LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN đội NGŨ cán bộ NGƯỜI dân tộc THIỂU số ở TỈNH hòa BÌNH TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY - Pdf 43

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định vấn đề
dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng.
Một trong những nội dung quan trọng để giải quyết tốt vấn đề dân tộc là phải
xây dựng cho được ĐNCB người DTTS có phẩm chất và năng lực. Với
đường lối đúng đắn đó, trong những năm qua, Đảng ta chăm lo xây dựng
ĐNCB, nhất là ĐNCB người DTTS cho vùng đồng bào dân tộc. Bởi vậy,
ĐNCB người DTTS đã dần phát triển cả về số lượng và chất lượng, có nhiều
đồng chí cán bộ người DTTS được giao những trách nhiệm quan trọng từ
Trung ương đến địa phương, góp phần to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội
của cả nước nói chung, vùng dân tộc và miền núi nói riêng.
Tuy nhiên, công tác xây dựng ĐNCB ở vùng dân tộc và miền núi còn
nhiều hạn chế và bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
hiện nay. Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
đã chỉ rõ: "Nhìn chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý ở vùng dân tộc và
miền núi còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực tổ chức, chỉ đạo thực hiện;
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được quan
tâm" [14, tr.34]. Đây là thực trạng chung, trong đó có tỉnh Hòa Bình.
Hòa Bình là một tỉnh miền núi, nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc, có diện
tích 4.662 km2, gồm 11 huyện thị với tổng số dân gần 800.000 người. Có 7
dân tộc anh em cùng sinh sống lâu đời: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao,
H'mông, Hoa. Là một tỉnh mới tách tháng 10/1991 nên Hòa Bình còn gặp rất
nhiều khó khăn trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, trong thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước, bên cạnh những thành tựu bước đầu, cũng còn
không ít những vấn đề yếu kém, bất cập trong đó có những yếu kém về công
tác phát triển ĐNCB người DTTS.


- Kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên
ngành: lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, thống kê - hệ thống hóa,...
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Nghiên cứu dưới góc độ lý luận - chính trị về thực trạng ĐNCB người
DTTS ở tỉnh Hòa Bình, đề xuất những phương hướng cơ bản và một số giải


5
pháp chủ yếu nhằm góp phần phát triển ĐNCB người DTTS để đáp ứng
những yêu cầu mới hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và
giảng dạy trong Trường chính trị về những nội dung liên quan tới xây dựng
đội ngũ cán bộ nói chung và phát triển ĐNCB người DTTS nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể cung cấp những luận cứ khoa học giúp cho cấp ủy
Đảng, chính quyền... tỉnh Hòa Bình tham khảo để xây dựng, quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng luân chuyển ĐNCB người DTTS.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết.


6
Chương 1
ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY

1.1. QUAN NIỆM VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ, CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC

nghiệt, cộng đồng các dân tộc Việt Nam sớm có truyền thống đoàn kết khắc
phục thiên tai, chế ngự thiên nhiên, phát triển sản xuất tạo ra nhiều của cải vật
chất nuôi sống con người; đồng thời, đoàn kết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ
toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia dân tộc.
Đồng bào các DTTS ở nước ta sống phân tán và xen kẽ ở nhiều cấp độ
khác nhau, không hình thành vùng lãnh thổ riêng cho từng dân tộc. Chẳng
hạn,
Dân tộc Dao phân bổ ở các tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu,
Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn...
Có những tỉnh miền núi người dân tộc thiểu số chiếm số đông như
Hà Giang, Cao Bằng trên 90%; Tuyên Quang, Lạng Sơn, Lào Cai,
Sơn La, Lai Châu... trên 70%; Kon Tum 53,6% [12, tr.158].
Nhưng cũng có tỉnh, tỷ lệ đồng bào DTTS so với cư dân trong tỉnh
không cao, như "ở Đắk Lắk có tới 44 dân tộc cùng chung sống, các DTTS chỉ
chiếm 28,4% cư dân trong tỉnh" [28, tr.412].
Số dân của các dân tộc nhiều ít khác nhau, nhưng mỗi dân tộc có bản
sắc văn hóa riêng, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa Việt
Nam (biểu hiện qua ngôn ngữ, phong tục, luật tục, kiến trúc nhà cửa, giao
tiếp, ứng xử...).
Do hậu quả lâu dài bởi các chính sách áp bức, bóc lột của chế độ thực
dân phong kiến cùng với điều kiện tự nhiên và môi trường khắc nghiệt, nên
trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc không đều nhau, thậm chí
còn có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng miền và giữa các dân tộc; đặc
điểm tâm lý, văn hóa tộc người mang nhiều sắc thái đa dạng, phức tạp. Các
thế lực thù địch đang hướng các trọng điểm tấn công vào đồng bào DTTS


