
phản ứng đặc trưng mà các em có thể tìm hiểu qua các bảng mà giáo viên cung
cấp sau:
MỘT SỐ THUỐC THỬ DÀNH CHO HỢP CHẤT VÔ CƠ
BẢNG 1. TRẠNG THÁI, MÀU SẮC CỦA CÁC ĐƠN CHẤT VÀ HỢP CHẤT:
Cr(OH)2
K2Cr2O7
Zn
Hg
HgO
Mn
MnO
HgS
AgI
CuS, FeS, NiS,
C
S
Cu
Cr2O3
AgCl
Hồng nhạt
Màu đen
Khí mùi trứng thối
Khí không màu, mùi hắc
không màu, sôi ở 45o
Lỏng nâu đỏ hay vàng nâu
Tím, rắn, có thăng hoa
Trắng, xám
Rắn đen
Nâu đỏ
Rắn trắng xanh
Rắn màu nâu đỏ
Rắn xanh thẫm
Kết tủa trắng
7
CuO
Cu(OH)2
Muối Cu2+
FeCl3
Khí
1.SO2
2.Cl2
3.N2
+2MnSO4 +K2SO4
- Dd I2: Nhạt màu vàng của I2
SO2 + 2H2S → 3S↓ + 2H2O
- Dung dịch Ca(OH)2 dư: Làm SO2 + I2 + 2H2O → H2SO4 + 2HI
cho nước vôi trong bị vẩn đục
SO2 + Ca(OH)2 → CaSO3↓ + H2O
- Màu vàng lục, mùi sốc
Cl2 + H2O → HCl + HClO ( tẩy màu)
- Làm quì tím ẩm mất màu
Cl2 + 2KI → 2KCl + I2
- Dung dịch KI
I2 làm xanh giấy tẩm hồ tinh bột
- Làm mất màu dung dịch brom 2Cl2 +Br2 + 6H2O → 2HBrO3 + 10HCl
Que diêm đang cháy dở: que
Nitơ không duy trì sự cháy
diêm tắt
- DD phenolphtalein: từ không
màu thành màu tím hồng
- Quỳ tím: Làm xanh quỳ tím
NH3 + HCl → NH4Cl (tinh thể muối)
- Giấy tẩm dung dịch HCl: Có
2NH3 + 3CuO → 3Cu + N2 + 3H2O
khói trắng xuất hiện
4NH3 + Cu(OH)2 →[Cu(NH3)4](OH)2
Không màu
- Khí NO: Hóa nâu khi gặp O2
2NO + O2 → 2NO2 ↑ (màu nâu)
- Hòa tan kim loại hoặc làm quì 2NO2 + H2O + O2 → 2HNO3
tím hóa đỏ trong nước khi sục
8HNO3 + 3Cu → 3Cu(NO3)3 + 2NO
15.
H2O
16.HC
l
(khí)
- Làm quì tím ảm hóa đỏ
- Chất lỏng màu nâu đỏ
- Bị nhạt màu bởi Cl2, SO2.
Làm Cu đỏ hoá đen
- Hơi nước làm cho CuSO4
(khan, màu trắng) → màu xanh
- Làm quì tím ẩm hóa đỏ
- Tạo khói trắng với NH3
SO3 + H2O → H2SO4
5Cl2 +Br2 + 6H2O → 10HCl + 2HBrO3
SO2 + 2H2O + Br2 → H2SO4 + 2HBr
2Cu + O2 2CuO
CuSO4 + nH2O → CuSO4.nH2O (màu
xanh)
NH3 + HCl đặc → NH4Cl (khói trắng
tinh thể)
BẢNG 3. MỘT SỐ KIM LOẠI
Na, K,
+ H2O
→ tan + dd trong + H2
Ba
+ Đốt cháy, quan sát
Na2O, + H2O
Tan , dung dịch làm xanh giấy quì
K2O,
Na2O + H2O 2NaOH
BaO
K2O + H2O 2KOH
BaO + H2O Ba(OH)2
CaO + H2O
→ tan, dd đục, CaO + H2O Ca(OH)2
CaO + H2O + Na2CO3 CaCO3 ↓+2NaOH
+ dd Na2CO3
P2O5 + H2O
Tan, làm đỏ quì tím; P2O5+3H2O ->2H3PO4
Al2O3 Tan trong cả axit và
Al2O3 + 6HCl 2AlCl3 + 3 H2O
kiềm
Al2O3 + NaOH 2NaAlO2 + H2O
CuO + dd HCl, HNO3, H2SO4 Tạo dd màu xanhCuO + 2HCl -> H2O+ CuCl2
Ag2O + dd HCl đun nóng
Ag2O + 2HCl H2O+ 2AgCl↓ trắng
MnO2 + dd HCl đun nóng
MnO2 +4HCl MnCl2+ 2H2O+ Cl2↑vàng lục
BẢNG 5. CÁC DUNG DỊCH MUỐI ( NHẬN BIẾT GỐC AXIT)
BẢNG 6. NHẬN BIẾT KIM LOẠI TRONG MUỐI
2.3.4. Các giải pháp cụ thể cho từng phương pháp
9
Trong quá trình giảng dạy bài tập hoá học cho HS tôi luôn tập hợp các
dạng bài tập từ dễ đến khó từ vận dụng đơn giản đến vận dụng kiến thức tổng hợp
Chú ý: Với phương pháp vật lý thường ít áp dụng tuy nhiên để giải được các bài tập
nhận biết bằng phương pháp vật lý đòi hỏi HS phải nhớ được màu sắc, trạng thái,
mùi vị, khối lượng riêng, niệt độ nóng chảy, tính tan của từng chất mới làm được.
