BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HẠT
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG BẰNG PHÁP LUẬT
CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn của mình, trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
tới thầy – TS. Nguyễn Văn Cương là người đã hướng dẫn tôi hết sức tận tình trong
thời gian qua. Thầy đã gợi mở cho tôi nhiều ý tưởng và cho tôi những kiến thức
chuyên sâu mà chắc chắn với thời gian nghiên cứu hạn chế tôi không thể tự mình
khám phá.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu,
toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp
luật kinh tế và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
thạc sĩ.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình – những người đã luôn ở bên cổ vũ,
tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho tôi; cảm ơn cơ quan đã tạo điều kiện thuận lợi
trong công việc để tôi có thể dành thời gian cũng như tâm huyết cho công trình
nghiên cứu của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận
văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này./.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
4
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
4
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
5
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
5
8. Bố cục của luận văn
5
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG BẰNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
6
2.1. Các quy định của pháp luật cạnh tranh liên quan đến bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng
17
2.1.1. Các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh
18
2.2.2. Các quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
36
2.2.3. Các quy định xử lý hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh
43
2.2. Thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh liên quan đến bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng
47
2.2.1. Thực trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng
47
2.2.2. Những bất cập trong thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh liên quan đến
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
57
76
KẾT LUẬN
82
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc thừa nhận nền kinh tế thị trường, hội nhập với thế giới bên ngoài đã làm
thay đổi căn bản nhu cầu và cách thức Nhà nước bảo vệ người tiêu dùng ở Việt
Nam. Từ vai trò của người buộc phải chấp nhận sản phẩm trong cơ chế kinh tế cũ,
người tiêu dùng Việt Nam đã trở thành một chủ thể trong nền kinh tế. Người tiêu
dùng là “Thượng Đế” do họ có khả năng, điều kiện và một phạm vi lựa chọn rộng
lớn – quyền bỏ phiếu bằng đồng tiền. Tuy vậy, trong điều kiện các thiết chế thị
trường chưa hoàn thiện, tính minh bạch chưa được đảm bảo thì “Thượng Đế” luôn
có nguy cơ trở thành “nạn nhân” trước sự lạm dụng ưu thế của nhà kinh doanh thông
qua những hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc hành vi hạn chế cạnh tranh.
Ở Việt Nam, người tiêu dùng với vị thế yếu so với doanh nghiệp được pháp
luật quan tâm bảo vệ bằng các công cụ khác nhau trong đó có pháp luật cạnh tranh.
Mặc dù mục tiêu chính của pháp luật cạnh tranh là nhằm đảm bảo cấu trúc thị
trường lành mạnh, duy trì cạnh tranh tự do và công bằng. Tuy nhiên, chính thông
qua việc duy trì cấu trúc thị trường lành mạnh, pháp luật cạnh tranh góp phần đảm
bảo tốt hơn quyền lợi cho người tiêu dùng. Hơn thế, pháp luật cạnh tranh Việt Nam
không chỉ có các quy định điều chỉnh cấu trúc thị trường mà còn có các quy định
điều chỉnh trực tiếp các hành vi của các doanh nghiệp xâm hại đến quyền lợi người
tiêu dùng như: hành vi thỏa thuận ấn định giá, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh, hành vi kinh doanh đa cấp bất chính,… Do đó, pháp luật cạnh
tranh có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Việt Nam là một trong những quốc gia trong khu vực ban hành Luật Cạnh
trạng và hướng hoàn thiện” của Trường Đại học Luật Hà Nội với các bài viết của
các tác giả Nguyễn Thị Vân Anh, Bùi Nguyên Khánh, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn
Văn Cương, Hoàng Minh Chiến, Nguyễn Hữu Huyên, Phạm Quế Anh; Đề tài khoa
học “Nghiên cứu vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng trong việc bảo vệ người
tiêu dùng ở Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nguyễn Thị Vân Anh
chủ biên; “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại
theo pháp luật Việt Nam” - Luận văn thạc sĩ luật học của Võ Thị Hạnh năm 2015;
“Thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan nhà
nước tại Việt Nam” – Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Hoàng Mỹ Linh năm
2014; “Chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp
luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam” - Luận văn thạc sĩ luật học của
Đặng Đình Ngọc năm 2013; “Vai trò của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng Vĩnh Phúc trong việc bảo vệ người tiêu dùng” - Luận văn thạc sĩ luật học
của Nguyễn Thị Tâm năm 2013;…
- Các công trình nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh có các bài viết của
PGS.TS. Nguyễn Như Phát (“Đưa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
vào cuộc sống”, “Một số quy định về tố tụng cạnh tranh theo luật cạnh tranh Việt
Nam”; “Luật so sánh và thực tiễn xây dựng luật cạnh tranh của Việt Nam”,…);
“Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh
Việt Nam” - Luận văn thạc sĩ luật học của Đỗ Thanh Thúy năm 2014; “Chế tài xử lý
đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam” Luận văn thạc sĩ luật học của Lương Thị Diệu Linh năm 2014; “Kiểm soát hành vi
quảng cáo gây nhầm lẫn theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam” - Luận văn thạc
sĩ luật học của Nguyễn Thị Thiêm năm 2013; “Cạnh tranh và thực thi pháp luật
cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam” - Luận văn thạc sĩ luật học của
Hoàng Văn Thành năm 2011;…
Cùng với đó là các cuốn sách như: “Vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng
trong việc bảo vệ người tiêu dùng” của Nguyễn Thị Vân Anh chủ biên - Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2012; “Hỏi – đáp pháp luật cạnh tranh” của
pháp luật cạnh tranh có liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Pháp luật cạnh tranh Việt Nam có vai trò như thế nào trong bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng?
