Biện pháp giúp học sinh yếu, kém lớp 6 biết cách quan sát, tìm ý trong bài văn tả cảnh - Pdf 43

1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Thế kỉ XXI mở ra nhiều thời cơ và vận hội đối với đất nước. Đại hội
Đảng lần thứ VIII đã quyết định đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước nhằm mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, đất nước vững bước đi lên
CNXH. “Giáo dục phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu... Cải tiến chất
lượng dạy và học để hoàn thành tốt việc đào tạo bồi dưỡng nguồn lực con người
cho CNH-HĐH đất nước”. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII đã nêu “Mục tiêu
giáo dục là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Mỗi môn học đều góp phần
hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, cung cấp cho học sinh những
tri thức cần thiết.”
Môn học Ngữ văn trước hết là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều
đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng tình
cảm cho học sinh. Văn hào Nga Mác – xim Goc- ki nói: “Văn học là nhân học”.
Học sinh học tốt môn Ngữ văn sẽ có tác động tốt đến việc học các môn khác, và
ngược lại. Học tốt môn Ngữ văn không nhất thiết khi bước vào đời, học sinh đều
trở thành nhà văn, nhà nghiên cứu văn học, cô giáo dạy văn ...có nghĩa là đi theo
nghề văn. Học tốt môn Ngữ văn sẽ giúp các em rất nhiều trong giao tiếp với đời
sống xã hội, giao tiếp với đời sống gia đình và bạn bè. Từ đó chúng ta thấy môn
Ngữ văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của
trường THCS, góp phần hình thành những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết
thương yêu, quý trọng gia đình, bè bạn, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội,
biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn
trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con
người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực
cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật mà trước hết trong văn học;
có năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như công cụ để tư duy và
giao tiếp. Đó là những người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc .
Trong chương trình Ngữ văn THCS tích hợp, phân môn Tập làm văn đóng
vai trò quan trọng trong việc cung cấp các tri thức cơ bản về các kiểu văn bản,

về con người.
Trong Tập làm văn, miêu tả là một phương pháp biểu đạt có tầm sử dụng
phổ biến trong nhiều loại văn, thiếu miêu tả văn sẽ khô khan và trừu tượng.
Miêu tả là biết cảm thụ cái đẹp của cuộc sống xung quanh ta, làm giàu thêm đời
sống nội tâm cho người viết và bạn đọc. Miêu tả là phương thức tái hiện thế giới
mang tính khách quan làm cho mọi vật, hiện tượng sống lại ngay trước mắt
người đọc. Tuy nhiên nó cũng mang tính chủ quan bộc lộ trực tiếp cảm nhận của
con người trước sự vật. Như vậy, trong nhà trường văn miêu tả chính là một kiểu
bài rất quan trọng.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu trước hết là áp dụng cho học sinh yếu, kém của
khối 6. Song giáo viên cũng có thể vận dụng kinh nghiệm này ở góc độ rộng hơn
cho đối tượng là học sinh lớp 6 đại trà vào những buổi phụ đạo. Tùy cơ ứng
biến, tôi còn có thể sử dụng sáng kiến này một cách tỉ mỉ, kiên trì cho đối tượng
là những học sinh ngại học văn, chưa có tình cảm với thể loại văn tả cảnh. Từ
đó, giúp các em học sinh càng yêu thích, say mê và nâng cao hiệu quả học tập
môn học.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng hệ thống các phương pháp sau:
- Điều tra khảo sát thực tế
- Thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.

2


2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Cở sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
- Văn học là một bộ môn nghệ thuật sáng tạo ngôn từ đầy giá trị. Có thể
coi mỗi một tác phẩm văn học là một viên ngọc trong cuộc sống, nó bay bổng

mình.
+ Học sinh không biết ghi chép những ý mà mình quan sát được một cách
rõ ràng, không tìm được ý, ý nghèo nàn, bài văn không có sáng tạo.
+ Chưa biết sắp xếp ý theo một trình tự hợp lý. Từ đó hạn chế tới việc nói
và viết.
+ Bài viết của học sinh không đủ nội dung. Viết một bài tập làm văn tả
cảnh trong thời gian 90 phút mà các em chỉ viết được tối đa 15 dòng. Có học
sinh yếu, kém chỉ viết được 5 đến 7 dòng. Sở dĩ bài viết của học sinh yếu, kém
3


trong khi làm bài kiểm tra còn quá ngắn như vậy là vì các em chưa biết cách
quan sát, chưa ghi chép lại được những sự vật, sự việc mà mình vừa quan sát
hoặc có em sắp xếp ý còn lộn xộn, chưa biết tìm ý và sắp xếp ý.
+ Bên cạnh đó các em đã quá quen với việc thực hành viết văn dạng văn
bản mẫu và tái tạo văn bản tương tự mẫu ở cấp Tiểu học. Cho nên việc sáng tạo
một văn bản nghệ thuật đối với các em học sinh yếu, kém lớp 6 là việc làm vô
cùng khó khăn và không có hứng thú. Hơn nữa sự say mê đọc tư liệu văn học
của các em học sinh (thời nay) rất ít, hầu như là không có bởi những thông tin
hiện đại: Hoạt hình, truyện tranh, đặc biệt là những dịch vụ Internet tràn lan
cuốn hút lòng trẻ. Điều đó đương nhiên làm nghèo nàn vốn ngôn từ nghệ thuật
quý giá của văn học trong mỗi học sinh, đặc biệt là học sinh yếu, kém.
- Về phía giáo viên:
Về phía giáo viên dạy văn miêu tả thường có những biểu hiện phổ biến
như sau:
+ Chỉ có con đường duy nhất hình thành các hiểu biết về lý thuyết, các kỹ
năng làm bài là qua phân tích văn mẫu.
+ Giáo viên hầu hết chưa coi trọng phần quan sát, tìm ý nên chuẩn bị chưa
chu đáo, hướng dẫn học sinh quan sát chưa kỹ về đối tượng .
+ Để đối phó với việc học sinh làm bài kém, để đối phó với chất lượng khi

0
2.3. Những giải pháp:
Trong chương trình Tiểu học, học sinh đã được làm quen với thể loại văn
miêu tả. Bước vào lớp 6 cấp THCS, các em vẫn tiếp tục được tiếp cận với thể
loại này. Việc rèn các kỹ năng quan sát, tìm ý khi làm văn tả cảnh cho đối tượng
học sinh yếu, kém lớp 6 là rất thiết thực bởi quan sát gần với thực tế hơn, tạo sự
thích thú đối với các em, góp phần tháo gỡ những khó khăn trong việc ngại học
văn của một số học sinh. Từ đó, xây dựng và phát triển tình yêu với môn Ngữ
văn trong nhà trường. Giúp các em có được tình yêu với những cảnh vật bình
thường như: dòng sông, cánh đồng, mái trường rộng hơn là tình yêu quê hương
đất nước trong tâm hồn các em. Muốn làm được điều đó, học sinh nhất thiết phải

4


có một phương pháp, kỹ năng trong việc làm một bài văn miêu tả cụ thể mà
trong đó quan sát, tìm ý là việc làm có vai trò quyết định cho một bài viết của
học sinh.
Trên cơ sở áp dụng đề tài vào thực tiễn giảng dạy, học sinh yếu, kém sẽ
biết cách làm một bài văn tả cảnh đúng yêu cầu đề ra, trong đó đảm bảo các yếu
tố nội dung và diễn đạt. Cao hơn là học sinh có được niềm say mê môn học
được xem là nghệ thuật của ngôn từ này. Một khi các em có được niềm say mê,
hứng khởi với môn học thì hiệu quả, chất lượng giảng dạy bộ môn cũng sẽ được
nâng lên.
Đề tài này được nghiên cứu ở phạm vi cấp trường, mà cụ thể là áp dụng
cho học sinh yếu, kém khối 6.
Từ những cơ sở trên tôi thiết nghĩ: Quá trình rèn kỹ năng “quan sát, tìm ý
trong bài văn tả cảnh cho học sinh yếu, kém lớp 6” là một việc làm thiết thực
nên làm và làm một cách cặn kẽ để có hiệu quả tốt nhất.
* Học sinh: Đối tượng mà tôi áp dụng đề tài này là học sinh yếu, kém


“ Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi.
Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ
một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ
đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc
trai nước biển ửng hồng. Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để
mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển
Đông. Vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại trên mâm bể sáng dần lên cái
chất bạc nén. Một con hải âu bay ngang,là là nhịp cánh…”
( Trích Cô Tô – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 6, tập 2)
Tôi bắt đầu nêu câu hỏi: Qua đoạn văn em thấy kỳ thú đầu tiên mà nhà văn
bắt gặp ở Cô Tô sau trận bão là hình ảnh gì? Em hãy chỉ ra câu văn chứa hình
ảnh đó?
Học sinh: Hình ảnh mà nhà văn bắt gặp là hình ảnh mặt trời lúc bình minh.
Câu văn chứa hình ảnh: "Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kỳ hết. Tròn trĩnh
phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn".
Tôi giải thích thêm để học sinh rõ: Vế thứ nhất của phép so sánh là hình
ảnh mặt trời, còn vế kia là một danh từ chỉ khái niệm vô hình trừu tượng: "Quả
trứng thiên nhiên". Nếu quả trứng là sự vật cụ thể thì "quả trứng thiên nhiên" lại
là không có thật mà chỉ được định hình qua trí tưởng tượng phong phú của nhà
văn Nguyễn Tuân. Cô Tô sau trận bão trở nên sáng đẹp, sự vật đầu tiên mà nhà
văn quan sát được đó là mặt trời, mặt trời ở đây không gay gắt mà là mặt trời
mới mọc. Mặt trời mới mọc lúc rạng đông thì bao giờ cũng có màu hồng.
Nguyễn Tuân đã quan sát mặt trời rất tỉ mỉ, kỹ lưỡng từ mọi phía, từ hình khối
cho đến màu sắc và nhà văn đã cảm nhận được vẻ đẹp tròn đầy phúc hậu của nó.
Mặt trời là sự vật đầu tiên xuất hiện ở đảo Cô Tô. Mặt trời hiện lên mang đến
cho thiên thiên ánh sáng của một ngày mới, làm thức dậy vẻ đẹp của thiên nhiên.
Như vậy, để có được hình ảnh như thế nhà văn đã phải trải qua một quá
trình quan sát khá dày công; phải có một sự liên tưởng, tưởng tượng thật độc đáo
thì nhà văn Nguyễn Tuân mới có thể miêu tả vùng biển Cô Tô – đảo phía đông

Hỏi: Khi quan sát Hồ Gươm tác giả đã quan sát bằng giác quan gì? ở góc độ
nào?
(Tác giả quan sát Hồ Gươm bằng mắt; góc độ quan sát là từ trên cao nhìn
xuống)
Hỏi: Những hình ảnh mà tác giả quan sát được thể hiện qua những chi tiết nào?
( Hồ Gươm như một chiếc gương bầu dục lớn, cầu Thê Húc cong cong như con
tôm, mái đình lấp ló bên gốc đa già, tường rêu cổ kính của Tháp Rùa).
Hỏi: Từ cách quan sát đó ta thấy được tình cảm của tác giả được bộc lộ ở đây là
gì ? (Ca ngợi một nét đẹp cổ kính nghiêm trang của thủ đô Hà Nội với tất cả
lòng yêu mến, trân trọng, tự hào.)
Qua bài tập này học sinh được chứng kiến tài quan sát, miêu tả của tác giả
từ đó học được cách quan sát, tìm ý, cách lựa chọn từ ngữ, hình ảnh và các phép
tu từ khi làm bài văn tả cảnh.
2.3.1.2. Định hướng vị trí quan sát.
Để giúp việc quan sát, tìm ý trong bài văn tả cảnh ở lớp 6 đạt hiệu quả tôi
còn giúp học sinh xác định được để tả cảnh, việc xác định vị trí quan sát, thời
điểm quan sát, trình tự và nội dung quan sát cũng rất quan trọng. Về vấn đề này
tôi cho học sinh đọc và tìm hiểu lại văn bản “Sông nước Cà Mau” của Đoàn
Giỏi, Ngữ văn 6 – tập 2.
Trình tự miêu tả thể hiện trong bài văn là: Bắt đầu từ cảm tưởng chung,
thông qua sự quan sát thiên nhiên Cà Mau - tác giả đi đến những nét đặc tả kênh
rạch, sông ngòi và nét độc đáo của cảnh chợ Năm Căn họp trên mặt nước.
Theo trình tự miêu tả như trên, có thể thấy bố cục của bài văn gồm ba
đoạn:
- Đoạn 1 (Từ đầu đến “lặng lẽ một màu xanh đơn điệu”): Cảm tưởng
chung về thiên nhiên Cà Mau.
- Đoạn 2 (Tiếp theo đến “khói sóng ban mai”): Đặc tả kênh, rạch Cà Mau
và con sông Năm Căn rộng lớn.
- Đoạn 3 (Còn lại): Đặc tả cảnh chợ Năm Căn.


sóng ban mai.”
( Sông nước Cà Mau – Đoàn Giỏi, Ngữ văn 6,tập 2)
Tôi nêu câu hỏi: Để thể hiện sự rộng lớn, hùng vĩ của dòng sông và rừng
đước tác giả đã quan sát thấy những chi tiết nào?
+ Nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác
+ Con sông rộng hơn ngàn thước
+ Cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch
giữa những đầu sóng trắng.
- Trong câu “Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con
sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn” có các động từ: thoát qua, đổ ra, xuôi về chỉ
cùng một hoạt động của con thuyền.
Hỏi: Vậy nếu thay đổi trình tự những động từ ấy trong câu thì có miêu tả hết
được những hoạt động, trạng thái của con thuyền không? (Nếu thay đổi trình tự
những động từ ấy trong câu sẽ không thể hiện được các trạng thái hoạt động rất
phong phú của con thuyền trong các hoàn cảnh khác nhau.)

8


Tôi giải thích thêm cho học sinh: Trong câu này, tác giả sử dụng từ ngữ
rất chính xác và tinh tế, bởi vì:
+ Thoát qua: diễn đạt sự khó khăn mà con thuyền vừa phải vượt.
+ Đổ ra: chỉ trạng thái con thuyền từ sông nhỏ đến với dòng sông lớn.
+ Xuôi về: diễn tả trạng thái nhẹ nhàng của con thuyền xuôi theo dòng
nước.
- Những từ miêu tả màu sắc của rừng đước: Màu xanh lá mạ, màu xanh
rêu, màu xanh chai lọ. Qua những từ đó, vừa thấy được khả năng quan sát và
phân biệt các sắc độ của tác giả rất tinh tế, đồng thời cũng thấy được sự phát
triển mạnh mẽ không ngừng của loài đước.
Mặt khác trong bài văn, sự tấp nập, đông vui, trù phú và độc đáo của chợ

2.3.2.1. Định hướng kỹ năng quan sát, tìm ý qua cảnh vật cụ thể .
Định hướng kỹ năng quan sát, tìm ý qua cảnh vật cụ thể tức là giúp học
9


sinh biết lựa chọn trình tự quan sát; biết sử dụng các giác quan để quan sát; sử
dụng liên tưởng, tưởng tượng; vị trí quan sát; khi quan sát cần đi vào trọng tâm
của cảnh vật.
Đầu tiên tôi cho học sinh quan sát: Cây bàng trước lớp em.
Đây là đối tượng quan sát đơn giản nhất, tôi cho các em xác định đối
tượng và mục đích quan sát, khi xác định rõ đối tượng, tôi nêu các câu hỏi gợi ý
học sinh tập trung quan sát tìm ra đặc điểm riêng của cây bàng để không lẫn với
các loại cây khác ở trong sân trường. Tôi cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với đối
tượng (cây bàng).
Bước đầu tôi cho học sinh quan sát từ xa để nhìn thấy toàn cảnh và cái
nền của cảnh.
Hỏi: Nhìn từ xa em thấy cây bàng như thế nào? Xung quanh cây bàng em còn
thấy những gì nữa?( Nhìn từ xa em thấy cây bàng như một cái ô khổng lồ đang
vươn mình tỏa bóng mát rượi bên cạnh hàng phượng vĩ với xà cừ).
Sau đó tôi cho học sinh chuyển vị trí quan sát đến bên cạnh cây bàng.
Hỏi: Nhìn kĩ thân cây bàng có những đặc điểm gì đáng chú ý, nhìn những vết xù
xì trên thân cây em liên tưởng đến điều gì?( Những vết xù xì trên thân cây giống
như những vết sẹo trên cơ thể con người)
Hỏi: Quan sát rễ cây bàng em thấy thế nào?Hãy tưởng tượng và tìm hình ảnh
so sánh?( Quan sát rễ cây bàng em thấy chúng ngoằn ngoèo như những con rắn
đang cắm đầu xuống đất)
Hỏi: Tán lá bàng như thế nào? Em nhìn thấy, nghe thấy gì nữa trong vòm lá
(cành, quả, tiếng chim, tiếng gió, ánh nắng…so sánh và nhân hóa phù hợp).
Cây bàng khác với những cây khác ở trên sân trường như thế nào? Trông có
già hơn so với những cây khác không? Nếu gọi cây bàng là “bác” rồi thì em có

+ Quả…
- Kể về một kỉ niệm
+ Bị điểm kém, chạy xuống gốc cây ngồi khóc, cảm giác được cây an ủi
và bảo vệ.
+ Hay là những lần cùng bạn trong lớp ôn bài dưới gốc cây bàng.
*Kết bài: Cảm nghĩ về cây bàng (yêu, thương, quý,…): Dù cây phượng
rất gắn bó với tuổi học trò nhưng đối với em thì cây bàng chính là cây học trò
giữ biết bao nhiêu kỉ niệm buồn vui lẫn lộn…
Chọn từ ngữ, hình ảnh miêu tả và ghi chép nhận xét những điều đã quan
sát được về cây bàng, sau đó tôi gợi ý để các em quan sát cảnh khác rộng hơn
khó hơn.
Sau khi cho học sinh quan sát một cảnh tĩnh, đơn giản (tả cây bàng trước
lớp), tôi tiếp tục cho học sinh quan sát một cảnh động ở mức độ phức tạp hơn,
đó là cảnh : Sân trường em trong giờ ra chơi.
Tôi hướng dẫn các em chọn giờ ra chơi sau tiết 2 (vì thời gian dài hơn, có
cảnh tập thể dục)
Hỏi: Nhìn toàn cảnh sân trường, em thấy những gì khi trống báo hiệu giờ ra
chơi ( học sinh các lớp ùa ra sân…., xếp hàng tập thể dục đều tăm tắp …, các trò
chơi của các bạn học sinh.)
Hỏi: Cảnh sân trường khi các lớp đang tập thể dục như thế nào?
Hỏi: Hoạt động nào nổi bật hấp dẫn nhất đối với em? Vì sao?
Hỏi: Em nghe thấy được những âm thanh nào? Cảnh vật trên sân lúc này ra
sao?
Hỏi: Khi trống báo hiệu vào học thì sân trường như thế nào?
Hỏi: Cảm nghĩ của em về giờ ra chơi trên sân trường? (Cảm xúc chủ đạo: Tình
bạn , mái trường)
Dàn bài sau khi các em đã được quan sát, tìm ý về cảnh sân trường trong
giờ ra chơi:
*Mở bài: Giới thiệu giờ ra chơi: Thời gian, địa điểm….
*Thân bài:

biết về thiên nhiên, xã hội thông qua đọc sánh, phương tiện thông tin nghe, nhìn;
để tích lũy những gì mình không có điều kiện quan sát trực tiếp. Khi cần tả một
đối tượng nào đó có thể hồi tưởng, hình dung tái hiện để tả.
Như vậy trong khi dạy quan sát, tìm ý để làm văn miêu tả cảnh bên cạnh
kỹ năng quan sát cần chú ý giúp các em rèn luyện trong cách dùng từ ngữ, hình
ảnh chính xác hay có trí tưởng tượng phong phú có như vậy thì bài viết của các
em mới sinh động và phong phú hơn.
Trên đây tôi đã giúp học sinh phương pháp quan sát, tìm ý trong văn miêu
tả cảnh từ đơn giản đến phức tạp. Song việc hướng dẫn phương pháp quan sát,
tìm ý như thế về thời gian vẫn còn hạn chế, nên tôi còn hướng dẫn các em tự
quan sát ở nhà. Tôi hướng dẫn các em tự quan sát hai văn bản “Bài học đường
đời đầu tiên” (Tô Hoài) và “Sông nước Cà Mau” (Đoàn Giỏi) trong Ngữ Văn 6,
tập 2. Ngoài ra còn hướng dẫn các em tự quan sát, ghi chép những cảnh cụ thể.
2.3.2.2. Định hướng kỹ năng quan sát, tìm ý qua cảnh tổng hợp .
Để học sinh xác định chính xác đối tượng miêu tả khi làm bài văn tả cảnh
ở nhiều cảnh khác nhau với những thời gian, không gian đa dạng, tôi không chỉ
định hướng cho các em kỹ năng quan sát, tìm ý qua cảnh vật cụ thể mà còn định
hướng cho các em kỹ năng quan sát, tìm ý qua cảnh tổng hợp, phức tạp hơn.
Với đề sau: Tả cảnh quê hương em vào một buổi sáng đẹp trời.

12


Tôi cho học sinh thấy: Trên đây là một đề bài dạng miêu tả cảnh tổng hợp. Vậy
thế nào là cảnh tổng hợp?
- Tôi chỉ rõ cho học sinh thấy cần xác định cảnh tổng hợp nhờ những từ
ngữ nào? Đề yêu cầu tả cảnh tổng hợp thường chứa những từ ngữ như: Một
miền quê, quê hương em, cảnh vùng quê, hoặc cảnh nơi em ở.
- Cảnh tổng hợp là như thế nào?
Là cảnh gồm nhiều cảnh nhỏ, cảnh lẻ. Những cảnh nhỏ của quê hương hay miền

trước sự vật theo hướng yêu cái đẹp, trọng cái thực, quý cái thiện. Đồng thời,
học sinh cũng có thói quen quan sát để tích lũy vốn hiểu biết, đặc biệt học sinh
đã có hứng thú, say mê trong học tập, yêu thích môn Ngữ văn hơn.
Từ cách làm trên, tôi đã áp dụng trong năm học 2015- 2016 và năm tiếp
theo cũng cho tôi kết quả khả quan, chất lượng môn văn đã chuyển biến, cụ thể
lớp 6A:
13


Lớp

Sĩ số

Kém
Yếu
TB
Khá
Giỏi
SL % SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
6A
27em
0
0

hợp ghi chép lại những hình ảnh vừa quan sát được)
- Phải sắp xếp các hình ảnh vừa quan sát được theo một trình tự nhất định,
điều đó sẽ giúp cho việc lập dàn ý của các em trước khi làm bài văn sẽ được rõ
ràng, mạch lạc hơn.
- Khi viết bài văn tả cảnh, ngoài công việc đầu tiên là phải quan sát, tìm ý
thì phải biết kết hợp với nhận xét, liên tưởng, tưởng tượng, ví von, so sánh ...có
như thế mới làm nổi bật lên được những đặc điểm tiêu biểu của sự vật cần miêu
tả.
Với cách hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể của tôi theo các bước trên các em đã
nắm được trình tự quan sát, tìm ý. Từ đó các em học sinh yếu, kém khi viết bài
văn tả cảnh đã không còn mơ hồ nữa. Các em đã chủ động tham gia chiếm lĩnh
kiến thức và rèn luyện kỹ năng làm bài Tập làm văn tả cảnh. Kết quả đạt được
như vậy chính là nhờ vào việc dạy – học nghiêm túc của cả cô và trò. Niềm vui,
sự yêu thích môn học Ngữ văn đã đến trong mỗi tiết học mà tôi phụ trách.
3.2. Kiến nghị.
Từ những kinh nghiệm đã áp dụng mang lại hiệu quả thiết thực, tôi mạnh
dạn đưa ra một vài đề xuất sau:
3.2.1. Đối với đồng nghiệp:
- Khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này ngoài các biện pháp tôi đã nêu
thì giáo viên cần phải thực sự kiên trì, mẫu mực trong cách dùng từ, kiên trì
trong việc kiểm tra, đánh giá, chỉnh sửa các phần viết luyện kỹ năng của các em.
Mặt khác, giáo viên cũng phải kiên trì sưu tầm, chọn lọc tư liệu có giá trị
để cung cấp cho các em, đồng thời tìm cách hướng cho các em khả năng vận

15


dụng sáng tạo những tư liệu để biến thành cách diễn đạt riêng của bản thân mỗi
học sinh.
- Giáo viên cần xây dựng nhiệm vụ của từng cảnh miêu tả. Chuẩn bị chu

2. Thiết kế bài giảng Ngữ văn 6
3. Chuẩn kiến thức kĩ năng.
4. Rèn kĩ năng viết văn cho học sinh lớp 6 (Nhà xuất bản Giáo dục)
5. Tuyển chọn văn miêu tả (Văn Giá, Nguyễn Nghiệp, Nguyễn Trí NXB Giáo
dục.)

17


18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status