2.3.4.2. Phương pháp hóa học
* Nhận biết các chất riêng biệt
DẠNG 1: Nhận biết bằng thuốc thử tự chọn
a) Phương pháp:
- Xác định loại chất, đưa ra dấu hiệu đặc trưng của từng chất và lựa chọn thuốc
thử thích hợp
- Trình bày cách nhận biết.
- Viết PTHH xảy ra ( nếu có)
b) Các ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: Trình bày phương pháp hóa học nhận biết 4 chất bột màu trắng là CaO,
Na2O, MgO và P2O5.
Hướng dẫn giải:
+ Bước 1: Lấy mỗi chất một ít làm mẫu thử
+ Bước 2: Cho cả 4 mẫu hoà tan vào nước
Thấy mẫu nào không tan là: MgO, mẫu nào ít tan tạo dd đục là CaO
CaO + H2O 2Ca(OH)2
Na2O + H2O 2NaOH
P2O5 + 3 H2O 2 H3PO4
Cho quỳ tím vào 2 dd trong suốt thấy quỳ tím hoá xanh là NaOH, hoá đỏ là
H3PO4
Khi học sinh đã biết các bước làm thì chỉ cần trình bày qua sơ đồ :
( CaO, Na2O, MgO, P2O5)
+ H2 O
Không tan
tan
MgO
nên chọn những thuốc thử phổ biến, một hóa chất dùng để thử có thể nhận biết
được nhiều chất, đặc biệt dùng hóa chất không phải viết PTHH càng tốt ( như
Quỳ tím....). GV có thể cho HS trình bày dưới dạng sơ đồ như vậy HS sẽ nhớ kiến
thức lâu hơn.
c) Bài tập áp dụng:
Bài 1: Có 3 lọ không nhãn đựng các dung dịch muối sau: CuSO 4, AgNO3, NaCl.
Hãy trình bày phương pháp hóa học để nhận biết các dung dịch trên. Viết các
PTHH.
Bài 2: Có 5 lọ đựng riêng biệt các khí sau:
a) O2 , Cl2, HCl, SO2, O3.
b) N2, H2, CO2, Cl2, O2.
DẠNG 2: Nhận biết chỉ bằng thuốc thử quy định
12
a) Phương pháp
Đối với dạng này, nếu đề bài không yêu cầu sử dụng thuốc thử cho trước thì
ta chọn thuốc thử sao cho có thể phân biệt được nhiều chất nhất. Nếu đề bài yêu
cầu thuốc thử thì ta sử dụng thuốc thử đó trước.
Khi đã sử dụng hết lượng thuốc thử cho phép ta sử dụng chất vừa nhận được
hoặc sản phẩm của chất sau phản ứng nào đó làm thuốc thử để phân biệt các
chất còn lại.
b) Các ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: Nhận biết các dung dịch sau chỉ bằng quỳ tím:NaOH, H 2SO4, BaCl2,
NaCl
Sơ đồ nhận biết:
NaOH, H2SO4, BaCl2, NaCl
+ Quỳ tím
Hóa đỏ là H2SO4
là Na2SO4. PTHH: BaCO3 + CO2 + H2O Ba(HCO3)2
Ví dụ 3: Cho các oxit kim loại sau: K 2O, Al2O3, CaO, MgO. Chỉ được dùng thêm
một hóa chất hãy nhận biết các oxit trên.
Hướng dẫn giải:
Lấy mỗi chất một ít làm thí nghiệm, đánh số thứ tự
Cho H2O vào các oxit kim loại tên. Mẫu nào tan có hiện tượng vẫn đục là CaO.
PTHH: CaO + H2O Ca(OH)2
Mẫu nào tan là K2O: PTHH: K2O + H2O 2KOH
Mẫu không tan là MgO, Al2O3.
