BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Nguyễn Ngọc Đại
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học: TS.Lê Đình Nghị
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của tôi. Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ
ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi.
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Tên tác giả
TS. Lê Đình Nghị
TAND
- Tòa án nhân dân
TP
- Thành phố
BTTH
- Bồi thường thiệt hại
TNBTTH
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
TNGT
- Tai nạn giao thông
TNGTĐB
- Tai nạn giao thông đường bộ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1. Bảng 1. Mức độ tổng quan tuyệt đối của tình hình Tội vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành
phố Hải Phòng từ năm 2005 đến năm 2014;
2.3. XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC
VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
44
2.4. CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRỪ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI, GIẢM MỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI
NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ.
48
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ52
3.1. TÌNH HÌNH TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THỜI GIAN QUA.
52
3.2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC
VỤ TNGTĐB TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
57
3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT VỀ BTTH TRONG CÁC VỤ TNGTĐB
72
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” của tác giả Bùi Huy Hưng
đăng tải trên Tạp chí Toà án nhân dân số 02 năm 2016, “Một số vướng mắc trong
thực tiễn giải quyết các vụ án về trật tự an toàn giao thông đường bộ” của tác giả
Nguyễn Đức Mai đăng tải trên Tạp chí Toà án nhân dân số 22 năm 2009… Một
số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ chuyên ngành luật đề cập đến TNBTTH trong
các vụ TNGTĐB như học viên Trần Quỳnh Phượng (2011) Bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông đường bộ tại thành phố Huế từ
năm 2006 đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hộiViện khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội; học viên Nguyễn Thanh Hồng (2001)
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông, luận án tiến sĩ,
Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Trên cơ sở tìm hiểu các tác phẩm nêu trên chúng
tôi nhận thấy rằng, việc nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về TNBTTH hại trong
các vụ TNGTĐB dưới góc độ lý luận và thực tiễn thì chưa được thể hiện ở các
công trình này, đặc biệt là sau khi BLDS 2005 ra đời. Với đề tài “Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ và thực tiễn thực
hiện tại thành phố Hải Phòng” chúng tôi mong muốn đây sẽ là công trình nghiên
cứu một cách tổng thể và cơ bản về tất cả các khía cạnh pháp lý của TNBTTH
trong các vụ TNGTĐB.
3. Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận chung về
TNBTTH ngoài hợp đồng trong các vụ TNGTĐB; căn cứ pháp lý của TNBTTH
và thực tiễn giải quyết BTTH trong các vụ TNGTĐB tại địa bàn thành phố Hải
Phòng và của toàn quốc.
* Mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu, mục đích của việc nghiên cứu đề tài
được xác định: Phân tích làm rõ các nội dung lý luận về TNBTTH trong các vụ
TNGTĐB, phân tích các quy định của pháp luật thực định về TNBTTH trong các
10
Đồng thời các kết quả nghiên cứu cũng có giá trị tham khảo đối với các cơ
quan, tổ chức hữu quan, người làm công tác giải quyết việc BTTH trong các vụ
TNGTĐB.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các
vụ tai nạn giao thông đường bộ
Chương 2: Nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ theo pháp luật dân sự hiện hành
Chương 3: Thực tiễn thực hiện bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ tại thành phố Hải Phòng và những giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao
thông đường bộ.
11
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TAI NẠN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ
1.1.1. Khái niệm tai nạn giao thông đường bộ
Tai nạn giao thông hay tai nạn giao thông đường bộ đã có từ rất lâu
trong lịch sử loài người dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, hiện tại vẫn
chưa có một định nghĩa nào thật chính xác có thể lột tả hết những đặc tính của
giao thông hoặc gặp phải tình huống, sự cố đột xuất, không kịp xử lý, có thiệt hại
về tính mạng, sức khoẻ con người, thiệt hại về tài sản”3
Một định nghĩa khác ngắn gọn hơn đó là: “Tai nạn giao thông đường bộ là
một sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn của người điều khiển các phương tiện
giao thông đường bộ khi đang tham gia giao thông.”
Mỗi khái niệm, định nghĩa trên đều có một cách diễn giải khác nhau về
TNGT và TNGTĐB tuy nhiên tổng hợp các điểm chung nhất từ các khái niệm
nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm chung về TNGTĐB như sau:
TNGTĐB là một sự kiện xảy ra bất ngờ do hành vi của con người vi
phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ hoặc do sự cố đột xuất, do
các trường hợp bất khả kháng gây ra trong quá trình tham gia giao thông đường
bộ của con người gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản cho con
người.
