Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và thực tiễn thực hiện tại thành phố hải phòng - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC ÁNH

Tr¸ch nhiÖm båi thêng thiÖt h¹i trong c¸c vô
tai n¹n giao th«ng ®êng bé vµ thùc tiÔn thùc
hiÖn t¹i thµnh phè H¶i Phßng

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
Người hướng dẫn khoa học: TS. …………..

HÀ NỘI – NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của tôi. Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ
ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi.
Hà Nội, tháng ….. năm 2017
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn

Tên tác giả


LỜI CẢM ƠN

2. Bảng 2: Cơ cấu xét theo số người chết do TGTĐB trong các vụ án đã
xét xử theo Điều 202 BLHS 1999 và số người chết do TNGTĐB
(không khởi tố hình sự) trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2005
đến năm 2014.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 5
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG
BỘ 5
1.2. KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC
VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 8
1.3. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH
NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO
THÔNG ĐƯỜNG BỘ 21
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP
LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH 27
2.1. CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 27
2.2. XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ 33
2.3. XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC
VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 44
2.4. CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRỪ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI, GIẢM MỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI
NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ. 48
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

của các chủ thể cũng được đảm bảo một cách đầy đủ, nguyên nhân là do các quy
định của pháp luật còn có nhiều vướng mắc gây khó khăn cho việc áp dụng pháp
luật. Mặt khác, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ
TNGTĐB là hết sức phức tạp, khó khăn cả trong lí luận và thực tiễn.
Xuất phát từ thực trạng đó, cùng với việc tìm hiểu, phân tích thực tiễn áp
dụng pháp luật về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB trên địa bàn thành phố Hải
Phòng, học viên đã quyết định lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và thực tiễn thực hiện tại thành phố
Hải Phòng” cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu về bồi thường thiệt hại trong các vụ
tai nạn giao thông đường bộ đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm
nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau. Đã có rất nhiều những bài viết, các


công trình khác nhau nghiên cứu về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như bài
viết “Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án Vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” của tác giả Bùi Huy Hưng
đăng tải trên Tạp chí Toà án nhân dân số 02 năm 2016, “Một số vướng mắc trong
thực tiễn giải quyết các vụ án về trật tự an toàn giao thông đường bộ” của tác giả
Nguyễn Đức Mai đăng tải trên Tạp chí Toà án nhân dân số 22 năm 2009… Một
số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ chuyên ngành luật đề cập đến TNBTTH trong
các vụ TNGTĐB như học viên Trần Quỳnh Phượng (2011) Bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông đường bộ tại thành phố Huế từ
năm 2006 đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hộiViện khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội; học viên Nguyễn Thanh Hồng (2001)
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông, luận án tiến sĩ,
Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Trên cơ sở tìm hiểu các tác phẩm nêu trên chúng
tôi nhận thấy rằng, việc nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về TNBTTH hại trong
các vụ TNGTĐB dưới góc độ lý luận và thực tiễn thì chưa được thể hiện ở các

luật BTTH trong các vụ TNGTĐB trên địa bàn thành phố Hải Phòng, chỉ ra
những bất cập của các quy định pháp luật về BTTH trong các vụ TNGTĐB và
hướng hoàn thiện pháp luật về BTTH trong các vụ TNGTĐB
4. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài là cơ
sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó, tác giả sử
dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Tổng hợp, phân tích,
thống kê… để làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung nghiên cứu.
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài


Các kết quả nghiên cứu và kiến nghị của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học, các cơ quan xây dựng
luật để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về TNBTTH trong các vụ TNGTĐB.
Đồng thời các kết quả nghiên cứu cũng có giá trị tham khảo đối với các cơ
quan, tổ chức hữu quan, người làm công tác giải quyết việc BTTH trong các vụ
TNGTĐB.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các
vụ tai nạn giao thông đường bộ
Chương 2: Nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ theo pháp luật dân sự hiện hành
Chương 3: Thực tiễn thực hiện bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ tại thành phố Hải Phòng và những giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao
thông đường bộ.


