BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự
và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án trên địa bàn
thành phố Hải Phòng
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự
và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án trên địa bàn
thành phố Hải Phòng
HTND
Hội thẩm nhân dân
TAND
Tòa án nhân dân
TTDS
Tố tụng dân sự
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA HỘI
THẨM NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ.......................................... 6
1.1. Khái niệm Hội thẩm nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm
nhân dân trong tố tụng dân sự ............................................................................ 6
1.1.1. Khái niệm Hội thẩm nhân dân ................................................................ 6
1.1.2. Khái niệm nhiệm vụ của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự ..... 7
1.1.3. Khái niệm quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự ...... 9
1.2. Vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự ...................10
1.3. Cơ sở khoa học của việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm
nhân dân trong tố tụng dân sự ..........................................................................14
1.3.1. Cơ sở lý luận ..............................................................................................14
1.3.2. Cơ sở pháp lý .............................................................................................16
1.3.3. Cơ sở thực tiễn...........................................................................................18
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
2.4.4. Tham gia nghị án, tuyên án ......................................................................52
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ...................................................................................55
Chƣơng 3
THỰC TIỄN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA HỘI THẨM
NHÂN DÂN TẠI CÁC TÒA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ................................................................56
3.1. Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân tại
các Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng ................................................56
3.1.1. Thành phần Hội thẩm nhân dân trên địa bàn thành phố Hải Phòng ...56
3.1.2. Kết quả đạt được và những hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Hội thẩm nhân dân tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố
Hải Phòng ............................................................................................................58
3.1.2.1. Đối với việc nghiên cứu hồ sơ vụ án .......................................................61
3.1.2.2. Đối với việc đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán ra các quyết định cần
thiết .......................................................................................................................64
3.1.2.3. Đối với việc tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự ..............................65
3.1.2.4. Đối với việc tiến hành các hoạt động tố tụng và ngang quyền với Thẩm
phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử ........67
3.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của Hội thẩm nhân dân ........................................................................................73
3.2. Một số kiến nghị ..........................................................................................75
3.2.1. Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật ...........................................................77
3.2.2. Kiến nghị bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân
dân ........................................................................................................................83
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ...................................................................................86
KẾT LUẬN .........................................................................................................87
tạp. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, trong quá trình xét xử sơ
thẩm các vụ án dân sự cũng phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập ảnh hưởng đến
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân. Từ đó làm ảnh
2
hưởng trực tiếp đến hoạt động xét xử của Tòa án, đến quyền, lợi ích của Nhà
nước và nhân dân.
Vì vậy, việc nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân
khi tham gia giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm phù hợp với thực
tiễn, vừa để bảo đảm nguyên tắc pháp chế, vừa để xem xét xây dựng các quy
định, chế độ đối với Hội thẩm nhân dân phù hợp với vị trí, vai trò của họ trong tố
tụng dân sự, góp phần thực hiện đúng mục tiêu, quan điểm cải cách tư pháp của
Đảng và Nhà nước.
Để làm rõ các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân
trong tố tụng dân sự và thông qua thực tiễn việc thực hiện các quy định đó để
đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thện quy định của pháp luật và bảo
đảm cho các quy định đó được thực hiện hiệu quả trên thực tế, tác giả lựa chọn
nghiên cứu đề tài “Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng
dân sự và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Hải
Phòng” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ nghiên cứu luật học, đã có nhiều bài viết và công trình
nghiên cứu về chế định Hội thẩm nhân dân cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của
Hội thẩm nhân dân được đăng trên các tạp chí và trong các luận văn, tiêu biểu
phải kể đến là: Bài viết “Quyền và nghĩa vụ của Hội thẩm theo quy định của
pháp luật hiện hành và những vấn đề đặt ra” của PTS. Phạm Văn Lợi đăng trên
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 8/1999, bài viết “Đổi mới chế định Hội thẩm,
nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án” của tác giả Nguyễn Tất Viễn đăng
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định về nhiệm vụ, quyền
hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam theo Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015, cũng như việc thực hiện các quy định đó trên thực tế tại các
Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn được giới hạn trong các vấn đề sau:
- Nghiên cứu vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân; sự cần thiết phải có
Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự.
- Nghiên cứu sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển các quy định về
nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự.
- Nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng
dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành. Thông qua thực tiễn thực hiện các
quy định này tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng để đánh giá sự phù
hợp của các quy định của pháp luật, từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm, hiệu quả hoạt động
của Hội thẩm nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự.
4
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục tiêu của Luận văn là nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt lý luận
và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng
dân sự tại Tòa án hai cấp thành phố Hải Phòng để giải quyết những vướng mắc
về mặt lý luận, khắc phục những hạn chế trong các quy định về nhiệm vụ, quyền
hạn của Hội thẩm nhân dân, qua đó nâng cao hiệu quả xét xử của Hội thẩm, góp
phần tăng cường năng lực xét xử của Tòa án - một khâu quan trọng trong cải
cách tư pháp.