1.1.2. Đặc điểm của tai nạn giao thông đường bộ
Dựa vào khái niệm về TNGTĐB đã nêu trên và từ các nhận xét, đánh giá
trong thực tế, có thể thấy TNGTĐB có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, TNGTĐB là một sự kiện xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn do hành
vi của vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ của con người, do
2 Bộ Công an (1997), "Tai nạn giao thông, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa", Kỷ yếu hội thảo khoa
học, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, trang 82.
3 Bộ Công an (1999), Tạp chí Công an nhân dân, số 9, trang 12
13
sự cố đột xuất hoặc do các trường hợp bất khả kháng gây nên khi đang tham gia
giao thông đường bộ.
Đây là đặc điểm nổi bật, dễ nhận thấy nhất của các vụ TNGTĐB. Pháp
luật luôn đặt ra các quy định về an toàn giao thông đường bộ để buộc người tham
gia giao thông phải chấp hành. Khi người tham gia giao thông không tuân thủ
Các vụ TNGTĐB thường xảy ra bất ngờ, nhanh chóng, nếu là ban đêm thì
ít khi có người làm chứng, nếu là ban ngày thì người đi đường khó chứng kiến
đầy đủ diễn biến của nó; hoặc nếu có chứng kiến rõ chăng nữa thì ít người dừng
lại để đứng chờ khai báo sự việc với cơ quan Công an đặc biệt là ở những khu
vực hẻo lánh, ít dân cư. Các bên trong vụ TNGTĐB thường cố tình đưa ra lời
khai có lợi cho mình, gây khó khăn cho việc xác định phần lỗi và trách nhiệm bồi
thường của từng bên. Việc dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra cũng chỉ
mang tính tương đối.
Thứ tư, chỉ được gọi là TNGTĐB nếu hành vi vi phạm các quy định về an
toàn giao thông đường bộ là do lỗi có lỗi vô ý hoặc không có lỗi.
Trong trường hợp thiệt hại xảy ra trong quá trình tham gia giao thông
được thực hiện do lỗi cố ý hoặc không có lỗi do đây là một sự kiện bất ngờ nằm
ngoài ý chí chủ quan của của những người tham gia giao thông. Trường hợp
người gây tai nạn mong muốn thiệt hại xảy ra thì không thể gọi là TNGTĐB mà
tùy từng trường hợp sẽ có tên gọi tương ứng.
Ví dụ 1: Do có mâu thuẫn trong làm ăn nên nhân lúc A đang đi bộ sang
đường, B đã cố tình điều khiển xe ôtô đâm thẳng vào A, hậu quả làm ông A thiệt
mạng tại chỗ. Đây là một vụ Giết người chứ không phải là một vụ TNGTĐB do
hành vi của A là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác.
Ví dụ 2: C vốn là người không ưa gì D nên luôn tìm cách “chọc tức” D.
Khi D đang dựng xe máy uống nước bên bờ sông, thì C bèn giả vờ điều khiển xe
máy đi vào “ổ gà” gần đó làm xe mất lái rồi đâm vào xe máy của D làm xe máy
của D rơi xuống sông. Trong trường hợp này hành vi của C là một hành vi huỷ
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
1.2. KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
15
16
trông giữ, vận hành, sử dụng… phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, cụ thể
ở đây là các quy định về an toàn giao thông đường bộ để tránh cho thiệt hại xảy
ra.
Các vụ TNGTĐB chỉ có thể xảy ra nếu con người có hành vi vi phạm
các quy định về an toàn giao thông đường bộ mà gây ra TNGTĐB làm thiệt hại
đến tính mạng, sức khỏe và tài sản cho con người (không thể gây thiệt hại về
danh dự, nhân phẩm, uy tín như đã phân tích ở trên) thì sẽ phát sinh TNBTTH,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. TNBTTH trong các vụ TNGTĐB bao
gồm cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách nhiệm bồi
thường ngoài hợp đồng. Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ xem
xét TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như là một loại TNBTTH ngoài hợp đồng
Từ những sự phân tích và nhận định nêu trên, tác giả xin đưa ra khái
niệm TNBTTH trong các vụ TNGTĐB như sau:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường
bộ là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được phát sinh
khi người nào có hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ
gây ra gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản cho con người.