8
nhằm phá hoại khối đại đoàn kết, gây mất ổn định chính trị và phá hoại cách
mạng Việt Nam.

9
Trong Từ điển Tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa:
1) Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà
nước. Cán bộ Nhà nước. Cán bộ khoa học. Cán bộ chính trị.
2) Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức,
phân biệt với người thường, không có chức vụ [48, tr.109].
Tại điều 1, Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003 có
quy định 8 nhóm cán bộ, công chức hiện nay [31, tr.31-32].
Theo các định nghĩa trên, cán bộ có bốn đặc trưng cơ bản:
- Cán bộ giữ một chức vụ, trọng trách nào đó trong hệ thống chính trị
nói chung.
- Cán bộ phải qua bầu cử, tuyển chọn, đề bạt.
- Cán bộ được sự uỷ thác của Nhà nước, các tổ chức khác trong hệ thống
chính trị... và lấy danh nghĩa của Nhà nước và các tổ chức đó mà hoạt động.
- Cán bộ hưởng đãi ngộ căn cứ vào chất lượng lao động của họ.
Như vậy, cán bộ theo nghĩa chung nhất là những người lãnh đạo, quản
lý hoặc nhà chuyên môn, nhà khoa học; có thể là công chức, viên chức làm
việc hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác.
Cán bộ được hình thành từ dân cử, bầu cử, tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm.
Trong phạm vi đề tài này, chỉ tập trung nghiên cứu cán bộ lãnh đạo, quản lý,
cán bộ chuyên môn tại các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể trên cơ sở
phân tích số liệu cán bộ của các dân tộc trong toàn tỉnh Hòa Bình.
Theo tiến sĩ Lê Phương Thảo, khái niệm cán bộ DTTS dùng để chỉ
một đối tượng cán bộ đặc thù, tiêu chí cơ bản là xuất thân từ các DTTS. Khái
niệm cán bộ DTTS được dùng khi so sánh với khái niệm cán bộ dân tộc đa số
và được xem xét trên phạm vi toàn quốc, mặc dù trong không gian hẹp (tỉnh,
huyện, xã), có khi một DTTS nào đó lại chiếm số đông [38, tr.38].
Tính đặc thù của cán bộ người DTTS ở nước ta có mặt do lịch sử để
lại, có mặt nảy sinh trong quá trình vận động và phát triển.


tiên - nơi cấm kỵ không được gác chân lên, không được bước qua hoặc
chuyển đồ vật vào nhà qua cửa sổ này. Trang phục truyền thống của nam giới