- Hiện nay, đang còn tồn tại những bất cập gì trong các quy định và thực
trạng thực thi các quy định của pháp luật cạnh tranh liên quan đến bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng?
- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng bằng pháp luật
cạnh tranh?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, luận văn sử dụng
nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích để phân tích, đánh giá
các quy định pháp luật; phương pháp tổng hợp để tổng hợp các kết quả của thực
tiễn thi hành pháp luật; phương pháp diễn giải – quy nạp để trình bày các nội dung
cụ thể; phương pháp so sánh để so sánh quy định pháp luật cạnh tranh của Việt
Nam với các quốc gia khác trên thế giới.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa khoa học: Đề tài đã phân tích và chỉ ra được (i) vai trò bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng của pháp luật cạnh tranh và (ii) những điểm bất cập của
pháp luật cạnh tranh Việt Nam cũng như thực tiễn thi hành pháp luật cạnh tranh
trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
* Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở những bất cập được phát hiện, tác giả đề xuất
các giải pháp cụ thể để khắc phục các bất cập đó. Các giải pháp này bao gồm giải
pháp hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi các quy
định của pháp luật cạnh tranh liên quan tới bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
8. Bố cục của luận văn
Bên cạnh, phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, để
đảm bảo tính hợp lý, logic của nội dung luận văn, luận văn được kết cấu thành 03
quy định một người sử dụng hàng hóa dịch vụ được coi là người tiêu dùng khi họ sử
dụng hàng hóa dịch vụ đó vào mục đích phi thương mại. Cụ thể phần mục đích
trong khái niệm người tiêu dùng được quy định theo hướng “không nhằm mục
đích kinh doanh”. Tuy nhiên có một số quốc gia lại hoặc thu hẹp hoặc mở rộng
phạm vi mục đích sử dụng hàng hóa dịch vụ của người tiêu dùng hơn so với phạm
vi chung trên. Tiêu biểu trong khu vực Châu Á có Malaysia thu hẹp mục đích sử
dụng hàng hóa dịch vụ của người tiêu dùng bằng cách phân biệt và loại trừ những
chủ thể sử dụng hàng hóa dịch vụ cho quá trình sản xuất. Trong khi trên thực tế có
rất nhiều hoạt động tiêu dùng cho quá trình sản xuất như bảo hộ lao động, lương
thực thực phẩm cho cán bộ công nhân viên,... mà ở đó người thực hiện vẫn rất cần
Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương, So sánh Luật bảo vệ người tiêu dùng một số nước trên thế giới
– Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong dự thảo Luật bảo vệ người tiêu
dùng của Việt Nam, Tài liệu phục vụ công tác xây dựng Luật Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, tr.20-21.
2
Trích trong tài liệu “Võ Thị Hạnh (2015), Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo
thương mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Trường Đại học luật Hà Nội, tr.5-6”.
1
được bảo vệ dưới góc độ người tiêu dùng. Đối lập với pháp luật Malaysia, Luật bảo
vệ người tiêu dùng Hàn Quốc lại quy định người tiêu dùng bao gồm cả những người
sử dụng hàng hóa dịch vụ vào mục đích thương mại hoặc sản xuất kinh doanh. Khái
niệm này của Hàn Quốc là khá rộng nhưng sẽ có một hạn chế là làm cho hiệu lực
bảo vệ người tiêu dùng của pháp luật bị giảm do phải trải rộng một cách quá mức
cần thiết.
Ở Việt Nam, khái niệm người tiêu dùng chính thức được ghi nhận lần đầu
trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999. Năm 2010, Luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành, tiếp tục kế thừa Điều 1 của Pháp lệnh
ghi nhận tại Khoản 1 Điều 3 “người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa,
dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Quy định
chuyển từ thế bình đẳng sang tình trạng lợi thế nghiêng về phía nhà cung cấp (nhà
chuyên môn), bởi vì nhà cung cấp là bên nắm mọi ưu thế về chất lượng của hàng
hóa, dịch vụ bao gồm tính năng, công dụng, thành phần cấu tạo, khuyết tật ẩn giấu,
những nguy hiểm tiềm tàng. Mặt khác, nhà cung cấp cũng là người nắm ưu thế
trong kỹ năng đàm phán, giao kết hợp đồng...3 Vì vậy mà người tiêu dùng khi tham
gia quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ với thương nhân gặp nhiều điểm bất lợi
trong đó có thể khái quát thành 4 yếu thế cơ bản sau: yếu thế về thông tin; yếu thế
về khả năng đàm phán; yếu thế về khả năng chi phối giá cả và các điều kiện giao
dịch; yếu thế về khả năng chịu các rủi ro phát sinh từ quá trình tiêu dùng hàng hóa4.
Chính vì những yếu thế như vậy, người tiêu dùng đã trở thành đối tượng
được pháp luật quan tâm bảo vệ và xuất hiện khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng. Theo đó, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được hiểu là việc đảm bảo
quyền lợi cho những cá nhân/ tổ chức mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục
đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức.
Những quyền lợi mà cá nhân/ tổ chức mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho
mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức được pháp luật quan
tâm bảo vệ bao gồm các quyền sau:
Một là quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi
ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp.
Hai là quyền được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc,
xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch
và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng.
Nguyễn Hữu Huyên, “Kinh nghiệm pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Hội
thảo khoa học Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam – thực trạng và hướng hoàn thiện, Trường Đại
học luật Hà Nội, tr.98-99.
4
Nguyễn Thị Vân Anh (tháng 9/2010), “Tổng quan hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền
tiêu dùng được rất nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau quan tâm điều chỉnh. Có thể
là bảo vệ một cách trực diện bằng các quy phạm về bảo hành, quy phạm về yêu cầu
bồi thường thiệt hại,… hoặc được bảo vệ gián tiếp thông qua việc Nhà nước ban
hành các quy phạm nhằm tạo lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh, tự do
và công bằng. Khi môi trường cạnh tranh là lành mạnh, tự do và công bằng thì
người tiêu dùng sẽ được bảo đảm chủ quyền của mình và do vậy quyền lợi sẽ được
bảo đảm tốt nhất. Pháp luật cạnh tranh chính là công cụ để giúp Nhà nước quản lý
và tạo lập một môi trường cạnh tranh như vậy.
5
Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
Hơn thế, không giống với đại đa số pháp luật cạnh tranh của các quốc gia
trên thế giới, cơ cấu pháp luật cạnh tranh Việt Nam còn có các quy định kiểm soát
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh với các quy định nghiêm cấm việc thực
hiện các hành vi như quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, chỉ dẫn gây
nhầm lẫn,… góp phần trực tiếp bảo đảm quyền được thông tin của người tiêu dùng.
Pháp luật cạnh tranh Việt Nam cũng cho phép người tiêu dùng được quyền khiếu
nại khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm
quy định của Luật Cạnh tranh6 nên pháp luật cạnh tranh cũng sẽ góp phần đảm bảo
quyền được khiếu nại và bồi thường của người tiêu dùng.
Như vậy, pháp luật cạnh tranh đã góp phần đảm bảo một số quyền cơ
bản của người tiêu dùng bao gồm: quyền được lựa chọn, quyền được thông tin
và quyền được khiếu nại và bồi thường.
1.2. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật cạnh tranh
1.2.1. Khái niệm pháp luật cạnh tranh
Cạnh tranh là hoạt động nhằm tranh giành thị trường, lôi kéo khách hàng về
phía mình của các chủ thể kinh doanh. Trong cơ chế thị trường, quyền tự do kinh
doanh của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với quyền tự do cạnh tranh bởi vậy các
hoạt động tố tụng cạnh tranh và xử lí vi phạm pháp luật cạnh tranh.7
Xét về nội dung điều chỉnh, pháp luật cạnh tranh điều chỉnh 2 quan hệ chính
sau: Một là quan hệ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh
doanh trên thị trường và hai là quan hệ giữa cơ quan thi hành luật cạnh tranh với
các chủ thể kinh doanh khi họ thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc hành
vi cạnh tranh không lành mạnh. Ở nhóm quan hệ thứ nhất, pháp luật cạnh tranh sẽ
can thiệp và định hướng công khai đối với các hành vi cạnh tranh của các chủ thể,
buộc các chủ thể phải lựa chọn cách xử sự hợp lí nhất tuân theo trật tự mà pháp luật
mong muốn. Để điều chỉnh nhóm quan hệ này, pháp luật cạnh tranh ở nhiều quốc
gia trên thế giới thường được chia thành hai lĩnh vực khác biệt: pháp luật chống
cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh (còn gọi là
chống độc quyền hay kiểm soát độc quyền). Sở dĩ có sự phân biệt như vậy là vì tính
chất của hành vi, mức độ của hành và mức độ nguy hại của chúng đối với thị trường
và theo đó là phương thức và tính cương quyết trong sự “trừng trị” của pháp luật đối
với hai nhóm hành vi này là khác nhau.8
Tuy nhiên, bên cạnh hai lĩnh vực pháp luật cơ bản này, thuộc về hay liên
quan đến pháp luật cạnh tranh người ta còn có thể kể đến nhiều lĩnh vực pháp luật
khác nữa như: pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa, pháp
luật về quảng cáo, pháp luật về khuyến khích và hỗ trợ phát triển kinh tế, pháp luật
về điều kiện thương mại chung… Bên cạnh đó, khi xem xét pháp luật cạnh tranh từ
phương diện xã hội học pháp luật, các nhà luật học còn quan tâm đến cơ chế chuyển
hóa pháp luật cạnh tranh vào cuộc sống như những vấn đề về tổ chức và hoạt động
của các cơ quan quản lí nhà nước về cạnh tranh, về trình tự và thủ tục thẩm định,
7
8
Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), “Giáo trình Luật cạnh tranh”, NXB Công an nhân dân, tr.36-39.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), tlđd 7, tr.33-36.
(6), tr.30.
10
Paul A.Samuelson & William D.Nordhaus (2002), Kinh tế học (bản dịch), Nxb. Thống kê, Hà Nội, tr.95,
trích trong tài liệu: “Nguyễn Văn Cương (2008), “Một số vấn đề lý luận về quyền được thông tin của người
tiêu dùng”, Nhà nước và pháp luật, (8), tr.18”.
11
Laurence S.Seidman (2009), Public Finance (Boston, McGraw-Hill), p.2, trích trong tài liệu: “Nguyễn Văn
Cương (2008), “Một số vấn đề lý luận về quyền được thông tin của người tiêu dùng”, Nhà nước và pháp luật,
(8), tr.18”.
12
Paul A.Samuelson & William D.Nordhaus (2002), tlđd 10, tr.18”.
9
cung ứng hàng hóa/ dịch vụ có thể tự do gia nhập hoặc rút khỏi thị trường (nói cách
khác, các rào cản gia nhập hoặc rút khỏi thị trường mà các doanh nghiệp gặp phải là
không đáng kể)13. Trong điều kiện như thế, tương tác giữa doanh nghiệp và người
tiêu dùng về cơ bản là quan hệ bình đẳng, tự nguyện, không bên nào có thể ép buộc
hoặc bóc lột bên nào.
Tuy nhiên, ngay chính các nhà kinh tế cũng phải thừa nhận, điều kiện như
thế thường ít tồn tại trong thực tế. Bức tranh trong đời thực của các tương tác kinh
tế, trong đó có tương tác giữa doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ với người
tiêu dùng thường phức tạp hơn rất nhiều.14 Các doanh nghiệp để đạt được lợi nhuận
cao nhất đôi khi thực hiện cả các hành vi cạnh tranh mang tính không lành mạnh.
Những hành vi này sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi
chính đáng của người tiêu dùng. Vì thế đặt ra yêu cầu đối với pháp luật mỗi quốc
gia là phải có những quy định hợp lí nhằm đảm bảo thị trường của quốc gia mình
trở thành một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, khi đó quyền lợi người tiêu dùng
sẽ gián tiếp được đảm bảo một cách tốt nhất.
Hiện nay, người tiêu dùng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
15
- nhóm văn bản gián tiếp bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng.
Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam hiện nay gồm 2 bộ phận kiểm soát 2
nhóm hành vi: (1) các quy định kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh và (2) các
quy định kiểm soát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Nhóm quy định kiểm
soát các hành vi hạn chế cạnh tranh góp phần kiểm soát các hành vi làm giảm, sai
lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, gây tác động tiêu cực đến môi trường cạnh
tranh, làm sai lệch cấu trúc thị trường, bóp méo môi trường cạnh tranh qua đó bảo
vệ cơ cấu, tương quan cạnh tranh trên thị trường đồng thời góp phần gián tiếp đảm
bảo quyền lợi người tiêu dùng. Nhóm quy định kiểm soát các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh bằng việc kiểm soát các hành vi đi ngược lại với quy tắc xử sự
chung được thừa nhận trong kinh doanh, trái với thông lệ thiện chí, trung thực trong
kinh doanh gây thiệt hại đến lợi ích không chỉ của đối thủ cạnh tranh mà còn của
người tiêu dùng như hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn, hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh, hành vi bán hàng đa cấp,… sẽ góp phần bảo vệ trực tiếp
quyền lợi cho người tiêu dùng.
Như vậy, có thể thấy, Luật cạnh tranh Việt Nam có phạm vi điều chỉnh rộng,
điều chỉnh đồng thời cả hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Đây là điểm đặc thù của Luật cạnh tranh Việt Nam và một số nước mới
ban hành Luật cạnh tranh như: Ba Lan, Cộng hòa Séc, Bungari. Ở một số nước khác
như Mỹ, Nhật Bản, Malaysia, Indonesia, Luật cạnh tranh chỉ điều chỉnh hành vi hạn
chế cạnh tranh. Việc điều chỉnh cả hai loại hành vi này trong cùng một đạo luật dẫn
đến một điểm bất hợp lí, đó là các hành vi này mặc dù có sự khác nhau ở mức độ
xâm phạm đến quyền lợi của doanh nghiệp và người tiêu dùng nhưng lại có chung
một cách thức xử lí. Tuy nhiên, do khi Việt Nam bắt đầu soạn thảo Luật cạnh tranh
vào năm 2000, hệ thống pháp luật Việt Nam đặc biệt là pháp luật kinh tế chưa đầy
đủ, chưa bao quát hết các hành vi cạnh tranh làm ảnh hưởng đến đối thủ (đó là hành
người tiêu dùng thì có rất nhiều hành vi cạnh tranh đã và đang xâm hại trực
tiếp tới quyền lợi của họ. Vì vậy với mục tiêu là chống lại các tác động tiêu cực
của các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường
làm phương hại tới quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của doanh nghiệp và
người tiêu dùng, các hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành
mạnh đã được kiểm soát bởi các quy định của pháp luật cạnh tranh mà cụ thể là
Luật Cạnh tranh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Luật Cạnh tranh năm 2004 được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 12 năm
2004, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2005. Sau đó một loạt các văn
bản của Chính phủ như: Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 về hướng
dẫn Luật Cạnh tranh; Nghị định 110/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 về quản lý hoạt
động bán hàng đa cấp (hiện đã hết hiệu lực và được thay thế bằng Nghị định
42/2014/NĐ-CP ngày 14/05/2014 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp); Nghị
định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/09/2005 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
cạnh tranh (hiện đã hết hiệu lực và được thay thế bằng Nghị định 71/2014/NĐ-CP
ngày 21/07/2014 hướng dẫn Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực cạnh tranh); Nghị định 07/2015/NĐ-CP ngày 16/01/2015 Quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng Cạnh tranh;... đã được ban
hành để hướng dẫn cụ thể hơn các quy định của luật. Các quy định này đã và đang
góp phần gián tiếp hoặc trực tiếp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua việc
kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
2.1.1. Các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh
Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định “Hành vi hạn chế cạnh
tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị
trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế”. Luật Cạnh tranh sử dụng
đồng thời 2 phương pháp là phương pháp phân tích và phương pháp liệt kê để đưa
ra định nghĩa về hành vi hạn chế cạnh tranh. Theo đó, có thể hiểu, 4 hành vi sau: (1)
nghị quyết, quyết định của Hiệp hội đó. Ngoài ra, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn
có thể biểu hiện dưới dạng các cam kết tuân thủ hay đáp ứng những yêu cầu do một
hoặc một số bên đặt ra.
Thứ ba, mục đích của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là nhằm hạn chế cạnh
tranh. Các doanh nghiệp liên kết với nhau, qua đó giảm sức ép cạnh tranh trên thị
trường. Khi các doanh nghiệp này có sự liên kết đủ lớn, họ sẽ có khả năng khống
chế và buộc khách hàng phải tuân theo những luật chơi do chính họ đặt ra mà không
dựa trên bất kỳ quy luật nào của thị trường. Các doanh nghiệp không tham gia thoả
thuận thì bị khách hàng hoặc nhà cung cấp áp đặt những điều kiện bất lợi hơn so với
các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận, do vậy có nguy cơ mất cơ hội kinh doanh
hoặc bị loại khỏi thị trường.
Thứ tư, hình thức của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh rất đa dạng. Các thỏa
thuận này có thể được thể hiện thông qua hình thức văn bản như hợp đồng, biên bản
cuộc họp, quyết định, nghị quyết, các trao đổi điện thoại, fax, email... và cũng có
thể chỉ là các thỏa thuận ngầm.
Thứ năm, hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là làm giảm, sai lệch
hay cản trở hoặc thậm chí triệt tiêu các hoạt động cạnh tranh bình thường trên thị
trường. Tuy nhiên, khi xác định một hành vi có phải hành vi thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh hay không, cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ không xét đến hậu quả thực tế
mà chỉ cần xác định hậu quả về mặt hình thức. Hậu quả thực tế chỉ có ý nghĩa trong
việc xác định mức độ trách nhiệm pháp lý hay mức phạt của các doanh nghiệp đã
thực hiện hành vi.
b. Phân loại các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Các hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh gồm 2 nhóm: nhóm thứ nhất là
các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoàn toàn bị pháp luật nghiêm cấm thực
hiện và nhóm thứ hai bao gồm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị pháp
luật nghiêm cấm nhưng có điều kiện là khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần
kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên.
- Nhóm thứ nhất gồm các hành vi sau:
(1) Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia
doanh nghiệp bị điều tra là doanh nghiệp độc quyền trên thị trường liên quan được
xác định theo quy định của Luật Cạnh tranh. Điều này không phản ánh đúng với
thực tế cạnh tranh trên thị trường19.20
Khoản 1 Điều 4 Nghị định 116/2005/NĐ-CP.
Kinh nghiệm từ việc thực hiện khảo sát theo quy định của Luật Cạnh tranh trong một vụ việc cho thấy: có
trên 50% số lượng người được phỏng vấn cho biết sẽ không tiếp tục sử dụng sản phẩm được hỏi trong trường
hợp giá của sản phẩm đó tăng lên 10% trong khoảng thời gian 6 tháng. Tuy nhiên, họ lại quyết định lựa chọn
các sản phẩm thay thế khác nhau chứ không phải là một sản phẩm duy nhất khác. Do đó, kết quả khảo sát
cho thấy, lượng người tiêu dùng chuyển sang sử dụng một sản phẩm thay thế khác không đáp ứng ngưỡng
50% như quy định của luật. Như vậy, có thể hiểu, theo cách xác định thị trường liên quan được quy định tại
Nghị định 116, thị trường sản phẩm liên quan của vụ việc là thị trường của chính sản phẩm đó, không bao
gồm các sản phẩm cạnh tranh nào khác. Điều này không phản ánh đúng thực tế cạnh tranh trên thị trường sản
phẩm được điều tra.
18
19
(2) Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là
các bên của thoả thuận là việc các bên của thỏa thuận thống nhất với nhau không
giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận và cùng hành động dưới
hình thức (i) Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ khách hàng không mua, bán hàng hóa, không
sử dụng dịch vụ/ các nhà phân phối, bán lẻ phân biệt đối xử khi mua, bán hàng hóa,
sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận; (ii) Mua, bán
hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận
không thể tham gia thị trường liên quan/ mở rộng thêm quy mô kinh doanh hoặc
(iii) Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia
thỏa thuận phải rút lui khỏi thị trường liên quan.
Đối tượng chịu tác động trực tiếp của các thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm,
không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hay loại bỏ khỏi thị trường những
doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận chính là các doanh nghiệp