BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC ĐẠI
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Đình Nghị
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của tôi. Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ
ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi.
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
- Bộ luật dân sự
BLHS
- Bộ luật hình sự
TAND
- Tòa án nhân dân
TP
- Thành phố
BTTH
- Bồi thường thiệt hại
TNBTTH
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
TNGT
- Tai nạn giao thông
TNGTĐB
- Tai nạn giao thông đường bộ
ĐƯỜNG BỘ .................................................................................................. 33
2.3. XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC
VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ .................................................. 44
2.4. CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRỪ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI, GIẢM MỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI
NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ. ............................................................... 48
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ ......................................................................................................... 52
3.1. TÌNH HÌNH TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THỜI GIAN QUA. .......................... 52
3.2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC
VỤ TNGTĐB TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ............................................ 57
3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT VỀ BTTH TRONG CÁC VỤ TNGTĐB ............................................. 72
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 81
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tai nạn giao thông đường bộ là một trong những nguyên nhân gây tử vong
cao hàng đầu cho người tại Việt Nam, trung bình mỗi năm ở nước ta có gần
13.000 người chết vì TNGTĐB và hàng chục nghìn người khác bị thương. Cùng
với đó là những thiệt hại khổng lồ khác về kinh tế như: thiệt hại về phương tiện
giao thông, hạ tầng giao thông, chi phí khắc phục điều tra các vụ tai nạn giao
số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ chuyên ngành luật đề cập đến TNBTTH trong
các vụ TNGTĐB như học viên Trần Quỳnh Phượng (2011) Bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông đường bộ tại thành phố Huế từ
năm 2006 đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hộiViện khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội; học viên Nguyễn Thanh Hồng (2001)
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông, luận án tiến sĩ,
Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Trên cơ sở tìm hiểu các tác phẩm nêu trên chúng
tôi nhận thấy rằng, việc nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về TNBTTH hại trong
các vụ TNGTĐB dưới góc độ lý luận và thực tiễn thì chưa được thể hiện ở các
công trình này, đặc biệt là sau khi BLDS 2005 ra đời. Với đề tài “Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và thực tiễn thực
hiện tại thành phố Hải Phòng” chúng tôi mong muốn đây sẽ là công trình nghiên
cứu một cách tổng thể và cơ bản về tất cả các khía cạnh pháp lý của TNBTTH
trong các vụ TNGTĐB.
3. Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận chung về
TNBTTH ngoài hợp đồng trong các vụ TNGTĐB; căn cứ pháp lý của TNBTTH
và thực tiễn giải quyết BTTH trong các vụ TNGTĐB tại địa bàn thành phố Hải
Phòng và của toàn quốc.
* Mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu, mục đích của việc nghiên cứu đề tài
được xác định: Phân tích làm rõ các nội dung lý luận về TNBTTH trong các vụ
TNGTĐB, phân tích các quy định của pháp luật thực định về TNBTTH trong các
3
vụ TNGTĐB và thực tiễn vận dụng từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật
trong lĩnh vực tương ứng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
TNGTĐB.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các
vụ tai nạn giao thông đường bộ
Chương 2: Nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ theo pháp luật dân sự hiện hành
Chương 3: Thực tiễn thực hiện bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ tại thành phố Hải Phòng và những giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao
thông đường bộ.
5
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ
1.1.1. Khái niệm tai nạn giao thông đường bộ
Tai nạn giao thông hay tai nạn giao thông đường bộ đã có từ rất lâu
trong lịch sử loài người dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, hiện tại vẫn
chưa có một định nghĩa nào thật chính xác có thể lột tả hết những đặc tính của
nó. Khi nghiên cứu về TNGT, đã có rất nhiều khái niệm về tai nạn giao thông
khác nhau được đưa ra:
Theo Wikipedia tiếng Việt định nghĩa về TNGT: “Tai nạn giao thông là
sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện
giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy tắc an
Một định nghĩa khác ngắn gọn hơn đó là: “Tai nạn giao thông đường bộ là
một sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn của người điều khiển các phương tiện
giao thông đường bộ khi đang tham gia giao thông.”