11
người Mường là bộ quần áo cánh màu nâu - chàm; phụ nữ mặc váy dài đen,
áo cóm, yếm, cạp váy được thêu các hoa văn phản ánh quan niệm về vũ trụ,
con người, đời sống sản xuất và văn hóa cộng đồng. Người Mường không kết
hôn trong các dòng họ. Tang lễ người Mường tổ chức theo nghi lễ nghiêm
ngặt, còn có nhiều nét ảnh hưởng của Nho giáo. Đồng bào Mường tổ chức
nhiều lễ hội trong năm: như tết cơm mới, lễ cầu mưa, lễ sửa lá lúa... Đời
sống văn hóa, văn nghệ phong phú: có trường ca "đẻ đất, đẻ nước", hát đối,
hát ru, múa sạp, đánh cồng...
- Dân tộc Thái:
Dân tộc Thái chiếm khoảng 4% dân số trong toàn tỉnh, tập trung chủ
yếu ở huyện Mai Châu, sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và du lịch. Sống
trong vùng có nhiều cư dân Mường, nên người Thái Hòa Bình đã tiếp thu
nhiều yếu tố văn hóa Mường (nhất là trang phục và nhà cửa...). Nhưng đặc
trưng văn hóa Thái vẫn được người Thái giữ gìn, phát huy trong đời sống
cộng đồng, biểu hiện qua ngôn ngữ, văn hóa, âm nhạc, kiến trúc, tập quán,
tín ngưỡng...
Trang phục nữ của người Thái Hòa Bình: đầu quấn khăn piêu, mặc áo
ngắn mở ở phía trước, hai bên tà áo được đính hai hàng cúc bướm bằng bạc
hoặc nhôm, váy màu đen không trang trí.
Từ lâu đời người Thái đã khai thác khu vực đáy thung lũng thành hệ
thống ruộng để trồng lúa nước và họ thiết lập khu cư trú của mình ngay chân
núi cạnh các thung lũng. Đặc điểm khu dân cư của người Thái là mật tập,
nghĩa là các gia đình làm nhà sàn liền mái, đi chung ngõ với nhau, vườn ở
trên nương. Với lối sống này, ý thức cộng đồng được đề cao trong quan hệ xã
hội. Người Thái Mai Châu có lối sống đạt đến trình độ cao về phép tắc ứng xử

cài lệch sang phải), thắt lưng đồng màu với áo dài được dệt từ sợi bông hay tơ
tằm.
Do sinh sống xen kẽ với người Kinh, nên đời sống dân tộc Tày có
nhiều nét hòa đồng và nói chung đời sống kinh tế - xã hội ngày nay ổn định,
phát triển.
- Dân tộc Dao:


13
Dân tộc Dao ở Hòa Bình chiếm khoảng 1,7% dân số của tỉnh. Sinh
sống chủ yếu ở các xóm, bản các xã vùng cao, xa xôi hẻo lánh của các huyện
Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc...
Dân tộc Dao có hai nhóm chính: nhóm tiểu bản (Dao quần chẹt) và
nhóm đại bản (Dao đeo tiền). Người Dao sống ở Hòa Bình là nhóm tiểu bản
gồm 6 dòng họ (người Dao có 12 dòng họ) là: Triệu, Dương, Phùng, Trịnh, Lý,
Bàn. Mỗi dòng họ có nhánh khác nhau, chẳng hạn họ Triệu có các nhánh Triệu
Bể, Triệu Mốc... người cùng dòng họ không được kết hôn dù là bao nhiêu đời.
Trước 1945, người Dao sống du canh, du cư trên núi cao, sống bằng
nghề nương rẫy, ngày nay với chính sách của Đảng - Nhà nước đại bộ phận đã
hạ sơn, định canh định cư ở vùng thấp hơn, sống bằng trồng lúa nước, canh
tác nương rẫy; một số nghề thủ công như dệt vải, mộc, làm giấy...
Do đặc điểm cư trú, lịch sử xã hội, nên người Dao có tâm lý rất tự
trọng, tri thức dân gian phong phú, nhất là y học dân tộc cổ truyền. Họ rất
mến khách và có tính cộng đồng dân tộc cao.
Tiếng nói, chữ viết của người Dao có nguồn gốc từ quan hỏa, được
nôm hóa thành tiếng Dao. Hiện nay, họ không sử dụng chữ viết riêng mà chỉ
còn số ít người già sử dụng chữ Nôm - Dao trong lập bùa, thờ cúng. Các điệu
hát ví, hát lượm, hát đối... thường được sử dụng trong ngày lễ, tết, ma chay.
Người Dao ở nhà sàn và nửa sàn. Cưới xin có nhiều quy định phong
phú, hình thức ở rể lấy vợ rất phổ biến (ở đến khi đủ lễ cưới - bạc trắng mới