sức khỏe, tính mạng con người - Thiệt hại về tài sản hoặc thiệt hại đặc biệt


nghiêm trọng về tài sản".2
Theo tác giả Vũ Mạnh Thắng: “Tai nạn giao thông là sự việc xảy ra bất
ngờ do người tham gia giao thông hoặc vi phạm các quy định về trật tự an toàn
giao thông hoặc gặp phải tình huống, sự cố đột xuất, không kịp xử lý, có thiệt hại
về tính mạng, sức khoẻ con người, thiệt hại về tài sản”3
Một định nghĩa khác ngắn gọn hơn đó là: “Tai nạn giao thông đường bộ là
một sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn của người điều khiển các phương tiện
giao thông đường bộ khi đang tham gia giao thông.”
Mỗi khái niệm, định nghĩa trên đều có một cách diễn giải khác nhau về
TNGT và TNGTĐB tuy nhiên tổng hợp các điểm chung nhất từ các khái niệm
nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm chung về TNGTĐB như sau:
TNGTĐB là một sự kiện xảy ra bất ngờ do hành vi của con người vi
phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ hoặc do sự cố đột xuất, do
các trường hợp bất khả kháng gây ra trong quá trình tham gia giao thông đường
bộ của con người gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản cho con
người.
1.1.2. Đặc điểm của tai nạn giao thông đường bộ
Dựa vào khái niệm về TNGTĐB đã nêu trên và từ các nhận xét, đánh giá
trong thực tế, có thể thấy TNGTĐB có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, TNGTĐB là một sự kiện xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn do hành
vi của vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ của con người, do
sự cố đột xuất hoặc do các trường hợp bất khả kháng gây nên khi đang tham gia
giao thông đường bộ.
Đây là đặc điểm nổi bật, dễ nhận thấy nhất của các vụ TNGTĐB. Pháp
luật luôn đặt ra các quy định về an toàn giao thông đường bộ để buộc người tham
gia giao thông phải chấp hành. Khi người tham gia giao thông không tuân thủ


lại để đứng chờ khai báo sự việc với cơ quan Công an đặc biệt là ở những khu
vực hẻo lánh, ít dân cư. Các bên trong vụ TNGTĐB thường cố tình đưa ra lời
khai có lợi cho mình, gây khó khăn cho việc xác định phần lỗi và trách nhiệm bồi
thường của từng bên. Việc dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra cũng chỉ
mang tính tương đối.
Thứ tư, chỉ được gọi là TNGTĐB nếu hành vi vi phạm các quy định về an
toàn giao thông đường bộ là do lỗi có lỗi vô ý hoặc không có lỗi.
Trong trường hợp thiệt hại xảy ra trong quá trình tham gia giao thông
được thực hiện do lỗi cố ý hoặc không có lỗi do đây là một sự kiện bất ngờ nằm
ngoài ý chí chủ quan của của những người tham gia giao thông. Trường hợp
người gây tai nạn mong muốn thiệt hại xảy ra thì không thể gọi là TNGTĐB mà
tùy từng trường hợp sẽ có tên gọi tương ứng.
Ví dụ 1: Do có mâu thuẫn trong làm ăn nên nhân lúc A đang đi bộ sang
đường, B đã cố tình điều khiển xe ôtô đâm thẳng vào A, hậu quả làm ông A thiệt
mạng tại chỗ. Đây là một vụ Giết người chứ không phải là một vụ TNGTĐB do
hành vi của A là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác.
Ví dụ 2: C vốn là người không ưa gì D nên luôn tìm cách “chọc tức” D.
Khi D đang dựng xe máy uống nước bên bờ sông, thì C bèn giả vờ điều khiển xe
máy đi vào “ổ gà” gần đó làm xe mất lái rồi đâm vào xe máy của D làm xe máy
của D rơi xuống sông. Trong trường hợp này hành vi của C là một hành vi huỷ
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
1.2. KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 15
1.2.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ
Trước hết, cần khẳng định: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là


nguồn nguy hiểm cao độ.
Khoản 19 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 có quy định:

đến tính mạng, sức khỏe và tài sản cho con người (không thể gây thiệt hại về
danh dự, nhân phẩm, uy tín như đã phân tích ở trên) thì sẽ phát sinh TNBTTH,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. TNBTTH trong các vụ TNGTĐB bao
gồm cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách nhiệm bồi
thường ngoài hợp đồng. Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ xem
xét TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như là một loại TNBTTH ngoài hợp đồng
Từ những sự phân tích và nhận định nêu trên, tác giả xin đưa ra khái
niệm TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như sau:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường
bộ là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được phát sinh
khi người nào có hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ
gây ra gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản cho con người.
1.2.2. Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
được chia làm 2 loại gồm: TNBTTH do hành vi trái pháp luật của con người gây
ra TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1.2.2.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của
con người gây ra
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con
người gây ra, có 2 trường hợp đáng chú ý đó là: BTTH trong trường hợp người bị
hại có lỗi và BTTH trong trường hợp có lỗi của nhiều người
1.2.2.1.1. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị hại có lỗi


Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi được quy
định tại Điều 617 BLDS 2005: "Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây
thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với
mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại
thì người gây thiệt hại không phải bồi thường."

chạy lấn sang phấn đường bên trái 15 cm so với tim đường, Tòa án kết luận cả A
và C đều có lỗi đối với thiệt hại về sức khỏe của B, cả A và C đều phải chịu
TNBTTH cho B. Tuy nhiên, việc áp dụng điều luật của BLDS để giải quyết việc
bồi thường trong trường hợp này đã có hai ý kiến khác nhau:
Ý kiến thứ nhất cho rằng, cần áp dụng Điều 616 BLDS để buộc A và C
phải liên đới bồi thường thiệt hại vì cho rằng, trong trường hợp này cả A và C
đều có lỗi đối với thiệt hại của B, hay nói cách hành vi trái pháp luật của A và
hành vi trái pháp luật của C là nguyên nhân gây ra là hậu quả thiệt hại về sức
khỏe của B; mặt khác Điều 616 BLDS chỉ quy định chung chung là "cùng gây
thiệt hại" chứ không trực tiếp chỉ rõ là "cố ý" hay "vô ý" nên trách
nhiệm liên đới
bồi thường thiệt hại vẫn đặt ra đối với trường hợp trên.
Ý kiến thứ hai cho rằng, trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại chỉ phát
sinh trong trường hợp những người có hành vi trái pháp luật đều "cùng cố ý" gây
ra thiệt hại, hoặc những trường hợp khác do pháp luật quy định. Trong trường
hợp trên, tuy xét về mặt khách quan thì hành vi của A và hành vi của C xảy ra
đồng thời, đều đóng vai trò là nguyên nhân gây ra thiệt hại đối với B, nhưng giữa
A và B không có sự "cùng cố ý", do vậy, trường hợp trên không thể áp dụng Điều
Quan điểm của chúng tôi đồng ý với cách hiểu thứ hai, trách nhiệm liên
đới bồi thường thiệt hại chỉ xảy ra khi các chủ thể gây thiệt hại cùng có lỗi cố ý,
hay nói cách khác họ phải cùng cố ý gây thiệt hại. "Cùng cố ý" vừa thể hiện cả về


mặt khách quan và chủ quan. Về khách quan, "cùng cố ý" có nghĩa là các chủ thể
gây thiệt hại cùng thực hiện hành vi trái pháp luật. Hành vi của họ có thể là cùng
loại hoặc không, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện, tiền đề
của nhau hoặc hành vi của người này là hậu quả của hành vi người kia. Về chủ
quan, các chủ thể hành vi trái pháp luật đều nhận thức được tính trái pháp luật
của hành vi của mình cũng như tính trái pháp luật của hành vi của người khác
cùng thực hiện với mình và họ đều thấy trước được hậu quả thiệt hại của hành vi

1.2.2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là
một loại TNBTTH trong các vụ TNGTĐB. TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra là loại trách nhiệm do tài sản gây ra, thiệt hại xảy ra không phải do
hành vi và do lỗi của con người mà do hoạt động “tự thân” của nguồn nguy hiểm
cao độ luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho môi trường và những người xung
quanh. Mặc dù chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ có thể
không có lỗi đối với thiệt hại nhưng để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người bị
thiệt hại, pháp luật vẫn buộc họ có trách nhiệm bồi thường.
* Các điều kiện phát sinh TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
- Có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ.
Tính nguy hiểm của nguồn nguy hiểm cao độ còn thể hiện ở chỗ con
người không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối nguy cơ gây thiệt hại. Đối
với nguồn nguy hiểm cao độ, pháp luật thường có những quy định nghiêm ngặt
trong việc trông giữ, vận hành, sử dụng, vận chuyển… chúng để tránh gây thiệt
hại. Thiệt hại liên quan đến các loại nguồn nguy hiểm cao độ rất đa dạng và do
8 Trần Quỳnh Phượng (2011) Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông


đường bộ tại thành phố Huế từ năm 2006 đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa
học xã
hội-Viện khoa học xã hội Việt Nam, trang 48
nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, chỉ áp dụng TNBTTH do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau:
Thứ nhất: Những vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ phải đang trong
tình trạng vận hành, hoạt động như: phương tiện giao thông vận tải cơ giới đang
tham gia giao thông trên đường… Trường hợp thiệt hại xảy ra khi nguồn nguy
hiểm cao độ đang ở trạng thái “tĩnh” – không hoạt động thì không thể coi là thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, ví dụ: xe ô tô dừng đỗ trên đỉnh dốc

sản nói chung và nguồn nguy hiểm cao độ nói riêng gây thiệt hại. Theo tinh thần
của pháp luật nói chung và BLDS nói riêng, sức khoẻ, tính mạng và tài sản của
công dân được pháp luật bảo vệ do vậy việc gây thiệt hại đến tính mạng, sức
khoẻ, tài sản của người khác bị coi là trái pháp luật, trừ các trường hợp pháp luật
cho phép. Do vậy, Điều 623 BLDS 2005 quy định về bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cần phải hiểu đây là sự kiện gây thiệt hại trái
pháp luật, vì vậy TNBTTH được đặt ra.
Tóm lại, TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là trách nhiệm đối
với sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ chứ không
phải thiệt hại do hành vi của con người.
- Có thiệt hại xảy ra
Do đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ là những loại tài sản có khả
năng gây ra thiệt hại trong quá trình vận hành, sử dụng chúng, thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra chỉ có thể là những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức
khỏe. Thiệt hại về danh dự, uy tín, nhân phẩm – là những thiệt hại chỉ có thể phát
sinh do hành vi của con người nên không thuộc phạm vi tác động của nguồn


nguy hiểm cao độ.
Cần phân biệt rõ thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra với thiệt hại
do hành vi trái pháp luật của con người gây ra có liên quan đến nguồn nguy hiểm
cao độ. Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là thiệt hại do “tự thân”
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (ví dụ: Xe ôtô đang vận hành thì bị nổ lốp, mất
phanh…gây thiệt hại cho người tham gia giao thông…; còn thiệt hại có liên quan
đến nguồn nguy hiểm cao độ là thiệt do hành vi trái pháp luật của con người khi
gây thiệt hại nhưng liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ, ví dụ: Lái xe phóng
nhanh vượt ẩu, điều khiển phương tiện tham gia giao thông đi không đúng phần
đường dẫn đến tai nạn gây thiệt hại cho người khác)
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của
nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra

Nếu như các trường hợp BTTH thông thường dựa trên sự suy đoán lỗi thì
TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dựa trên sự suy đoán trách nhiệm
đối với người có nghĩa vụ quản lý nguồn nguy hiểm cao độ. TNBTTH do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra chỉ áp dụng khi hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy
hiểm cao độ nằm ngoài khả năng kiểm soát, điều khiển của người chiếm hữu, vận
hành và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại. Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn
do lỗi của con người trong việc trông giữ, bảo quản, vận hành nguồn nguy hiểm
cao độ thì không áp dụng trách nhiệm này mà sẽ áp dụng TNBTTH nói chung.
TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không loại trừ khả năng thiệt
hại cũng có thể có một phần lỗi của người quản lý, trông giữ, bảo quản, vận hành
nguồn nguy hiểm cao độ nhưng hành vi của người trông giữ, vận hành nguồn
nguy hiểm cao độ không phải nguyên nhân có tính quyết định đến thiệt hại. Chủ
sở hữu, người đang chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ không được miễn trừ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status