Mỗi khái niệm, định nghĩa trên đều có một cách diễn giải khác nhau về
TNGT và TNGTĐB tuy nhiên tổng hợp các điểm chung nhất từ các khái niệm
nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm chung về TNGTĐB như sau:
TNGTĐB là một sự kiện xảy ra bất ngờ do hành vi của con người vi
phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ hoặc do sự cố đột xuất, do
các trường hợp bất khả kháng gây ra trong quá trình tham gia giao thông đường
bộ của con người gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản cho con
người.
1.1.2. Đặc điểm của tai nạn giao thông đường bộ
Dựa vào khái niệm về TNGTĐB đã nêu trên và từ các nhận xét, đánh giá
trong thực tế, có thể thấy TNGTĐB có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, TNGTĐB là một sự kiện xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn do hành
vi của vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ của con người, do
2
Bộ Công an (1997), "Tai nạn giao thông, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa", Kỷ yếu hội thảo khoa
học, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, trang 82.
3
Bộ Công an (1999), Tạp chí Công an nhân dân, số 9, trang 12
7
sự cố đột xuất hoặc do các trường hợp bất khả kháng gây nên khi đang tham gia
giao thông đường bộ.
8
Thứ ba, các vụ TNGTĐB khi xảy ra rất khó xác định lỗi của các bên và
nguyên nhân gây thiệt hại.
Các vụ TNGTĐB thường xảy ra bất ngờ, nhanh chóng, nếu là ban đêm thì
ít khi có người làm chứng, nếu là ban ngày thì người đi đường khó chứng kiến
đầy đủ diễn biến của nó; hoặc nếu có chứng kiến rõ chăng nữa thì ít người dừng
lại để đứng chờ khai báo sự việc với cơ quan Công an đặc biệt là ở những khu
vực hẻo lánh, ít dân cư. Các bên trong vụ TNGTĐB thường cố tình đưa ra lời
khai có lợi cho mình, gây khó khăn cho việc xác định phần lỗi và trách nhiệm bồi
thường của từng bên. Việc dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra cũng chỉ
mang tính tương đối.
Thứ tư, chỉ được gọi là TNGTĐB nếu hành vi vi phạm các quy định về an
toàn giao thông đường bộ là do lỗi có lỗi vô ý hoặc không có lỗi.
Trong trường hợp thiệt hại xảy ra trong quá trình tham gia giao thông
được thực hiện do lỗi cố ý hoặc không có lỗi do đây là một sự kiện bất ngờ nằm
ngoài ý chí chủ quan của của những người tham gia giao thông. Trường hợp
người gây tai nạn mong muốn thiệt hại xảy ra thì không thể gọi là TNGTĐB mà
tùy từng trường hợp sẽ có tên gọi tương ứng.
Ví dụ 1: Do có mâu thuẫn trong làm ăn nên nhân lúc A đang đi bộ sang
đường, B đã cố tình điều khiển xe ôtô đâm thẳng vào A, hậu quả làm ông A thiệt
mạng tại chỗ. Đây là một vụ Giết người chứ không phải là một vụ TNGTĐB do
hành vi của A là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác.
Ví dụ 2: C vốn là người không ưa gì D nên luôn tìm cách “chọc tức” D.
Khi D đang dựng xe máy uống nước bên bờ sông, thì C bèn giả vờ điều khiển xe
máy đi vào “ổ gà” gần đó làm xe mất lái rồi đâm vào xe máy của D làm xe máy
của D rơi xuống sông. Trong trường hợp này hành vi của C là một hành vi huỷ
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
những người xung quanh. (ví dụ: xe ôtô mất phanh gây tai nạn…)
Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là nguồn nguy hiểm cao độ, do
vậy khi vận hành, đưa phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vào hoạt động
trên đường bộ thì có thể gây nguy hiểm cao độ cho tính mạng, sức khỏe và tài
sản của con người do vậy pháp luật có những quy định nghiêm ngặt trong việc
10
trông giữ, vận hành, sử dụng… phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, cụ thể
ở đây là các quy định về an toàn giao thông đường bộ để tránh cho thiệt hại xảy
ra.