Như vậy, tất cả những đặc điểm của từng dân tộc thiểu số trên địa bàn
tỉnh đã để lại dấu ấn sâu sắc trong sinh hoạt, khắc ghi trong tiềm thức mỗi
đồng bào dân tộc, mỗi cán bộ người DTTS. Đội ngũ cán bộ người DTTS ở
Hòa Bình cũng mang đậm dấu ấn của người DTTS Hòa Bình, biểu hiện qua
một số đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất: ĐNCB người DTTS chịu ảnh hưởng và tác động lớn của
các thiết chế xã hội truyền thống, của các DTTS sống trên địa bàn.
Cán bộ người DTTS ở Hòa Bình là những con người được sinh ra, lớn
lên và trưởng thành trên vùng đất đặc thù của đất nước. Họ không những


15
mang trong mình những nét chung của con người Việt Nam truyền thống và
hiện đại, mà cuộc sống cộng đồng dân tộc và cộng đồng dân cư tại nơi họ sinh
sống đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách của họ. Trong lịch
sử mỗi dân tộc, đều có hình thức tổ chức xã hội riêng, những phong tục tập
quán, nếp nghĩ, cách làm... đều in đậm những bản sắc riêng biệt.
Cán bộ người DTTS hoạt động trên địa bàn lãnh thổ rộng lớn và trong
môi trường xã hội phong phú, đa dạng, phức tạp. Họ phải xử lý hàng loạt mối
quan hệ xã hội: giữa những người đồng tộc và khác tộc; những phong tục, tập
quán, tâm lý, thói quen... giống nhau và khác nhau. Điều đó đòi hỏi họ không
chỉ nắm vững đường lối, chính sách, pháp luật chung của Đảng và Nhà nước,
mà còn phải có sự hiểu biết sâu sắc về dân tộc mình và các dân tộc anh em
trên cùng địa bàn; họ cần có không chỉ lý trí, quyết tâm cao mà còn phải có
tình cảm sâu sắc, lòng kiên nhẫn và sự nhạy cảm.
- Thứ hai: ĐNCB người DTTS có lối sống thẳng thắn, chân thật, mộc
mạc, giản dị, trọng danh dự. Có thái độ yêu, ghét rõ ràng đối với bạn và thù.
Có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự lực tự cường và có niềm tin tuyệt đối
vào sự lãnh đạo của Đảng.
- Thứ ba: Trình độ dân trí của đồng bào DTTS còn thấp, nhất là vùng

Hai ông còn chỉ rõ, giai cấp vô sản và chính Đảng của mình, muốn
giành được quyền lãnh đạo, giữ được chính quyền phải xây dựng cho được
ĐNCB thực sự trung thành và tài năng.
Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ Đảng chưa nắm chính
quyền, C.Mác - Ph.Ăngghen chưa có thực tế để bàn nhiều về cán bộ, mặc dù
hai ông rất quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ những nhà tuyên truyền,
cổ động, truyền bá tư tưởng cộng sản; lãnh đạo, tổ chức phong trào đấu tranh
của giai cấp vô sản.
Là học trò xuất sắc của C.Mác - Ph.Ăngghen, V.I.Lênin nhận thức rõ
vai trò to lớn của ĐNCB, từ việc giác ngộ tư tưởng cho quần chúng, đến việc
tổ chức họ lại tạo thành một khối thống nhất giữa ý chí và hành động. Trong
mỗi thời kỳ cách mạng, người cán bộ có nhiệm vụ trọng đại khác nhau. Nếu


17
trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, các lãnh tụ của Đảng chủ yếu làm
công tác tuyên truyền và tổ chức khởi nghĩa; thì khi giành được chính quyền,
nhiệm vụ giáo dục quần chúng vẫn phải tiếp tục, nhưng nhiệm vụ trọng tâm
nhất của người cán bộ là công tác tổ chức thực tiễn trong lĩnh vực kinh tế.
Cán bộ luôn luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bảo đảm giữ vững
vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ tiến trình cách mạng vô sản. Sự
lãnh đạo của Đảng trước hết thông qua đường lối chính trị, đồng thời phải
thông qua con người và bộ máy tổ chức. V.I.Lênin viết: "Sự lãnh đạo chính trị
sẽ là gì chứ? Ai lãnh đạo nếu không phải là những con người, lãnh đạo cách
nào, nếu không phải là phân phối lực lượng?" [18, tr.306]. Người đã gắn chặt
ĐNCB, công tác cán bộ với vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò cán bộ, công
tác cán bộ chỉ được thể hiện rõ ràng, cụ thể, có hiệu lực khi gắn với đường lối
nhiệm vụ chính trị của Đảng. Người đã đòi hỏi, giai cấp công nhân phải xây
dựng cho mình một đội ngũ những người "tâm huyết": "Nghiên cứu con
người, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt; nếu không thế

Ngày nay, ĐNCB người DTTS tiếp tục được xây dựng, phát triển và có
vai trò to lớn trong sự nghiệp đổi mới. Nhiều con em của đồng bào đang đảm
nhiệm trọng trách trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý các cấp từ Trung ương đến
cơ sở.
Trong quy hoạch phân cấp giữa Trung ương và địa phương, cấp Trung
ương có chức năng lãnh đạo, quản lý vĩ mô những vấn đề quan trọng nhất có
liên quan tới toàn bộ đời sống xã hội, gồm: hoạch định đường lối chính sách,
kế hoạch dài hạn, xây dựng và ban hành luật pháp, pháp quy và cơ chế chung;
giải quyết những vấn đề liên quan tới công tác đối ngoại, an ninh - quốc
phòng. Cấp địa phương có trách nhiệm tiếp thu, vận dụng, cụ thể hóa và tổ
chức triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Trung ương
trong phạm vi địa bàn của mình; lãnh đạo, quản lý mọi lĩnh vực trên địa bàn
lãnh thổ nhằm phát huy mọi tiềm năng của địa phương. Do đó, vai trò ĐNCB
người DTTS Hòa Bình được thể hiện ở những nội dung sau:
Đội ngũ cán bộ người DTTS trực tiếp lĩnh hội mọi nghị quyết, chủ
trương, chính sách, pháp luật của Trung ương, triển khai và quán triệt, tổ chức
chỉ đạo thực hiện tại địa phương. Họ có vai trò quyết định trong xây dựng chủ
trương, định hướng chương trình, kế hoạch phát triển toàn diện trong phạm vi


20
từng cấp, ngành, từng lĩnh vực ở địa phương; đồng thời, từ thực tiễn sinh
động ở địa phương, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, kiến nghị với Trung ương
để bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện đường lối chính sách chung nhằm đẩy nhanh
tốc độ CNH, HĐH của cả nước.
Đội ngũ cán bộ người DTTS là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, là lực
lượng trung gian đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng - Nhà nước
đến với nhân dân; đồng thời, cũng là người tổ chức cho nhân dân thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ cách mạng của Đảng, của dân tộc. Đúng như cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã từng nói: "Chỉ có đồng bào và cán bộ người dân tộc mình

Bờ. Ngày 5/9/1896, tỉnh lỵ chuyển về đóng tại làng Vĩnh Diệu, xã Hòa Bình,
phía tả ngạn sông Đà đối diện với Phương Lâm. Từ đó, tỉnh Mường được gọi là
tỉnh Hòa Bình. Mùa xuân 1976, hai tỉnh Hòa Bình, Hà Tây hợp nhất thành Hà
Sơn Bình. Tại kỳ họp tháng 8/1991, Quốc hội khóa VIII quyết định điều chỉnh
địa giới và chia lại một số tỉnh. Tỉnh Hà Sơn Bình được chia thành hai: Hòa
Bình, Hà Tây. Tỉnh Hòa Bình được tái lập và chính thức đi vào hoạt động từ
1/10/1991.
Hòa Bình là tỉnh miền núi: phía Bắc giáp với tỉnh Phú Thọ; phía Nam
tiếp giáp với tỉnh Hà Nam, Ninh Bình; phía Đông tiếp giáp với tỉnh Hà Tây;
phía Tây tiếp giáp với tỉnh Sơn La, Thanh Hóa. Có 11 huyện, thị xã: Lương
Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, Yên Thủy, Tân Lạc, Lạc Sơn, Kỳ Sơn, Đà Bắc, Mai


23
Châu, Cao Phong và thị xã Hòa Bình. Diện tích tự nhiên 4.662 km 2, dân số
795.161 người, mật độ dân số 170,5 người/km2 [11].
Địa hình Hòa Bình rất đa dạng, phức tạp, có thể chia thành 4 khu vực:
- Khu vực núi huyện Đà Bắc: đây là khu vực núi cao và hiểm trở nhất
của Hòa Bình có độ cao trung bình từ 500-1000m, có một số đỉnh núi cao trên
1000m, địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn trên 300, có nơi tới 400.
- Khu vực núi huyện Kỳ Sơn: có ngọn núi Đồi Thơi, Cất Ca, Viên
Nam cao trên 1000m. Núi ở khu vực này được kiến tạo bởi mác ma, mạng
lưới thủy văn có nhiều thác ghềnh cao từ 1-2m.
- Khu vực núi đá vôi phía Tây và Tây Nam: đây chính là một phần của
cao nguyên Mộc Châu kéo xuống huyện Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Sơn, hình
thành dãy núi đã vôi khá cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, ở đây
quá trình cacxtơ rất phát triển, là khu vực cácxtơ điển hình của tỉnh Hòa Bình.
- Khu vực đồi và đồng bằng thung lũng:
Đồi ở Hòa Bình đa số có độ cao 200-300m, tập trung chủ yếu ở các
huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thủy, Lạc Thủy. Các đồi phần lớn được cấu tạo

phục vụ các trạm bơm ở khu vực hạ lưu), đối phó lũ lụt (trong 10 năm thập kỷ
90, trung bình mỗi năm nhà máy đã phải cắt lũ từ 4 đến 6 trận. Đặc biệt lũ lớn
ngày 18/8/1996 là 22.650 m3/s, nếu không có sự điều tiết của hồ chứa Hòa
Bình thì mực nước hạ lưu tại Hòa Bình, Hà Nội trong đỉnh lũ ngày đó vượt
quá khả năng bảo vệ của đê sông Đà và đê sông Hồng).
Thủy điện Hòa Bình, đã làm tăng diện tích mặt nước hồ chứa, điều
hòa khí hậu, kích thích thảm thực vật che phủ phát triển, tạo môi trường cho
đánh bắt thủy sản, làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa.
Cũng nhờ có thủy điện, tuyến giao thông đường thủy Hà Nội - Việt Trì - Hòa
Bình - Sơn La trên 300 km được cải thiện, tàu vài ngàn tấn chung chuyển
hàng hóa qua đập sông Đà có thể nối liền mạch máu giao thông giữa đồng
bằng sông Hồng với vùng Tây Bắc.


25
Về hiệu quả sản xuất điện năng, khi thủy điện Hòa Bình phát điện,
không chỉ chấm dứt tình trạng cắt điện các phụ tải luân phiên, mà còn bổ sung
kịp thời nguồn điện cho các tỉnh miền Trung và miền núi; đất nước đủ nguồn
điện năng mở rộng các khu công nghiệp lớn, phát triển lưới điện nông thôn,
tạo nguồn lực cho xây dựng tiếp các nhà máy thủy điện loại vừa và nhỏ ở khu
vực miền Trung và Tây Nguyên.
Không chỉ có nguồn tiềm năng lớn về thủy năng, Hòa Bình còn có
tiềm năng lớn về khoáng sản, về nông, công nghiệp, dịch vụ...
Về khoáng sản: trong lòng đất, nhiều loại khoáng sản được khai thác
sử dụng, có loại đang ở tiềm năng: than, kẽm, thủy ngân, đồng, chì, sắt,
vàng... Đặc biệt, ở Kim Bôi có than mỡ, tuy trữ lượng không lớn nhưng rất
cần cho công nghiệp luyện kim; vàng sa khoáng là một loại kim loại quý có
rải rác tại nhiều địa bàn trong tỉnh; đất sét có chất lượng tốt phục vụ cho sản
xuất gốm sứ; đá ốp lát (đá granít), đá vôi, đá xanh... rất dồi dào, là nguồn
nguyên liệu có giá trị trong công nghiệp xây dựng, làm cầu, làm đường giao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status