Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật cạnh tranh ở việt nam hiện nay - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ ……

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG BẰNG PHÁP LUẬT
CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..

HÀ NỘI – NĂM 2017


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn của mình, trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
tới thầy – TS. Nguyễn Văn Cương là người đã hướng dẫn tôi hết sức tận tình trong
thời gian qua. Thầy đã gợi mở cho tôi nhiều ý tưởng và cho tôi những kiến thức
chuyên sâu mà chắc chắn với thời gian nghiên cứu hạn chế tôi không thể tự mình
khám phá.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu,
toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp
luật kinh tế và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
thạc sĩ.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình – những người đã luôn ở bên cổ vũ,

6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn 5
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5
8. Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG BẰNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH 6
1.1. Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 6
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng 6
1.1.2. Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 8
1.2. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật cạnh tranh 11
1.2.1. Khái niệm pháp luật cạnh tranh 11
1.2.2. Vai trò của pháp luật cạnh tranh trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng 13
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG BẰNG
PHÁP LUẬT CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 17
2.1. Các quy định của pháp luật cạnh tranh liên quan đến bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng 17
2.1.1. Các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh 18
2.2.2. Các quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh 36


2.2.3. Các quy định xử lý hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh 43
2.2. Thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh liên quan đến bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng 47
2.2.1. Thực trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng 47
2.2.2. Những bất cập trong thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh liên quan đến
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 57
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG BẰNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
TRONG THỜI GIAN TỚI 63
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật

tiêu dùng như: hành vi thỏa thuận ấn định giá, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh, hành vi kinh doanh đa cấp bất chính,… Do đó, pháp luật cạnh
tranh có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Việt Nam là một trong những quốc gia trong khu vực ban hành Luật Cạnh
tranh sớm nhất. Sau hơn 10 năm đi vào cuộc sống, Luật đã phần nào phát huy vai


trò của mình trong việc kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh
không lành mạnh. Tuy nhiên, trên thực tế, thực trạng vi phạm pháp luật cạnh tranh
xâm hại quyền lợi các doanh nghiệp đối thủ nói chung và người tiêu dùng nói riêng
vẫn diễn ra phổ biến, thậm chí có xu hướng tăng lên. Một loạt các vấn đề như: giá
thuốc không ngừng tăng và cao hơn rất nhiều so với giá của nhà sản xuất; các công
ty đưa ra những thông tin quảng cáo sai sự thật về sản phẩm; kinh doanh đa cấp bất
chính len lỏi về mọi vùng quê; các doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận ấn định phí
bảo hiểm vật chất ô tô;… đã cho thấy không ít doanh nghiệp bất chấp quyền lợi của
người tiêu dùng để tìm kiếm lợi nhuận. Hơn thế, trong quá trình giải quyết các vụ
việc vi phạm pháp luật cạnh tranh này, quyền lợi của người tiêu dùng chưa được các
cơ quan quản lý cạnh tranh quan tâm thỏa đáng. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả
quyết định lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật
cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” hi vọng có thể góp một phần phân tích về thực
trạng và kiến nghị nâng cao vai trò của pháp luật cạnh tranh trong công tác bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hay pháp luật cạnh tranh là những vấn đề
được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ
yếu tập trung vào nội dung bảo vệ người tiêu dùng bằng các quy định của pháp luật
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc phân tích pháp luật cạnh tranh dưới khía
cạnh vai trò đảm bảo cấu trúc thị trường lành mạnh. Một loạt các công trình có thể
kể tên như:
- Dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng có các công trình: “Một số vấn đề lý

quảng cáo gây nhầm lẫn theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam” - Luận văn thạc
sĩ luật học của Nguyễn Thị Thiêm năm 2013; “Cạnh tranh và thực thi pháp luật
cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam” - Luận văn thạc sĩ luật học của
Hoàng Văn Thành năm 2011;…
Cùng với đó là các cuốn sách như: “Vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng
trong việc bảo vệ người tiêu dùng” của Nguyễn Thị Vân Anh chủ biên - Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2012; “Hỏi – đáp pháp luật cạnh tranh” của
Nguyễn Văn Hiển – Nhà xuất bản Lao động – Xã hội xuất bản năm 2005; “Những
nội dung cơ bản của luật cạnh tranh” của Vụ công tác lập pháp - Nhà xuất bản Tư
pháp xuất bản năm 2005; “Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc
quyền để hạn chế cạnh tranh về giá” của Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến - Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2013; “Pháp luật điều chỉnh các thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Nhung – Nhà xuất
bản Chính trị - Hành Chính xuất bản năm 2012; “Pháp luật về chống cạnh tranh
không lành mạnh ở Việt Nam” của Lê Anh Tuấn – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
xuất bản năm 2009; “Tìm hiểu về luật cạnh tranh” của Trần Minh Sơn – Nhà xuất
bản Tư pháp xuất bản năm 2005;…
Có thể thấy, hệ thống các công trình nghiên cứu về nội dung bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng và nội dung pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay là vô
cùng đồ sộ. Tuy nhiên, nội dung bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng các quy
định của pháp luật cạnh tranh thì hiện vẫn còn một khoảng trống nhất định. Bởi vậy
tác giả đã lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng các quy định
của pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ


luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu là các quy định và thực thi các quy định pháp luật
cạnh tranh liên quan tới bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Với dung lượng hạn chế của một luận văn tác giả chỉ

* Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở những bất cập được phát hiện, tác giả đề xuất
các giải pháp cụ thể để khắc phục các bất cập đó. Các giải pháp này bao gồm giải
pháp hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi các quy
định của pháp luật cạnh tranh liên quan tới bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
8. Bố cục của luận văn
Bên cạnh, phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, để
đảm bảo tính hợp lý, logic của nội dung luận văn, luận văn được kết cấu thành 03
(ba) chương:
Chương 1. Những vấn đề lí luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng
pháp luật cạnh tranh
Chương 2. Thực trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật
cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay
Chương 3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng bằng pháp luật cạnh tranh trong thời gian tới.


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG BẰNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
1.1. Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng
Người tiêu dùng là đối tượng được pháp luật bảo vệ đặc biệt hơn trong quan
hệ với doanh nghiệp trong nền kinh tế. Tuy nhiên, quan niệm về người tiêu dùng ở
các quốc gia trên thế giới không hoàn toàn giống nhau. Pháp luật Trung Quốc, Hoa
Kỳ và Châu Âu, quy định người tiêu dùng chỉ là thể nhân (cá nhân). Pháp nhân do
có những vị thế và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với doanh nghiệp
trên thị trường nên pháp luật không cần phải can thiệp sâu vào quan hệ tiêu dùng
của họ. Pháp luật Hàn Quốc quy định người tiêu dùng bao bồm cả thể nhân và pháp
nhân. Pháp luật Thái Lan còn có một cách tiếp cận nữa tương đối mới mẻ là quy
định những người mới chỉ được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hóa, sử

này về cơ bản mới chỉ chỉ rõ được một vấn đề cơ bản của khái niệm người tiêu dùng
là vấn đề về mục đích mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ.
Về mục đích mua hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng thì nội hàm khái
niệm người tiêu dùng tại Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
năm 2010 đã chỉ rõ mục đích của hoạt động mua là để phục vụ “tiêu dùng, sinh


hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Giới hạn mục đích trên theo đánh giá của cá
nhân tác giả là phù hợp, không quá rộng đến mức khó thực hiện đồng thời cũng
không quá hẹp đến mức làm hạn chế quyền của mỗi người tiêu dùng.
Tuy nhiên, Luật vẫn chỉ sử dụng một khái niệm rất chung chung là “người”
để giải thích cho khái niệm người tiêu dùng. “Người” (mua, sử dụng hàng hóa, dịch
vụ) là thể nhân (cá nhân), pháp nhân, tổ chức hay bao gồm cả thể nhân, pháp nhân
và tổ chức? Đây là câu hỏi đã được tranh luận rất sôi nổi ngay từ những năm cuối
thế kỷ XX – trước thời điểm Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban
hành nhưng sau hơn 10 năm thi hành Pháp lệnh, khi ban hành Luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng, các nhà làm luật vẫn tiếp tục sử dụng cách giải thích gây nhiều tranh
cãi này.
Như vậy, người tiêu dùng chính là cá nhân/ tổ chức mua, sử dụng hàng
hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức;
những cá nhân/ tổ chức đó có thể trực tiếp hoặc không trực tiếp giao kết hợp
đồng với tổ chức, cá nhân sản xuất/ kinh doanh.
1.1.2. Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Khi nền kinh tế còn ở trình độ sơ khai, quan hệ dân sự chủ yếu là quan hệ
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các cá nhân với nhau trong xã hội và
hàng hóa, dịch vụ cũng ở dạng đơn giản, dễ nhận biết và việc đàm phán hợp đồng
diễn ra không quá phức tạp. Tuy nhiên, thế kỷ XX đánh dấu sự phát triển vượt bậc
của khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin; hàm
lượng chất xám trong hàng hóa, dịch vụ ngày càng tăng; nhiều sản phẩm rất khó có
thể kiểm tra chất lượng bởi một người bình thường. Các giao dịch dân sự giờ đây đã

hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch
với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Bốn là quyền được góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức
giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Năm là quyền được tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Sáu là quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả
hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố,
niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.
Bảy là quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi
kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Tám là quyền được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng
hóa, dịch vụ. 5
Có thể thấy, những quyền lợi mà người tiêu dùng Việt Nam được pháp luật
ghi nhận phù hợp với thông lệ quốc tế, nhất là các quyền: quyền được thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản; quyền được an toàn; quyền được thông tin; quyền được lựa
chọn; quyền được lắng nghe; quyền được khiếu nại và bồi thường và quyền được
giáo dục, đào tạo về tiêu dùng đã được Liên hợp quốc công nhận và công bố.


Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam cho thấy bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng được rất nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau quan tâm điều chỉnh. Có thể
là bảo vệ một cách trực diện bằng các quy phạm về bảo hành, quy phạm về yêu cầu
bồi thường thiệt hại,… hoặc được bảo vệ gián tiếp thông qua việc Nhà nước ban
hành các quy phạm nhằm tạo lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh, tự do
và công bằng. Khi môi trường cạnh tranh là lành mạnh, tự do và công bằng thì

Vì vậy, pháp luật cạnh tranh được ban hành nhằm kiểm soát các hành vi như vậy.
Như vậy, pháp luật cạnh tranh có thể hiểu là một lĩnh vực pháp luật điều
chỉnh hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh nhằm bảo đảm cạnh tranh tự
do, công bằng và lành mạnh trên thị trường.
Pháp luật cạnh tranh không phải là loại pháp luật có mục tiêu trực tiếp nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh
tế của mỗi quốc gia mà mục tiêu chính là ngăn ngừa và xử lí các hành vi cạnh tranh
trái pháp luật, trái đạo đức và tập quán kinh doanh. Hay nói cách khác, pháp luật
cạnh tranh có mục tiêu là thực hiện việc duy trì năng lực cạnh tranh thực tế của các
6 Điều 58 Luật Cạnh tranh năm 2004.
doanh nghiệp. Với mục tiêu đó, sự khác biệt của pháp luật cạnh tranh so với các loại
pháp luật khác được thể hiện ở 3 đặc trưng cơ bản sau: (1) pháp luật cạnh tranh có
tính tiếp cận từ mặt trái (pháp luật cạnh tranh chỉ quy định các hành vi bị ngăn cấm
trong hoạt động cạnh tranh chứ không hướng dẫn các chủ thể kinh doanh cần làm


những gì hoặc phải làm gì trong quá trình cạnh tranh trên thị trường); (2) pháp luật
cạnh tranh thường đặt ra các điều khoản mở và những quy định miễn trừ cho phép
cơ quan thi hành luật cạnh tranh có thể áp dụng pháp luật một cách linh hoạt; và (3)
ngoài các quy định về nội dung điều chỉnh hành vi cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh
còn có các quy định để đảm bảo thực thi luật cạnh tranh là các quy định điều chỉnh
hoạt động tố tụng cạnh tranh và xử lí vi phạm pháp luật cạnh tranh. 7
Xét về nội dung điều chỉnh, pháp luật cạnh tranh điều chỉnh 2 quan hệ chính
sau: Một là quan hệ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh
doanh trên thị trường và hai là quan hệ giữa cơ quan thi hành luật cạnh tranh với
các chủ thể kinh doanh khi họ thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc hành
vi cạnh tranh không lành mạnh. Ở nhóm quan hệ thứ nhất, pháp luật cạnh tranh sẽ
can thiệp và định hướng công khai đối với các hành vi cạnh tranh của các chủ thể,
buộc các chủ thể phải lựa chọn cách xử sự hợp lí nhất tuân theo trật tự mà pháp luật
mong muốn. Để điều chỉnh nhóm quan hệ này, pháp luật cạnh tranh ở nhiều quốc

nào tiếp tục tồn tại trên thị trường, nên được cổ vũ để phát triển và doanh nghiệp
nào nên bị loại khỏi thị trường. 10 Tuy nhiên, kinh tế học hiện đại cũng đã chỉ ra
rằng, chủ quyền của người tiêu dùng chỉ thực sự có được trong điều kiện thị trường
cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng là thứ thị trường cạnh tranh
hoàn hảo (perfect competitive markets). 11
“Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là hình thái thị trường mà ở đó, những


người tham gia thị trường đều có quy mô quá nhỏ tới mức không đủ sức tự mình chi
phối, lũng đoạn giá cả, điều kiện giao dịch trên thị trường theo ý có lợi cho mình”. 12
Đây cũng là hình thái thị trường thỏa mãn các điều kiện cơ bản như: (1) Có rất
nhiều người mua và rất nhiều người bán tham gia thị trường (mà sự vắng bóng của
một hay một số người mua/ người bán không hề ảnh hưởng đáng kể tới tương tác
cung cầu trên thị trường); (2) Loại hàng hóa/ dịch vụ mà những người cung ứng trên
thị trường cung cấp về cơ bản là giống nhau (không có sự khác biệt cơ bản về tính
năng, công dụng, đặc điểm... đến mức người mua/ người tiêu dùng coi các hàng
hóa/ dịch vụ đó là thay thế được cho nhau một cách hợp lý); và (3) Doanh nghiệp
9 Nguyễn Như Phát, “Đưa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh vào cuộc sống”, Tạp
chí Luật học,
(6), tr.30.
10 Paul A.Samuelson & William D.Nordhaus (2002), Kinh tế học (bản dịch), Nxb. Thống
kê, Hà Nội, tr.95,
trích trong tài liệu: “Nguyễn Văn Cương (2008), “Một số vấn đề lý luận về quyền được thông
tin của người
tiêu dùng”, Nhà nước và pháp luật, (8), tr.18”.
11 Laurence S.Seidman (2009), Public Finance (Boston, McGraw-Hill), p.2, trích trong tài
liệu: “Nguyễn Văn
Cương (2008), “Một số vấn đề lý luận về quyền được thông tin của người tiêu dùng”, Nhà
nước và pháp luật,
(8), tr.18”.

cách trực diện bằng các quy định của Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng


và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh và sau đó là Luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, quyền lợi
người tiêu dùng còn được bảo vệ thông qua các quy định của Bộ luật Dân sự năm
13 N.Gregory Mankiw (2012), Principles of Microeconomics, 6 th ed. (Mason, OH: South –
Western), p.280,
trích trong tài liệu: “Nguyễn Văn Cương (2008), “Một số vấn đề lý luận về quyền được thông
tin của người
tiêu dùng”, Nhà nước và pháp luật, (8), tr.19”.
14 Paul A.Samuelson & William D.Nordhaus, tlđd 10, tr.19”.
2005 về giao dịch, hợp đồng; các quy định về xử phạt hành chính trong các lĩnh vực
có liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng; các quy định của Bộ luật Hình sự năm
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và trong nhiều văn bản pháp lý khác liên quan
đến sản xuất, kinh doanh dược phẩm, kinh doanh thuốc thú y, quy định về việc bảo
đảm chất lượng hàng hóa, công bố và đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật,
quảng cáo, khuyến mại,... 15 - nhóm văn bản gián tiếp bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng.
Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam hiện nay gồm 2 bộ phận kiểm soát 2
nhóm hành vi: (1) các quy định kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh và (2) các
quy định kiểm soát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Nhóm quy định kiểm
soát các hành vi hạn chế cạnh tranh góp phần kiểm soát các hành vi làm giảm, sai
lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, gây tác động tiêu cực đến môi trường cạnh
tranh, làm sai lệch cấu trúc thị trường, bóp méo môi trường cạnh tranh qua đó bảo
vệ cơ cấu, tương quan cạnh tranh trên thị trường đồng thời góp phần gián tiếp đảm
bảo quyền lợi người tiêu dùng. Nhóm quy định kiểm soát các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh bằng việc kiểm soát các hành vi đi ngược lại với quy tắc xử sự



lợi người tiêu dùng
Cạnh tranh trong kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng, được coi
là động lực của sự phát triển không chỉ đối với mỗi doanh nghiệp mà còn
với cả nền kinh tế. Có cạnh tranh, hàng hóa sẽ có chất lượng ngày càng tốt
hơn, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú, đa dạng hơn. Người tiêu dùng có
thể dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở
thích của mình. Để tăng sức cạnh tranh với doanh nghiệp khác, các doanh
nghiệp sẽ có những chính sách ưu đãi dành cho khách hàng – chính là
những người tiêu dùng. Vì vậy, người tiêu dùng sẽ nhận được sự chăm sóc
tận tình, chu đáo từ phía các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh những hành vi cạnh tranh mang lại lợi ích cho
người tiêu dùng thì có rất nhiều hành vi cạnh tranh đã và đang xâm hại trực
tiếp tới quyền lợi của họ. Vì vậy với mục tiêu là chống lại các tác động tiêu cực
của các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường
làm phương hại tới quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của doanh nghiệp và
người tiêu dùng, các hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành
mạnh đã được kiểm soát bởi các quy định của pháp luật cạnh tranh mà cụ thể là
Luật Cạnh tranh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Luật Cạnh tranh năm 2004 được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 12 năm
2004, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2005. Sau đó một loạt các văn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status