Các vụ TNGTĐB chỉ có thể xảy ra nếu con người có hành vi vi phạm
các quy định về an toàn giao thông đường bộ mà gây ra TNGTĐB làm thiệt hại
đến tính mạng, sức khỏe và tài sản cho con người (không thể gây thiệt hại về
danh dự, nhân phẩm, uy tín như đã phân tích ở trên) thì sẽ phát sinh TNBTTH,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. TNBTTH trong các vụ TNGTĐB bao
gồm cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách nhiệm bồi
thường ngoài hợp đồng. Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ xem
xét TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như là một loại TNBTTH ngoài hợp đồng
Từ những sự phân tích và nhận định nêu trên, tác giả xin đưa ra khái
niệm TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như sau:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường
bộ là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được phát sinh
khi người nào có hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ
gây ra gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản cho con người.
1.2.2. Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
được chia làm 2 loại gồm: TNBTTH do hành vi trái pháp luật của con người gây
của hành vi của mình cũng như tính trái pháp luật của hành vi của người khác
cùng thực hiện với mình và họ đều thấy trước được hậu quả thiệt hại của hành vi
của mình cũng như hành vi của người cùng thực hiện với mình, cùng mong muốn
hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả (thiệt hại) xảy ra.
Trong các vụ TNGTĐB, hành vi vi phạm các các quy định về an toàn giao
thông đường bộ chỉ có lỗi vô ý, nhiều người cùng có lỗi gây ra thiệt hại về tính
mạng, sức khoẻ, tài sản cho người khác thì không thể coi là “cố ý cùng gây thiệt
hại” mà chỉ coi là cùng gây ra hậu quả với lỗi vô ý. Điều 616 BLDS 2005 bên
cạnh việc quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt
hại còn quy định phương pháp xác định mức bồi thường thiệt hại của các chủ thể
căn cứ vào mức độ lỗi của mỗi người, nếu không các định được mức độ lỗi thì họ
phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau. Do vậy, nếu có nhiều người cùng
gây hậu quả với lỗi vô ý thì họ sẽ BTTH theo mức độ lỗi của mỗi người, nghĩa là
chia tách hậu quả theo mức độ lỗi tương ứng, nếu không xác định được mức độ
lỗi thì phải bồi thường theo phần bằng nhau. Về mặt thực tiễn xét xử các vụ
TNGTĐB do lỗi của nhiều người cùng gây ra cho thấy toà án đều buộc các bị cáo
chịu trách nhiệm về hình sự cũng như dân sự phần hậu quả chung của vụ án,
chưa có trường hợp nào chia tách hậu quả của vụ án.7
7
Trần Quỳnh Phượng (2011) Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông
đường bộ tại thành phố Huế từ năm 2006 đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã
hội-Viện khoa học xã hội Việt Nam, trang 48
14
1.2.2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra
15
nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, chỉ áp dụng TNBTTH do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau:
Thứ nhất: Những vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ phải đang trong
tình trạng vận hành, hoạt động như: phương tiện giao thông vận tải cơ giới đang
tham gia giao thông trên đường… Trường hợp thiệt hại xảy ra khi nguồn nguy
hiểm cao độ đang ở trạng thái “tĩnh” – không hoạt động thì không thể coi là thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, ví dụ: xe ô tô dừng đỗ trên đỉnh dốc
nhưng theo quán tính trượt xuống chân dốc gây thiệt hại…
Thứ hai: thiệt hại phải do chính sự tác động của bản thân nguồn nguy
hiểm cao độ hoặc do hoạt động nội tại của nguồn nguy hiểm gây ra.
Có quan điểm cho rằng các vật là vô tri vô giác, vì vậy chúng không thể
gây thiệt hại nếu không có sự tác động của con người. Quan điểm này cho rằng
đằng sau việc gây thiệt hại của một vật bao giờ cũng có sự tác động của con
người. Chiếc xe gây tai nạn là do người lái xe làm cho nó chuyển động. Quan
điểm này đánh đồng tất cả các thiệt hại đều do con người gây ra, vì vậy các thiệt
hại đều quy về một nguyên tắc bồi thường thiệt hại nói chung. Tuy nhiên, không
phải mọi thiệt hại do vật gây ra đều có sự tác động của con người. Nhiều trường
hợp, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ nằm ngoài sự kiểm soát, chế ngự
của con người và tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại. Việc xác định
thiệt hại là do “tác động của người” hay “tác động của vật” có ý nghĩa vô cùng
quan trọng khi xác định TNBTTH. 9
Những trường hợp thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ
nhưng do “tác động của con người”, do hành vi của con người gây ra thì chỉ cần
áp dụng nguyên tắc chung của TNBTTH. Hầu hết các vụ tai nạn, thiệt hại đều có
sự tham gia của vật với vai trò trung gian như là công cụ, phương tiện mà con
người sử dụng để gây thiệt hại như lái xe phóng nhanh, vượt ẩu gây tai nạn…
năng gây ra thiệt hại trong quá trình vận hành, sử dụng chúng, thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra chỉ có thể là những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức
khỏe. Thiệt hại về danh dự, uy tín, nhân phẩm – là những thiệt hại chỉ có thể phát
sinh do hành vi của con người nên không thuộc phạm vi tác động của nguồn
nguy hiểm cao độ.