Từ mục tiêu đó, nhiệm vụ của Luận văn là: Làm rõ khái niệm nhiệm vụ,
quyền hạn của Hội thẩm nhân dân; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện
hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân; tìm hiểu, so sánh với
- Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, Luận văn đề xuất hoàn thiện
tổng thể quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân; các
chính sách, chế độ đãi ngộ đối với Hội thẩm nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả
hoạt động của Hội thẩm.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được chia làm 3 chương.
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm
nhân dân trong tố tụng dân sự.
Chƣơng 2: Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân theo quy định
của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
Chƣơng 3: Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân
dân tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng và một số kiến nghị.
Do những nguyên nhân chủ quan và khách quan nên việc thu thập tài liệu
liên quan đến đề tài còn hạn chế, một số vấn đề có liên quan đến việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân tác giả vẫn chưa có điều kiện
nghiên cứu sâu hơn và không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được
sự góp ý, sửa chữa của các thầy, cô để Luận văn được hoàn thiện hơn.
6
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA
HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái niệm Hội thẩm nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm Hội thẩm nhân dân
Theo từ điển Tiếng Việt, Hội thẩm là “đại biểu nhân dân hoặc đại biểu
quân nhân cùng ngồi xử án với các Thẩm phán”1.
Theo khoản 2 Điều 7 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân thì: “Chế độ bầu Hội
sự
Với tư cách là cơ quan thực hiện chức năng tư pháp và xét xử của một nhà
nước, Tòa án luôn có một vị thế hết sức đặc biệt. Cùng với lập pháp, hành pháp
thì tư pháp được hiểu là quyền xét xử hoặc để chỉ một nhánh quyền lực nhà nước
phụ trách công việc xét xử và bảo vệ pháp luật. Nhằm để cho các phán quyết của
Tòa án được đưa ra đúng pháp luật, thể hiện sự công bằng, dân chủ nên vấn đề
có Hội thẩm hay Bồi thẩm đoàn, Phụ thẩm... tham gia HĐXX cùng với Thẩm
phán luôn được quan tâm, ghi nhận và thực hiện ở các nhà nước khác nhau.
Từ xa xưa, người Hy Lạp cổ đại đã có Hội thẩm tham gia xét xử và việc
có nhiều hay ít Hội thẩm tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của phiên tòa,
nhưng bao giờ cũng là số lẻ. Tại Mỹ sự tham gia của người dân vào hoạt động
xét xử cũng được quy định khá chặt chẽ thông qua Bồi thẩm đoàn, còn ở Nhật
Bản khi xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm nghiêm trọng thì HĐXX bao gồm 3
Thẩm phán và 6 HTND3.
Thực tiễn cho thấy, việc quy định và áp dụng xét xử có Hội thẩm cùng với
ý nghĩa nhân đạo, góp phần giải quyết vụ án được khách quan còn giúp tăng
cường nhận thức và hiểu biết pháp luật của người dân, đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, giáo dục pháp luật; giúp người dân giám sát hoạt động của Tòa án một
cách trực tiếp, dân chủ. Đây được xem là những giá trị chung của chế định hội
thẩm đối với nền tư pháp của mỗi chính thể và mỗi quốc gia.
Ở nước ta, HTND là thành phần không thể thiếu trong HĐXX sơ thẩm các
vụ án dân sự. Việc tham gia của HTND vào thành phần HĐXX là sự thể hiện
bản chất dân chủ nhân dân của Nhà nước ta, biểu hiện cho nền dân chủ trong
hoạt động tư pháp. Chế định Hội thẩm bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực
của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm
2014 thì “chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với TAND tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh và tương đương. Chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với Tòa
3
định”5. Theo cách giải thích này thì nhiệm vụ nói chung là công việc mang tính
chất bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện. Nhiệm vụ của một chủ thể xuất
phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được
pháp luật quy định. Cùng một chủ thể nhưng đối với mỗi quan hệ xã hội khác
nhau thì pháp luật cũng xác định nhiệm vụ khác nhau cho chủ thể đó.
HTND là người tiến hành tố tụng được bầu ra theo quy định của pháp luật
để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án. Nhiệm vụ
4
5
Nguyễn Như Ý (chủ biên,1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, TP.HCM, tr.1251.
Hoàng Phê (chủ biên, 2003), tlđd chú thích 1, tr.718.
9
của HTND trong TTDS là những yêu cầu, những công việc cụ thể do Nhà nước
đặt ra và được quy định trong Hiến pháp, Luật Tổ chức Toà án, BLTTDS mà
HTND phải thực hiện bằng những hình thức, biện pháp nhất định trong quá trình
giải quyết vụ việc dân sự.