1.2.2. Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn
giao thông đường bộ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
được chia làm 2 loại gồm: TNBTTH do hành vi trái pháp luật của con người gây
ra TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1.2.2.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của
con người gây ra
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con
người gây ra, có 2 trường hợp đáng chú ý đó là: BTTH trong trường hợp người bị
hại có lỗi và BTTH trong trường hợp có lỗi của nhiều người
thể cùng gây thiệt hại cho phía người bị hại. Điều 616 BLDS chỉ quy định cụ thể
5 PGS. TS. Hoàng Thế Liên (2008), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 - Tập I, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
18
thế nào là "cùng gây thiệt hại". Điều đó đã dẫn đến có hai cách hiểu khác nhau
trong thực tiễn nhận thức và áp dụng pháp luật. Một trường hợp thực tiễn cụ thể
như sau: A là người điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường Quốc lộ 1A phía
sau chở B, do chạy quá tốc độ, vượt ẩu, A đã chạy xe ra gần giữa đường và đâm
vào chắn bùn bánh xe bên trái xe ô tô do C điều khiển đang lưu thông ngược
chiều gây tai nạn làm B bị thương nặng. Qua kết quả khám nghiệm hiện trường
và các chứng cứ khác cho thấy C đã không giảm tốc độ khi tránh xe ngược chiều,
chạy lấn sang phấn đường bên trái 15 cm so với tim đường, Tòa án kết luận cả A
và C đều có lỗi đối với thiệt hại về sức khỏe của B, cả A và C đều phải chịu
TNBTTH cho B. Tuy nhiên, việc áp dụng điều luật của BLDS để giải quyết việc
bồi thường trong trường hợp này đã có hai ý kiến khác nhau:
Ý kiến thứ nhất cho rằng, cần áp dụng Điều 616 BLDS để buộc A và C
phải liên đới bồi thường thiệt hại vì cho rằng, trong trường hợp này cả A và C
đều có lỗi đối với thiệt hại của B, hay nói cách hành vi trái pháp luật của A và
hành vi trái pháp luật của C là nguyên nhân gây ra là hậu quả thiệt hại về sức
khỏe của B; mặt khác Điều 616 BLDS chỉ quy định chung chung là "cùng gây
thiệt hại" chứ không trực tiếp chỉ rõ là "cố ý" hay "vô ý" nên trách nhiệm liên đới
bồi thường thiệt hại vẫn đặt ra đối với trường hợp trên.
Ý kiến thứ hai cho rằng, trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại chỉ phát
sinh trong trường hợp những người có hành vi trái pháp luật đều "cùng cố ý" gây
ra thiệt hại, hoặc những trường hợp khác do pháp luật quy định. Trong trường
hợp trên, tuy xét về mặt khách quan thì hành vi của A và hành vi của C xảy ra
gây hậu quả với lỗi vô ý thì họ sẽ BTTH theo mức độ lỗi của mỗi người, nghĩa là
chia tách hậu quả theo mức độ lỗi tương ứng, nếu không xác định được mức độ
lỗi thì phải bồi thường theo phần bằng nhau. Về mặt thực tiễn xét xử các vụ
TNGTĐB do lỗi của nhiều người cùng gây ra cho thấy toà án đều buộc các bị cáo
chịu trách nhiệm về hình sự cũng như dân sự phần hậu quả chung của vụ án,
chưa có trường hợp nào chia tách hậu quả của vụ án.7
7 Trần Quỳnh Phượng (2011) Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông
đường bộ tại thành phố Huế từ năm 2006 đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã
hội-Viện khoa học xã hội Việt Nam, trang 48
20
1.2.2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là
một loại TNBTTH trong các vụ TNGTĐB
Về mặt thực tiễn xét xử các vụ TNGTĐB do lỗi của nhiều người cùng gây
ra cho thấy toà án đều buộc các bị cáo chịu trách nhiệm về hình sự cũng như dân
sự phần hậu quả chung của vụ án, chưa có trường hợp nào chia tách hậu quả của
vụ án.8
1.2.2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là
một loại TNBTTH trong các vụ TNGTĐB. TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra là loại trách nhiệm do tài sản gây ra, thiệt hại xảy ra không phải do
hành vi và do lỗi của con người mà do hoạt động “tự thân” của nguồn nguy hiểm
cao độ luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho môi trường và những người xung
quanh. Mặc dù chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ có thể
không có lỗi đối với thiệt hại nhưng để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người bị
điểm này đánh đồng tất cả các thiệt hại đều do con người gây ra, vì vậy các thiệt
hại đều quy về một nguyên tắc bồi thường thiệt hại nói chung. Tuy nhiên, không
phải mọi thiệt hại do vật gây ra đều có sự tác động của con người. Nhiều trường
hợp, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ nằm ngoài sự kiểm soát, chế ngự
của con người và tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại. Việc xác định
thiệt hại là do “tác động của người” hay “tác động của vật” có ý nghĩa vô cùng
quan trọng khi xác định TNBTTH. 9
Những trường hợp thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ
nhưng do “tác động của con người”, do hành vi của con người gây ra thì chỉ cần
áp dụng nguyên tắc chung của TNBTTH. Hầu hết các vụ tai nạn, thiệt hại đều có
sự tham gia của vật với vai trò trung gian như là công cụ, phương tiện mà con