Cần phân biệt rõ thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra với thiệt hại
do hành vi trái pháp luật của con người gây ra có liên quan đến nguồn nguy hiểm
cao độ. Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là thiệt hại do “tự thân”
17
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (ví dụ: Xe ôtô đang vận hành thì bị nổ lốp, mất
phanh…gây thiệt hại cho người tham gia giao thông…; còn thiệt hại có liên quan
đến nguồn nguy hiểm cao độ là thiệt do hành vi trái pháp luật của con người khi
gây thiệt hại nhưng liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ, ví dụ: Lái xe phóng
nhanh vượt ẩu, điều khiển phương tiện tham gia giao thông đi không đúng phần
đường dẫn đến tai nạn gây thiệt hại cho người khác)
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của
nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra
Điều kiện này đòi hỏi hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên
nhân tất yếu, nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và thiệt hại
xảy ra là kết quả của hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ. Khi xác định
TNBTTH, cần xem xét thiệt hại đó nguyên nhân nào gây ra, do đâu mà có? Nếu
không xác định chính xác mối quan hệ nhân quả thì sẽ dẫn đến những sai lầm khi
xác định trách nhiệm bồi thường
Sự khác nhau trong mối quan hệ nhân quả giữa BTTH do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra so với BTTH do hành vi của con người gây ra thể hiện ở chỗ.
Nếu trong BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, sự tác động tự thân của
nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên nhân gây thiệt hại (kết quả); thì trong BTTH
TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không loại trừ khả năng thiệt
hại cũng có thể có một phần lỗi của người quản lý, trông giữ, bảo quản, vận hành
nguồn nguy hiểm cao độ nhưng hành vi của người trông giữ, vận hành nguồn
nguy hiểm cao độ không phải nguyên nhân có tính quyết định đến thiệt hại. Chủ
sở hữu, người đang chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ không được miễn trừ
trách nhiệm bồi thường kể cả trong trường hợp họ chứng minh được mình không
có lỗi trong việc trông giữ, bảo quản vận hành nguồn nguy hiểm cao độ. Bởi lẽ,
yếu tố lỗi không phải là một điều kiện tiên quyết làm phát sinh TNBTTH do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà dấu hiệu quan trọng nhất để xác định trách
nhiệm này là hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ chính là nguyên nhân trực
tiếp, là yếu tố quyết định dẫn đến thiệt hại. Hoạt động gây thiệt hại của nguồn
nguy hiểm cao độ có thể hoàn toàn không có lỗi của con người (như xe đang
chạy trên đường bất ngờ nổ lốp trước dẫn đến đổi hướng đột ngột gây thiệt hại)
19
hoặc cũng có thể có một phần lỗi của người quản lý, điều khiển, tuy nhiên, lỗi ở
đây chỉ đóng vai trò thứ yếu đối với thiệt hại (như trước khi xuống dốc, lái xe
không kiểm tra lại phanh; lốp mòn do chủ quan nghĩ rằng xe vẫn vận hành tốt…)
Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi, do hành vi của người điều khiển nguồn
nguy hiểm cao độ thì không áp dụng trách nhiệm này 10
* Xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra
Căn cứ vào khoản 2 Điều 623 BLDS 2005 và Nghị quyết số 03/2006/NQHĐTP thì chủ thể phải chịu TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra gồm
có: Chủ sở hữu; người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ; người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ.
Việc xác định ai trong số các chủ thể này phải chịu TNBTTH do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể.
- Chủ sở hữu đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ.