Ứng dụng Data Mining dự báo kiệt quệ tài chính ở các Công ty Dược niêm yết tại Việt Nam - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HỒ THỊ THANH THẢO

ỨNG DỤNG DATA MINING DỰ BÁO KIỆT QUỆ TÀI
CHÍNH Ở CÁC CÔNG TY ĐƯỢC NIÊM YẾT TẠI
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HỒ THỊ THANH THẢO

ỨNG DỤNG DATA MINING DỰ BÁO KIỆT QUỆ TÀI
CHÍNH Ở CÁC CÔNG TY ĐƯỢC NIÊM YẾT TẠI
VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang


Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.....................................................................2

4

Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................2

5

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài ..............................................................................2

6

Kết cấu luận văn ................................................................................................2

Chương 1 – CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ DỰ BÁO KIỆT QUỆ TÀI
CHÍNH ........................................................................................................................4
1.1

Kiệt quệ tài chính và những ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính đến các chủ thể

trong nền kinh tế......................................................................................................4
1.1.1

Kiệt quệ tài chính ....................................................................................4

1.1.2

Những ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính đến các chủ thể trong nền kinh

tế

2.1

Tổng quan về Khai phá dữ liệu (Data mining) ............................................24

2.1.1

Khái niệm của Data mining ..................................................................24

2.1.2

Nhiệm vụ của Data Mining ...................................................................24

2.1.3

Ứng dụng của Data Mining: .................................................................25

2.2

Một số thuật toán sử dụng trong Data mining .............................................25

2.2.1

Neural network (NN) ............................................................................25

2.2.2

Thuật toán cây quyết định Decision tree (DT) .....................................27

2.2.3



Các tỷ số nào là quan trọng nhất trong dự báo kiệt quệ tài chính ...............52

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................61
Kết luận .................................................................................................................61
Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ...............................................62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................1


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANN

Artificial Neural Network

DT

Decision tree

NN

Neural network

SVM

Support Vector Machine


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Mức trung bình của các chỉ số tài chính dùng phân loại doanh nghiệp trong
nghiên cứu của Beaver (1966) ..................................................................................13

Hình 4.4 Trung bình độ phủ của các thuật toán .......................................................51
Hình 4.5 Độ chính xác của các thuật toán theo từng khung thời gian .....................52
Hình 4.6 Độ chính xác của các thuật toán theo hai bộ dữ liệu(Sử dụng khung thời
gian t -1) ....................................................................................................................58
Hình 4.7 Độ chính xác của các thuật toán theo hai bộ dữ liệu (Sử dụng khung thời
gian t -2) ....................................................................................................................58
Hình 4.8 Độ chính xác của các thuật toán theo hai bộ dữ liệu (Sử dụng khung thời
gian t -3) ....................................................................................................................59


1

MỞ ĐẦU
1

Lý do nghiên cứu
Dự báo kiệt quệ tài chính là một chủ đề đáng quan tâm trong những thập kỷ qua
vì tầm quan trọng rất lớn của nó cho các công ty niêm yết, các nhà đầu tư, các chủ
nợ, các nhà quản lý và thậm chí cả nền kinh tế của một quốc gia (Wanke,Barros,
& Faria, 2014). Nếu dự đoán kiệt quệ tài chính là đáng tin cậy, các nhà quản lý
của các công ty có thể bắt đầu các biện pháp khắc phục hậu quả để tránh suy giảm
trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra và các nhà đầu tư có thể nắm bắt được tình hình
lợi nhuận của các công ty niêm yết và điều chỉnh các chiến lược đầu tư của họ để
tối ưu hóa các khoản đầu tư.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn và hội nhập của nền
kinh tế toàn cầu đã tăng số lượng của các công ty bị khủng hoảng tài chính trong
những năm qua. Theo thống kê của Vietstock, tính đến thời điểm tháng 8/2014 có
28 cổ phiếu trước nguy cơ bị hủy niêm yết bắt buộcvà 41 doanh nghiệp thua lỗ hai
năm liên tiếp và lỗ lũy kế vượt vốn.
Doanh nghiệp phá sản sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực cho cả xã hội và nền

những dấu hiệu của sự suy giảm lợi nhuận của công ty.Đồng thời chỉ ra những chỉ
số tài chính hiệu quả nhất trong dự báo kiệt quệ tài chính của công ty.