người sử dụng để gây thiệt hại như lái xe phóng nhanh, vượt ẩu gây tai nạn…
9 Ts. Trần Thị Huệ (2009), Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại-vấn đề lý luận và thực tiễn, đề tài
nghiên cứu cấp trường, Đại học Luật Hà Nội , tại địa chỉ: truy cập ngày 01/8/2016
22
Những trường hợp này thiệt hại hoàn toàn do hành vi có chủ ý của con người chứ
không phải do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại. Trường hợp thiệt
hại xảy ra do hoạt động nội tại của nguồn nguy hiểm cao độ, hoàn toàn độc lập
và nằm ngoài sự quản lý, kiểm soát của con người thì sẽ áp dụng TNBTTH do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như: xe ô tô đang chạy với tốc độ cao đột nhiên
mất phanh, mất lái hoặc nổ lốp gây ra thiệt hại; …
Một điểm cần lưu ý là hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao
độ phải có tính trái pháp luật. Pháp luật hiện hành mới chỉ có quy định về “hành
vi trái pháp luật” của con người mà chưa có quy định về tính trái pháp luật khi tài
sản nói chung và nguồn nguy hiểm cao độ nói riêng gây thiệt hại. Theo tinh thần
của pháp luật nói chung và BLDS nói riêng, sức khoẻ, tính mạng và tài sản của
công dân được pháp luật bảo vệ do vậy việc gây thiệt hại đến tính mạng, sức
nhân tất yếu, nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và thiệt hại
xảy ra là kết quả của hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ. Khi xác định
TNBTTH, cần xem xét thiệt hại đó nguyên nhân nào gây ra, do đâu mà có? Nếu
không xác định chính xác mối quan hệ nhân quả thì sẽ dẫn đến những sai lầm khi
xác định trách nhiệm bồi thường
Sự khác nhau trong mối quan hệ nhân quả giữa BTTH do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra so với BTTH do hành vi của con người gây ra thể hiện ở chỗ.
Nếu trong BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, sự tác động tự thân của
nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên nhân gây thiệt hại (kết quả); thì trong BTTH
do hành vi con người gây ra, hành vi trái pháp luật của con người là nguyên nhân
gây thiệt hại (kết quả)
* Về vấn đề lỗi
Về nguyên tắc, TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ cần thoả
mãn các điều kiện trên đây. Điều kiện về lỗi không có ý nghĩa đối với TNBTTH
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, thậm chí kể cả khi chủ sở hữu nguồn nguy
hiểm cao độ không có lỗi vẫn phải bồi thường trừ trường hợp do pháp luật quy
định tại khoản 3 Điều 623 BLDS 2005.
Điều 623 BLDS 2005 quy định TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra chỉ được loại trừ trong trường hợp “thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại”.
24
Quy định như vậy được hiểu là nếu thiệt hại hoàn toàn do lỗi vô ý của người bị
thiệt hại thì TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ vẫn phát sinh.
Một điểm quan trọng cần lưu ý là lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu
trong TNBTTH do tài sản (trong đó có nguồn nguy hiểm cao độ) gây ra chỉ có
thể là lỗi vô ý. Chủ thể này đã không nhìn thấy trước nguy cơ tài sản có thể gây
thiệt hại, điều mà những người chu đáo, cẩn thận sẽ nhận thấy được trong hoàn
cảnh tương tự. Thiệt hại phát sinh khi chủ sở hữu, người quản lý tài sản đã không
nguy hiểm cao độ thì không áp dụng trách nhiệm này 10
* Xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra
Căn cứ vào khoản 2 Điều 623 BLDS 2005 và Nghị quyết số 03/2006/NQHĐTP thì chủ thể phải chịu TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra gồm
có: Chủ sở hữu; người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ; người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ.
Việc xác định ai trong số các chủ thể này phải chịu TNBTTH do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể.
- Chủ sở hữu đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ.
Theo quy định của pháp luật, chủ sở hữu là người có quyền chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản theo ý chí của mình. Việc thực hiện quyền sở hữu của chủ sở
hữu không được gây tổn hại tới lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác. Vì vậy, nếu nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho người khác
trong trường hợp chủ sở hữu đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm
cao độ thì TNBTTH thuộc về chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ.
- Người được chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao chiếm hữu, sử
dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật phải BTTH do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu và người được
giao chiếm hữu, sử dụng có thoả thuận khác không trái pháp luật, đạo đức xã hội
hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường (có thể là thoả thuận cùng nhau liên
đới bồi thường thiệt hại; có thể là thoả thuận chủ sở hữu bồi thường thiệt hại
10 Ts. Trần Thị Huệ (2009), Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại-vấn đề lý luận và thực tiễn, đề tài
nghiên cứu cấp trường, Đại học Luật Hà Nội , tại địa chỉ: truy cập ngày 01/8/2016