Dùng dd KOH vừa tạo ra ở trên lần lượt cho vào 2 mẫu không tan ở trên mẫu nào
tan ra là Al2O3 : PTHH: Al2O3 + 2KOH 2KAlO2 + H2O
Mẫu còn lại không tan là MgO
c) Bài tập vận dụng:
Bài 1: Có 4 lọ đựng 4 dung dịch không màu: NaCl, Ba(OH) 2, NaOH và Na2SO4.
Chỉ dùng quỳ tím, làm thế nào nhận biết dung dịch dựng trong mỗi lọ bằng
phương pháp hóa học? Viết PTHH.
Bài 2: Nhận biết các chất sau chỉ bằng quỳ tím: Na 2SO4, NaOH, BaCl2, HCl,
AgNO3, MgCl2.
Bài 3. Có 5 chất rắn: BaCl2, Na2SO4, CaCO3, Na2CO3, Na2SO4.2H2O đựng trong
năm lọ riêng biệt. Hãy tự chọn 2 chất để làm thuốc thử để nhận biết các chất rắn
trong mỗi lọ. (Trích đề thi học sinh giỏi Tỉnh Thanh Hóa 2006-2007)
DẠNG 3: Nhận biết không dùng bất kỳ hóa chất nào khác
a) Phương pháp
Với dạng bài này để phân biệt thì bắt buộc phải lấy lần lượt từng hoá chất trong
đề bài cho phản ứng với nhau từng đôi một.
- Kẻ bảng phản ứng và dựa vào bảng để xác định những chất đã nhận biết được
- Trong trường hợp kẻ bảng không phân biệt được hết các chất thì ta dùng chất
đã nhận biết được hoặc sản phẩm của chất đó sau phản ứng nào đó làm thuốc
thử
Ngoài ra ta còn có thể đun nóng các chất nếu các chất đó phân huỷ để nhận biết
K2CO3 + Ba(NO3)2 2KNO3 + BaCO3↓
Ví dụ 2: Không dùng thêm thuốc thử nào khác, hãy phân biệt các dung dịch:
MgCl2, NaOH, NH4Cl, BaCl2, H2SO4 [7].
Hướng dẫn giải:
+ Đánh số thứ tự 5 lọ dung dịch cần nhận biết
+ Lấy mỗi lọ dung dịch một ít ra ống nghiệm đã được đánh cùng số làm mẫu thử
+ Nhỏ 1 dung dịch vào mẫu thử của 4 dung dịch còn lại.
Sau khi hoàn tất 5 lần thí nghiệm ta được bảng sau đây:
Chất nhỏ
Mẫu thử
MgCl2
NaOH
NH4Cl
BaCl2
H2SO4
Kết luận
MgCl2
NaOH
NH4Cl
BaCl2
H2SO4
−
Mg(OH)2↓
−
1 ↑ khai
BaSO4 ↓
15
Từ bảng trên ta thấy khi dùng 1 dung dịch nhỏ vào mẫu thử các dung dịch còn
lại:
+ Nếu tạo được 1 ↓ trắng + 1 ↑ khai thì dung dịch nhỏ vào là NaOH. Mẫu thử tạo
được khí mùi khai bay ra là NH4Cl
+ Còn lại 3 dung dịch là MgCl2, BaCl2, và H2SO4 đều cho 1 lần ↓
+ Cho NaOH vào 3 dung dịch trên dung dịch nào tạo kết tủa là MgCl2.
+ Dùng kết tủa Mg(OH)2 ( là sản phẩm thu được khi nhỏ NaOH vào MgCl 2 cho
vào 2 mẫu thử còn lại. Mẫu nào hoà tan được ↓ này là H2SO4.
Dung dịch còn lại là BaCl2
Phương trình: 2 NaOH + MgCl2
2NaCl + Mg(OH)2
NaOH + NH4Cl
NaCl + NH3 + H2O
BaCl2 + H2SO4 BaSO4 + 2HCl
Mg(OH)2 + H2SO4 MgSO4 + 2H2O
c) Bài tập vận dụng
Bài 1: Không dùng thêm thuốc thử khác, hãy nhận biết các dung dịch đựng trong
các lọ riêng lẻ mất nhãn: NaCl, H2SO4, CuSO4, BaCl2, NaOH.
Bài 2:Không dùng thêm hóa chất nào khác hãy phân biệt các dung dich sau :
NaHCO3, NaCl, CaCl2, Na2CO3.
* * Nhận biết các chất trong hỗn hợp
a) Phương pháp:
Dựa vào dấu hiệu riêng biệt của các hỗn hợp, dấu hiệu đó sẽ được dễ dàng phát
Khí còn lại không hấp thụ đem dẫn qua CuO nung nóng thấy CuO từ mầu đen
t0
� Cu + CO2
sang mầu đỏ PTHH: CuO + CO ��
Hấp thụ sản phẩm bằng nước vôi trong dư, nếu vẫn đục thì đó là CO
c) Bài tập áp dụng
Bài 1: Bằng phương pháp hóa học hãy nhận biết hỗn hợp các chất sau:
( Fe + Fe2O3) ; ( Fe + FeO) ; ( FeO + Fe2O3).
Bài 2: Trong một bình chứa hỗn hợp khí CO, CO 2, SO3, SO2 và H2. Trình bày
phương pháp hóa học để nhận biết từng khí.
Bài 3: Trong một dung dịch có chứa các ion Ca2+, Mg2+, SO42-, Na+, Cl-. Bằng phản
ứng hóa học và hiện tượng nào chứng tỏ sự có mặt các ion này trong dung dịch [10].
2.4. Hiệu quả kinh nghiệm sau khi áp dụng các giải pháp
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào giảng dạy cho học sinh
khối 9 ở trường THCS Lê Đình Kiên. Khảo sát kết quả ở cuối năm học 20162017:
Lớp
9A
9B
Tổn
g
Tổng
số
HS
22
25
Giỏi
5
2
19,2
8,0
10
5
42,3
20,0
7
17
38,5
68,0
0
1
0
4,0
0
0
0
0
với đề bài và tìm ra mối liên hệ giữa chúng khi giải.
�Tự tiến hành các bước và thành thạo các bước giải của bài tập nhận biết
cũng như có được phương pháp giải phù hợp với từng dạng.
�Đặc biệt, các em được khắc sâu thêm phần kiến thức về lý thuyết, cách
viết các phản ứng hóa học và những tính chất đặc trưng riêng biệt của từng chất
rồi so sánh tìm ra cách khác biệt nhất để nhận biết từng chất.
�Rèn luyện thêm kỹ năng tư duy cũng như giúp cho các em nhận biết được
các chất xung quanh mình với rất nhiều ứng dụng thực tế và các em có thể vận
dụng được. Đặc biệt là đối với một số em có xu hướng học trội môn Hoá. Học
sinh đã có thể tự khẳng định được bản thân, nhận biết được giá trị to lớn của hóa
học. Từ đây giúp các em yêu thích bộ môn hơn. Do vậy kết quả học tập của các
em ngày càng tiến bộ. Đó cũng chính là hiệu quả, là mục đích mà khi nghiên cứu,
áp dụng đề tài này đem lại.
3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
- Kết luận: Sau khi nghiên cứu xong sáng kiến kinh nghiệm tôi rút ra được:
1) Rèn kỹ năng giải bài tập nhận biết cũng như bất kỳ phương pháp nào cho học
sinh thì các em cần phải được luyện tập nhiều lần ở nhiều dạng bài tập khác nhau.
2) Muốn rèn kỹ năng giải cho hiệu quả thì giáo viên phải cho học sinh nắm
vững lý thuyết về các tính chất vật lý cũng như hóa học của từng chất từ đó so
sánh tìm ra tính chất đặc trưng nhất của từng chất để nhận biết.
3) Phân dạng và đưa ra được hệ thống bài tập phù hợp: Từ cách áp dụng
đơn giản trực tiếp đến đòi hỏi phải tư duy suy luận để tìm ra mối liên hệ giữa các
dữ kiện đề bài, qua đó đưa ra cách giải phù hợp.
4) Khẳng định được giá trị thiết thực khi áp dụng các phương pháp này :
+ Vận dụng các phương pháp này vào từng dạng bài tập một cách dễ hiểu,
ngắn gọn đỡ tốn thời gian.
18
giáo viên trường bạn tham khảo, rút kinh nghiệm cũng như nâng cao tay nghề của
mình.
- Phòng cần tổ chức cho những buổi tham gia chuyên đề có chiều sâu hơn,
không tham lam kiến thức mà đi vào cụ thể từng tiết dạy, từng loại bài, cử một số
19
giáo viên giỏi, giáo viên có tay nghề xây dựng giáo án rồi tổ chức dạy để các giáo
viên khác học tập, rút kinh nghiệm, như vậy hiệu quả tốt hơn.
2. Nhà trường nên tổ chức cho học sinh các buổi ngoại khoá nói về Hoá học
với cuộc sống con người và những ứng dụng của Hoá học trên thế giới. Từ đó
khuyến khích học sinh tham gia vào nghiên cứu khoa học, áp dụng những điều đã
học vào thực tiễn.
Trên đây là một số giải pháp tôi đã áp dụng trong quá trình thực hiện đề tài,
vì thời gian áp dụng chưa nhiều và là giáo viên còn ít tuổi nghề nên không tránh
khỏi những thiếu sót. Mong sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp và các tổ
chức có liên quan .
Tôi xin chân thành cảm ơn!.
Yên Định, ngày 6 tháng 4 năm2018
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ:
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện:
Lê Xuân Long
20
PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO HUYỆN YÊN ĐỊNH