5

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài với mục đích là để dự báo kiệt quệ tài chính thật sự có ý nghĩa đối với
nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế từ chính bản thân các doanh nghiệp đến
các đối tượng khác như nhà đầu tư, các đối tác, các ngân hàng và cả chính phủ.
Phương pháp để dự báo dễ sử dụng, dữ liệu dùng để phân tích đưa ra dự báo là
có sẳn, có thể tự thu thập dễ dàng.
Chính hai yếu tố trên đã đem lại ý nghĩa thực tiễn của đề tài.

6

Kết cấu luận văn
Luận văn được viết thành hai phần chính:
Phần mở đầu sẽ nêu rõ lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm
vi, phương pháp nghiên cứu. Trong phần này cũng trình bày ý nghĩa thực tiễn của
đề tài nghiên cứu.
Phần thứ hai là nội dung chính của luận văn được chia thành ba chương.
-

Chương 1 là tổng quan vấn đề cần nghiên cứu. Trong chương này sẽ nêu
bật được Kiệt quệ tài chính là gì, ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính đến
các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế và tổng quan các nghiên cứu
trước đây về dự báo kiệt quệ tài chính.

-


(insolvency), “vỡ nợ” (default), và “phá sản” (bankruptcy).
Thất bại (failure): Altman và Hotckiss (2005) định nghĩa “thất bại”theo
chuẩnkinh tế học, nghĩa là “tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư, cùng với các tỷ
số khác để đánh giá rủi ro, là thấp hơn liên tục và đáng kể so với các tỷ số của các
đầu tư tương đương trên thị trường, hoặc doanh thu không đủ bù đắp chi phí của
công ty”. Tuy nhiên, định nghĩa như trên vẫn chưa đủ, bởi vì mặc dù có doanh thu
không đủ bù đắp chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi thực trên vốn đâu tư thấp hơn so với
tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường thì một công ty trong tình huống
này cũng có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh nếu các nhà đầu tư đồng ý chấp
nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp. Vì vậy, rất khó để phân loại một công ty đối mặt
các tình huống ở trên như một doanh nghiệp kiệt quệ tài chính.
Một quan điểm khác, dựa theo chuẩn tài chính, “thất bại” là việc dòng tiền của
doanh nghiệp không đủ để thỏa mãn nghĩa vụ tài chính hiện tại. Các nghĩa vụ tài
chính này bao gồm việc không thể giải quyết nợ đối với các nhà cung cấp tín dụng
và người lao động, hoặc gánh chịu tổn thất từ quá trình pháp lý diễn ra dai dẳng,
hoặc không thể hoàn trả nợ gốc và lãi vay (Wruck, 1990).
Từ các quan điểm trên, “thất bại” của công ty được chia làm 2 loại, đó là: “thất
bại kinh tế” (economic failure) và “thất bại tài chính” (financial failure). Andrade
và Kaplan (1998) nhấn mạnh cần thiết phải phân biệt giữa “thất bại tài chính” và
“thất bại kinh tế”. Hai ông định nghĩa rằng một công ty vi phạm việc trả nợ là “thất


5

bại tài chính”, còn một công ty đang thua lỗ trong hoạt động kinh doanh là “thất
bại kinh tế”.
Ở một quan điểm phổ biến khác, “thất bại tài chính” được định nghĩa là việc
công ty bất lực trong việc hoàn thành các nghĩa vụ nợ.Tuy nhiên, một công ty
không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ cũng có thể xảy ra ngay cả khi công
ty có giá trị tài sản ròng dương (Gaughan, 2011). Như vậy, có thể hiểu rằng bên

nghĩa vụ tài chính hiện tại. Trường hợp này còn được gọi là “mất thanh khoản kỹ
thuật” (technical insolvency).
Vỡ nợ (default): là một khái niệm tài chính khácliên quan đến kiệt quệtài chính.
“Vỡ nợ” được thể hiện như là tình trạng khi một công ty không thể trả được nợ
gốc hay lãi đối với chủ nợ khi chúng đến hạn, và do đó, vi phạm điều kiện của hợp
đồng tín dụng, dẫn đến các hành động pháp lý (Altman và Hotchkiss, 2005).
Ross, Westerfield và Jaffe (2002) nói rằng '' khủng hoảng tài chính là một tình
huống mà dòng tiền hoạt động của một công ty không đủ để đáp ứng nghĩa vụ hiện
tại (như tín dụng thương mại hoặc chi phí lãi vay) và công ty buộc phải nhận những
hành động trừng phạt''
Gilson và cộng sự (1990) và Altman và Hotchkiss (2005) tách khái niệm “vỡ
nợ” ra làm 2 phạm trù riêng: “vỡ nợ thanh toán” do không thể trả nợ gốc và lãi đến
hạn, và “vỡ nợ kỹ thuật” do vi phạm các điều khoản hợp đồng tín dụng của công
ty.
Ngoài ra, có sự nhầm lẫn phổ biến giữa “mất thanh khoản” và “vỡ nợ”. Cần có
sự phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm này. Theo đó, để phân biệt giữa “vỡ nợ”
(default) và “mất thanh khoản” (insolvency), cần tham chiếu đến thời điểm đáo
hạn (date of maturity) của nợ. Một công ty có thể ở trong tình trạng “mất thanh
khoản” trong một khoảng thời gian dài. Tuy nhiên, chỉ đến thời điểm nợ đáo hạn,
công ty mới được xem là “vỡ nợ”, và khi đối mặt với với sự kiện này, công ty sẽ
cố gắng tái thương thảo hợp đồng tín dụng và tái cấu trúc nợ (đảo nợ) trước khi
tình trạng “phá sản” (bankruptcy) bắt đầu.
Phá sản (bankruptcy): cũng là khái niệm tài chính liên quan đến kiệt quệ tài
chính.


7

Altman (1993) đưa ra một mô tả và định nghĩa hoàn chỉnh của kiệt quệ tài chính
và chỉ ra rằng phá sản là định nghĩa pháp lý gần nhất của khủng hoảng tài chính.


xấu, bán tài sản để trả nợ rồi giải thể, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, thua lỗ
năm hiện tại, thua lỗ liên tiếp 2 năm, thua lỗ liên tiếp 3 năm, v.v… Các định nghĩa
khác nhau của kiệt quệ tài chính dẫn đến việc lựa chọn mẫu khác nhau để nghiên
cứu trong lĩnh vực này.
Nhãn ST đã được sử dụng như là biểu tượng của sự kiệt quệ tài chính trong
nhiều nghiên cứu liên quan đến các công ty ở Trung Quốc (Altman, Heine, Zhang,
và Yen, 2007; Bailey, Huang, & Yang, 2011; Sun & Li, 2008a). Các công ty bị
gán nhãn ST trải qua một hoặc nhiều hơn của bốn giai đoạn đó bao gồm thiếu sót
hoặc giảm mức chi trả cổ tức hàng năm do thiếu tiền mặt, không thanh toán vốn
vay dẫn đến một vụ kiện, bị tái cấu trúc và xoá tên khỏi thị trường chứng khoán,
và chuyển giao cho công ty quản lý tài sản để xử lý (Altman et al., 2007). Có hai
lý do chính cho việc xem các công ty bị đưa vào dạng kiểm soát đặc biệt là các
công ty bị kiệt quệ tài chính. Thứ nhất, sự suy thoái tài chính của một công ty được
xem là một quá trình từng bước một, nó như là một sự kiện tiên nghiệm (ex ante)
của phá sản là một đại diện tốt của kiệt quệ tài chính (Newton (1975), Gestel cùng
cộng sự (2006), và Lau (1987)). Thứ hai, các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc tìm
thấy nó khó khăn để có được dữ liệu liên quan đến các công ty bị phá sản do các
quá trình phá sản ở Trung Quốc. Dairui và Jia (2009) xác định các công ty kiệt quệ
tài chính là các công ty bị đưa vào diện đặc biệt (gán nhãn ST) bởi vì thiếu cơ sở
dữ liệu của phá sản công ty trên thị trường chứng khoán Trung Quốc.


9

1.1.2 Những ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính đến các chủ thể trong nền kinh
tế
Kiệt quệ tài chính rất tốn kém khi các mâu thuẫn quyền lợi cản trở các quyết
định đúng đắn về hoạt động, đầu tư, tài trợ.Khi một doanh nghiệp gặp khó khăn,
kiệt quệ tài chính, cả chủ nợ và các cổ đông đều muốn doanh nghiệp phục hồi,

đảm bảo quyền lợi của mình. Các trò chơi này sẽ đưa đến các chi phí kiệt
quệ tài chính như: trò chơi chuyển dịch rủi ro, từ chối góp vốn cổ phần,


10

thu tiền bỏ chạy, kéo dài thời gian, thả mồi bắt bóng. Những “trò chơi”
này sẽ khiến kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp ngày càng trầm trọng
và có thể đi đến phá sản.Một điều đáng lưu ý là các chi phí liên quan đến
kiệt quệ tài chính càng nghiêmtrọng hơn đối với những công ty có nhiều
tài sản vô hình. Điều này được hiểu là do các tài sản vô hình gắn với tình
hình sức khỏe doanh nghiệp sẽ mất giá trị nếu công ty rơi vào tình trạng
phá sản. Dự báo kiệt quệ/ phá sản là quan trọng đối với những công
ty này.
Nghiên cứu vềdự đoán phá sản, kiệt quệ tài chính là cần thiết cho nhiều chủ
thể trong nền kinh tế:
-

Bản thân các doanh nghiệp cần dự đoán được khả năng bị phá sản của
mình để có thể lường trước những khó khăn mà doanh nghiệp sắp đối
mặt. Việc dự đoán được nguy cơ lâm vào tình trạng kiệt quệ có thể xem
như là một cảnh báo để doanh nghiệp có thể lập kế hoạch kinh doanh phù
hợp và đưa ra những điều chỉnh hợp lý làm gia tăng giá trị doanh nghiệp,
hạn chế tối thiểu nguy cơ lâm vào tình trạng phá sản. Khi có nguy cơ bị
kiệt quệ tài chính doanh nghiệp cần kiểm tra lại tình hình tài chính của
mình đang yếu kém ở điểm nào để có phương án xử lý kịp thời như: rà
soát lại các lĩnh vực hoạt động, thu hẹp lĩnh vực hoạt động có hiệu quả
kém, cơ cấu lại cấu trúc tài chính, giảm ứ động vốn, ...

-

-

Xét về khía cạnh nền kinh tế thị trường, chuyện doanh nghiệp giải thể,
phá sản, ngừng hoạt động là chuyện không phải quá bất thường. Bởi vì
trong vòng đời của một doanh nghiệp khi gặp khó khăn, doanh nghiệp
có thể ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong một thời gian nhất
định. Đây là một dạng rút lui tạm thời khỏi thị trường. Tuy nhiên, khi
không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải rút lui khỏi
thị trường thông qua hình thức giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp. Khi
đó xét về khía cạnh tổng thể nền kinh tế việc phá sản là tốt. Bởi vì nếu
doanh nghiệp không còn hoạt động nhưng không thực hiện quy trình giải
thể, phá sản dẫn tới việc Nhà nước thất thu thuế, người lao động bị xâm
hại quyền lợi… và làm sai lệch các thông tin thống kê về doanh nghiệp,
ảnh hưởng tới sự minh bạch của môi trường kinh doanh. Nhưng cũng cần
nhìn nhận rằng, việc có quá nhiều doanh nghiệp phá sản trong những
năm gần đây là rất đáng quan ngại. Bởi đi theo việc doanh nghiệp phá
sản, giải thể, kiệt quệ tài chính sẽ là một loạt người lao động mất việc
làm, bị nợ lương, thu nhập bấp bênh; là rất nhiều doanh nghiệp của các


12

công ty đối tác với công ty phá sản bị nợ tiền và cũng rơi vào khó khăn
tài chính, là các ngân hàng với hàng đống nợ xấu, là nhà nước không thu
được thuế gây bội chi ngân sách nghiêm trọng, là nền kinh tế đất nước
lâm vào suy thoái.
Không phải công ty nào gặp khó khăn về tài chính cũng đều đi đến phá
sản.Nếu doanh nghiệp có chiến lược đúng đắn, phản ứng kịp thời, xoay xở được
các khoản nợ doanh nghiệp có thể hoãn việc phá sản lại nhiều năm.Cuối cùng,
doanh nghiệp có thể phục hồi, trả hết nợ và thoát được cảnh phá sản.Dự báo được

chúng ta sẽ so sánh các chỉ số tài chính của doanh nghiệp đó với mức trung bình
được Beaver đưa ra. Mức trung bình được William Beaver đưa ra theo bảng 1.1
Mức trung bình của các chỉ số tài chính dùng phân loại doanh nghiệp trong nghiên
cứu của Beaver (1966).
Bảng 1.1 Mức trung bình của các chỉ số tài chính dùng phân loại doanh nghiệp trong
nghiên cứu của Beaver (1966)
CHỈ SỐ TÀI DOANH
CHÍNH

NGHIỆP

Tiền mặt/

NĂM TRƯỚC PHÁ SẢN
1 năm

2 năm

3 năm

4 năm

Phá sản

-0.2

-0.05

0.05


0.08

0.08

0.09

0.08

0.07

Nợ phải trả

Phá sản

0.76

0.62

0.52

0.54

0.51

/ Tổng tài

Không phá sản

0.36


0.4

0.47

5 năm
0.2
0.52

tài sản

sản

0.39

0.43

Tổng tài sản
Tỷ số thanh

Phá sản

2.0

2.3

2.35

2.4

2.5

X4 = Market value equity/Book value of total liabilities: Giá trị thị trường của
vốn chủ sở hữu/Giá trị sổ sách của nợ phải trả
X5= Sales/Total assets: Tổng doanh thu/Tổng tài sản
Z = Overal index: chỉ số tổng hợp
Dựa trên cơ sở số liệu của 66 doanh nghiệp tại Mỹ, trong đó 66 doanh nghiệp
được phân thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 33 doanh nghiệp. Nhóm 1 gồm 33 doanh
nghiệp bị phá sản từ năm 1946 đến năm 1965.Nhóm 2 gồm 33 doanh nghiệp không
bị phá sản và vẫn hoạt động bình thường đến năm 1966.Các doanh nghiệp không
bị phá sản có quy mô, ngành nghề tương ứng từng cặp với các doanh nghiệp bị phá
sản được chọn lấy dữ liệu. Từ số liệu của bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh, 22 chỉ số tài chính được tính toán và phân thành 5 nhóm:
thanh khoản, lợi nhuận, đòn bẩy, khả năng thanh toán và chỉ số hoạt động. Trong
danh mục 22 chỉ số tài chính, có 5 chỉ số được lựa chọn để sử dụng vào mô hình
dự đoán khả năng phá sản.
Mô hình ước lượng của Altman như sau:
Z = 0.012 X1 + 0.014 X2 + 0.033 X3 + 0.006 X4 + 0.999 X5
Trong đó: Từ giá trị của chỉ số Z, Altman đã đưa ra chỉ tiêu dự đoán như sau:
Nếu Z>2.99: công ty chưa có nguy cơ phá sản/kiệt quệ tài chính.
Nếu 1.81
US bond rating equivalent based on EMS
US equivalent rating

EMS

AAA

8.15

AA+

7.6

AA

7.3

AA-

7.0

A+

6.85

A

6.65

A-


B

4.15

B-

3.75

CCC+

3.2

CCC

2.5

CCC-

1.75

D

0

Nguồn: Altman, Edward I., Predicting Financial Distress of Companies:
Revisiting the Z-Score and ZETA® Models, pp 23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status