BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ BẢO NGỌC
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG
LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 VÀ LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..
HÀ NỘI – NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi, có
sự hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn là PGS. TS Dương Đăng Huệ. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực. Những số liệu phục vụ cho
việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn
khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng
một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức
khác và cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo. Nếu phát hiện có bất cứ sự
gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng cũng như kết
quả luận văn của mình.
Hà Nội, ngày….. tháng ….. năm 2017
LĐT : Luật Đầu tư
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH
DOANH VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KINH DOANH 7
1.1. Khái niệm, nội dung, ý nghĩa của quyền tự do kinh doanh và bảo đảm quyền
tự do kinh doanh 7
1.1.1 Khái niệm quyền tự do kinh doanh 7
1.1.2. Nội dung của quyền tự do kinh doanh 9
1.1.3. Khái niệm bảo đảm quyền tự do kinh doanh 14
1.1.4. Ý nghĩa của quyền tự do kinh doanh và bảo đảm quyền tự do kinh doanh18
1.2. Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh 21
1.2.1. Pháp luật củng cố tiền đề kinh tế để thực hiện quyền tự do kinh doanh21
1.2.2. Pháp luật thiết lập tiền đề pháp lý để thực hiện quyền tự do kinh doanh 23
1.2.3. Pháp luật ngăn chặn hành vi cản trở hoạt động kinh doanh thông qua việc
quy định các chế tài pháp lý. 24
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh và bảo đảm quyền tự do
kinh doanh 25
1.3.1. Chế độ chính trị 25
1.3.2. Cơ chế quản lý kinh tế 26
1.3.3. Văn hóa kinh doanh 27
1.4. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong pháp luật một số quốc gia trên thế
giới. 29
1.4.1. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong pháp luật Cộng hòa liên bang Nga29
3.1.2. Một số khó khăn, vướng mắc 68
3.2. Kiến nghị giải pháp đưa Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm
2014 vào cuộc sống nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp 74
3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư 74
3.2.2. Các giải pháp thực thi Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư năm 2014
để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp 79
KẾT LUẬN 85
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế, ở từng giai đoạn khác nhau,vấn đề
quyền tự do kinh doanh được nhìn nhận dưới các mức độ khác nhau và được ghi
nhận khác nhau trong các văn bản quy phạm pháp luật. Quyền tự do kinh doanh
theo đúng nghĩa của nó chỉ mới được chính thức thừa nhận trong Hiến pháp năm
1992, đặc biệt là trong Hiến pháp năm 2013. Điều 33 Hiến pháp năm 2013 quy
định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp
luật không cấm”. Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để công dân
được hưởng một trong những quyền kinh tế cơ bản của mình.
Để bảo đảm quyền tự do kinh doanh được thực hiện, Nhà nước ta đã thiết
lập nhiều cơ chế hữu hiệu nhằm ghi nhận, bảo vệ và cổ vũ các doanh nghiệp đầu
tư, sản xuất, kinh doanh. Sự hội nhập ngày càng mạnh mẽ của đất nước, quan hệ
giao lưu kinh tế ngày càng mở rộng đòi hỏi sự thay đổi tương ứng trong các quy
định của pháp luật. Hệ thống pháp luật được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện; các
chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư được áp dụng đối với cả nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài. Trong năm 2014 – năm đầu tiên triển khai thi hành
Hiến pháp 2013, nổi bật trong số những đạo luật được Quốc hội thông qua là
Luật Doanh nghiệpvà Luật Đầu tư. Hai đạo luật này đã tạo điều kiện thông
thoáng hơn để cải thiện môi trường kinh doanh của đất nước.
Bởi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới ra đời, thực tiễn áp dụng chưa
Các công trình chuyên sâu liên quan trực tiếp đến đề tài mà tác giả lựa
chọn có thể kể đến: Một số vấn đề cấp thiết cần giải quyết để đảm bảo quyền tự
do kinh doanh của PGS.TS Dương Đăng Huệ (1992) – Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, số 78/1992; Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo
quyền tự do kinh doanh ở nước ta của tác giả Bùi Ngọc Cường (2001), Luận án
tiến sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội; Tự do kinh doanh: Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn của tác giả Bùi Xuân Hải (2011), Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
06/2011...
Gần đây, một số luận văn Thạc sỹ Luật học cũng đề cập đến vấn đề quyền
tự do kinh doanh và bảo đảm quyền tự do kinh doanh dưới góc độ pháp luật
hoặc gắn với Luật chuyên ngành, như: Luật Doanh nghiệp 2005 với việc mở
rộng quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam của Trần Anh Tuấn (2006), luận văn
Thạc sỹ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội; Bảo vệ quyền tự do kinh doanh
theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 của Nguyễn Thị Giang (2012), luận
văn Thạc sỹ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội; Bảo vệ quyền tự do kinh
doanh theo pháp luật Việt Nam của Tân Khải Nhân (2013), Luận văn Thạc sỹ
Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội; Bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo Luật
Doanh nghiệp 2014 của Phạm Thị Hải Ninh (2016), luận văn Thạc sỹ Luật học,
Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam;...
Nhìn chung, các bài viết và công trình nêu trên đều thể hiện quan điểm,
góc nhìn khác nhau của các tác giả về quyền tự do kinh doanh, bảo đảm quyền
tự do kinh doanh. Tuy nhiên hầu hết các bài viết kể trên đều trước thời điểm
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2014 được ban hành, và vì vậy, vấn đề bảo
đảm quyền tự do kinh doanh thể hiện trong hai Luật này dường như còn bỏ ngỏ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề lý luận về quyền tự do kinh
doanh, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và những quy định của Luật Doanh
pháp luật cũng như về mặt thực thi pháp luật, bảo đảm quyền tự do kinh doanh
được tôn trọng và thực hiện triệt để hơn nữa trong những năm tiếp theo.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn hướng tới trả lời các câu hỏi sau:
- Thế nào là quyền tự do kinh doanh và bảo đảm quyền tự do kinh doanh?
- Thực trạng quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014
về bảo đảm quyền tự do kinh doanh.
- Thực hiện quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014
đã đạt được những kết quả gì và có vướng mắc như thế nào đối với việc bảo
đảm quyền tự do kinh doanh?
- Giải pháp hoàn thiện Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014 và
đưa các quy định của pháp luật vào cuộc sống để đảm bảo hơn nữa quyền tự do
kinh doanh.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nắm vững quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó luôn khẳng định quyền tự do kinh doanh
là một trong những quyền cơ bản, quan trọng của công dân. Luận văn vận dụng
các nguyên tắc phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, của lý luận nhà
nước và pháp luật làm cơ sở nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc bảo đảm
quyền tự do kinh doanh.
Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
Phương pháp mô tả, diễn giải, lịch sử - cụ thể được sử dụng để làm rõ các
vấn đề lý luận liên quan đến quyền tự do kinh doanh và bảo đảm quyền tự do
kinh doanh;
Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh pháp luật để
phân tích những quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2014 thể hiện
vai trò trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh;
năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 góp phần bảo đảm quyền tự do kinh doanh
của doanh nghiệp.
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH
DOANH VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
1.1. Khái niệm, nội dung, ý nghĩa của quyền tự do kinh doanh và bảo đảm
quyền tự do kinh doanh
1.1.1 Khái niệm quyền tự do kinh doanh
Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú, phức tạp nhất của
con người. Dưới góc độ kinh tế. Khi đó, kinh doanh được hiểu là một phạm trù
gắn liền với sản xuất hàng hóa, đó là tổng thể các phương thức, phương tiện,
cách thức được sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế nhằm mục đích thu
lợi nhuận cao nhất.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm kinh doanh lần đầu tiên xuất hiện trong
Luật Công ty năm 1990, theo đó “kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc
tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Cách hiểu về kinh
doanh xuyên suốt và khá thống nhất trong hệ thống pháp luật về thương mại, kinh
tế. Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2014 hiện hành định nghĩa về kinh doanh cũng
tương tự như các Luật trước đây (Khoản 16 Điều 4).
Từ những khái niệm về “kinh doanh” nêu trên, “tự do kinh doanh” có thể
được hiểu đơn giản là hoạt động có ý thức của con người, là khả năng con người
được tự mình, theo ý chí và vì lợi ích của mình mà lựa chọn cách thức thực hiện
quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm để tạo ra lợi nhuận. Tuy
nhiên, “tự do kinh doanh” không chỉ là một khái niệm đơn thuần về mặt kinh tế,
mà nó còn gắn với “quyền” – quyền tự do kinh doanh, vốn là một khái niệm thể
hiện mối quan hệ giữa nhà nước với cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng.
phát triển kinh tế, xã hội.”2.
Quyền tự do kinh doanh nằm trong hệ thống các quyền con người, quyền
công dân, bao gồm các quyền trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, giáo
dục, khoa học công nghệ,… Quyền tự do kinh doanh và các quyền khác của
công dân có mối quan hệ mật thiết, bổ trợ, tác động lẫn nhau, vừa là tiền đề, điều
kiện, vừa là kết quả của nhau.
Qua tìm hiểu về khái niệm kinh doanh nói chung cũng như đặt trong dưới
góc độ tiếp cận là một quyền con người quan trọng, có thể định nghĩa về quyền
tự do kinh doanh như sau: Quyền tự do kinh doanh là khả năng của con người
(cá nhân, pháp nhân) được tự mình (theo ý chí, nguyện vọng và vì lợi ích của
mình) quyết định cách thức thực hiện các hoạt động sản xuất – kinh doanh từ
đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm để tạo ra lợi nhuận. Khả năng này được
Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện.
1.1.2. Nội dung của quyền tự do kinh doanh
1.1.2.1. Quyền được bảo đảm sở hữu
Ở nước ta, trước thời kì đổi mới, sở hữu tư nhân không được bảo đảm.
Chúng ta chỉ chú trọng và khuyến khích sở hữu tập thể và sở hữu Nhà nước. Kết
quả là kinh tế bị kìm hãm, kém phát triển. Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam năm 1986, chúng ta đã nhận thức ra rằng, sự tồn tại nhiều
hình thức sở hữu (trong đó có sở hữu tư nhân) đối với tư liệu sản xuất là khách
quan, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của nước ta trong
giai đoạn hiện nay. Hiến pháp năm 1992 đã thừa nhận và bảo đảm sự tồn tại của
nhiều hình thức sở hữu bao gồm: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư
nhân. Các chủ sở hữu là các nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ 3 quyền là:
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.
Quyền được bảo đảm về sở hữu có ý nghĩa hết sức quan trọng, không
những đối với cá nhân, tổ chức mà còn đối với toàn xã hội. Trong mối quan hệ
với quyền tự do kinh doanh, quyền được bảo đảm về sở hữu là nền tảng, tiền đề,
kiện, hoàn cảnh, phù hợp với yêu cầu ngành nghề, quy mô kinh doanh.
Ngành nghề kinh doanh là lĩnh vực hoạt động thường xuyên, chủ yếu của
nhà kinh doanh. Nhà đầu tư không những được quyền tự do lựa chọn một hoặc
nhiều ngành nghề phù hợp với quy định của pháp luật và khả năng của mình mà
còn được quyền thay đổi các ngành nghề đó toàn bộ quá trình kinh doanh.
Quyền tự do lựa chọn các ngành nghề không những khuyến khích nhà đầu tư
không ngừng tìm tòi, sáng tạo mà còn tạo thuận lợi cho họ linh hoạt thay đổi
ngành nghề kinh doanh đáp ứng yêu cầu của thị trường, mở rộng quy mô kinh
doanh.
Quy mô kinh doanh thể hiện độ rộng lớn về mặt tổ chức hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, quy mô kinh doanh thể hiện ở số lượng lao động được
sử dụng, vốn kinh doanh, sản phẩm... Nhà đầu tư có quyền tự do lựa chọn quy
mô kinh doanh trước khi thành lập doanh nghiệp đồng thời có quyền thay đổi
quy mô trong toàn bộ quá trình kinh doanh.
Địa điểm kinh doanh là nơi hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh
nghiệp được tổ chức thực hiện. Nhà đầu tư có thể tổ chức kinh doanh tại địa chỉ
đăng kí trụ sở chính hoặc ngoài địa chỉ trụ sở chính. Nhà đầu tư có thể tiến hành
tổ chức kinh doanh tại một hoặc nhiều đại điểm. Nhà nước bảo đảm quyền tự do
lựa chọn địa điểm kinh doanh sẽ giúp nhà đầu tư giảm chi phí sản xuất, giảm giá
thành sản phẩm, thuận lợi trong việc khai thác các nguồn lực, thế mạnh của từng
địa phương.
1.1.2.3. Quyền tự do thành lập và đăng kí kinh doanh, tổ chức lại doanh
nghiệp và rút khỏi thị trường.
Quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh, tổ chức lại doanh nghiệp
và rút khỏi thị trường có tác động trực tiếp tới sự hình thành và tồn tại của mỗi
doanh nghiệp. Quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh có ý nghĩa quan
trọng, quyền này đã khai sinh doanh nghiệp. Tự do thành lập doanh nghiệp và
các chủ thể kinh doanh mới thiết lập được quan hệ kinh doanh với các chủ thể
khác theo ý chí của mình và phù hợp với quy định của pháp luật. Quyền tự do
hợp đồng thể hiện thông qua việc các chủ thể kinh doanh có thể tự do lựa chọn
đối tác kí kết hợp đồng, tự do lựa chọn đối tượng của hợp đồng, tự do xác lập,
thực hiện và thay đổi hợp đồng... trên cơ sở phù hợp với những quy định của
pháp luật. Quyền tự do kí kết hợp đồng có ý nghĩa hết sức quan trọng, thông qua
việc thực hiện quyền này sẽ thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển, bảo đảm
cho các quan hệ kinh doanh thực hiện thực hiện trong hành lang pháp lí an toàn.
Thông qua việc xác lập, thực hiện hợp đồng các chủ thể kinh doanh có thể thực
hiện hoạt động kinh doanh một cách chủ động, sáng tạo và xác lập các biện
pháp tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất.
1.1.2.5. Quyền tự do cạnh tranh
Quyền tự do cạnh tranh là việc doanh nghiệp có quyền tự chủ cạnh tranh
theo ý chí của mình phù hợp với những quy định của pháp luật. Tự do cạnh
tranh không những là quyền quan trọng của doanh nghiệp mà còn là nguyên tắc
cơ bản của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng ta
buộc phải tuân theo quy định của nền kinh tế thị trường mà trong đó quy luật
cạnh tranh là một thành tố cơ bản không thể tách rời.
Nhà đầu tư có quyền thực hiện tất cả các hành vi cạnh tranh trừ những
hành vi hạn chế cạnh tranh xâm hại đến lợi ích của người tiêu dùng, của Nhà
nước, của những chủ thể kinh doanh khác; và những hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Ví dụ: hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm hại bí mật kinh doanh, ép
buộc trong kinh doanh,... Doanh nghiệp thực hiện quyền tự do cạnh tranh phù
hợp với quy định của pháp luật sẽ góp phần bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng,
của Nhà nước và của các chủ thể kinh doanh khác.
Tự do cạnh tranh là nội dung quan trọng của tự do kinh doanh, đồng thời
nó cũng là điều kiện bảo đảm cho quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư được
thực hiện. Tự do cạnh tranh lành mạnh là động lực thúc đẩy, khuyến khích
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhưng không chỉ mang lại những hiệu quả
tích cực như vậy, kinh doanh bản thân nó cũng ẩn chứa những yếu tố tiêu cực
mà nếu không có sự điều chỉnh phù hợp thì sẽ gây ra những hậu quả cho kinh tế,
xã hội. Nói đến kinh doanh là nói đến việc tìm kiếm lợi nhuận. Tự do kinh
doanh cũng chính là tự do hành động, hoạt động để tạo ra lợi nhuận. Trong bất
kỳ nền kinh tế thị trường nào, tự do kinh doanh cũng có thể dẫn tới tình trạng
các chủ thể chèn ép nhau, tìm cách loại bỏ nhau trong xu thế cạnh tranh khốc