Như vậy, nhiệm vụ của HTND trong tố tụng dân sự là những công việc cụ
thể do pháp luật quy định mà HTND phải thực hiện kể từ khi được Chánh án
Tòa án cấp sơ thẩm phân công giải quyết vụ án dân sự cho đến khi ban hành
bản án, quyết định giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm.
1.1.3. Khái niệm quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân
sự
Dưới góc độ pháp lý, “quyền của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được
xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công
tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp
phán ra các quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền; tham gia Hội đồng xét xử;
tiến hành các hoạt động tố tụng và biếu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền
của Hội đồng xét xử.
Như vậy, quyền hạn của HTND trong tố tụng dân sự là quyền tham gia
quyết định thực hiện các hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật
kể từ khi được Chánh án Tòa án cấp sơ thẩm phân công giải quyết vụ án dân sự
cho đến khi ban hành bản án, quyết định giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm.
1.2. Vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân (khoản 1 Điều 2 Hiến
pháp năm 2013). Trong đó, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công,
phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được
xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp, chức vụ, vị trí công tác
và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật.
Toà án nhân dân với chức năng xét xử - một hoạt động cơ bản của quyền tư
pháp, là cơ quan có vị trí độc lập và là bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong
bộ máy nhà nước. Trong các cơ quan tư pháp, Toà án là cơ quan xét xử và là cơ
quan có vị trí, vai trò quan trọng nhất.
Nhiệm vụ của Toà án là thực hiện việc xét xử, giải quyết các vụ việc phát
sinh từ các quan hệ pháp luật hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh
doanh thương mại, hành chính. Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật thì
chức năng của Tòa án là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân7. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, pháp luật
quy định, Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, đồng thời quy định khi
xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự phải có sự tham gia của HTND.
7
Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013, Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong hoạt động của Tòa án, thể hiện sự giám sát,
kiểm tra trực tiếp của nhân dân từ bên trong.9
8
Trần Minh Giang (2010), “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư”, Báo Nhân dân điện tử, tại địa chỉ:
http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/6252102-.html ngày truy cập 18/4/2017.
9
Phạm Văn Lợi (1999), “Quyền và nghĩa vụ của Hội thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành và
những vấn đề đặt ra”, Dân chủ và Pháp luật, (08), tr.8.
12
Ở nước ta, việc tham gia của HTND - những người đại diện của Nhân dân
vào quá trình xét xử của Tòa án được Nhà nước ta ghi nhận là một nguyên tắc
hiến định, được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp. Hội thẩm chính là
những cá nhân được nhân dân tín nhiệm bầu ra (thông qua Hội đồng nhân dân
cùng cấp), đại diện cho người dân địa phương tham gia vào hoạt động xét xử tại
các Tòa án dân sự ở khu vực của mình. HTND có địa vị pháp lý và vai trò rất
quan trọng trong công tác xét xử, vì khi tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm, Hội thẩm
chiếm đa số trong HĐXX (2/3 hoặc 3/5) và khi xét xử Hội thẩm ngang quyền
với Thẩm phán khi biểu quyết các vấn đề của vụ án. Nhận thức thật đúng đắn về
vai trò, tính chất của HTND là hết sức cần thiết để đáp ứng được đòi hỏi của
thực tế, tránh những quy định mang tính hình thức và những lãng phí về mặt xã
hội, phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, giúp cho Tòa án ban hành được
những bản án “thấu tình, đạt lý”. Khi tham gia xét xử các vụ án dân sự vị trí, vai
trò của HTND được xác định như sau:
Thứ nhất, HTND là những người do nhân dân bầu ra thông qua việc tham
gia vào quá trình xét xử mà thực hiện quyền tư pháp do nhân dân giao phó, giúp
đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân thì các
thành viên trong HĐXX không chỉ là những người có trình độ chuyên môn cao
về mặt luật pháp mà còn phải có kiến thức và kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã
hội sâu sắc. Vì vậy, việc quy định chế độ xét xử có HTND tham gia là hết sức
quan trọng. HTND là những người có đời sống hòa nhập với cộng đồng dân cư ở
địa phương, là các cá nhân ưu tú, có hiểu biết, có uy tín được chọn ra từ đại diện
của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp... ở địa phương. Khi
được bầu làm HTND, Hội thẩm không tách khỏi hoạt động lao động sản xuất
của cơ quan, đơn vị mình. Đối với từng vụ án dân sự cụ thể, khi được phân công
tham gia xét xử, HTND thường là những người am hiểu về phong tục, tập quán
của địa phương, có hiểu biết sâu về đối tượng, lĩnh vực mà các bên đang tranh
chấp, cũng như am hiểu về các kiến thức chuyên ngành, có kiến thức thực tiễn
đời thường và kinh nghiệm hoạt động xã hội. Vì vậy, với vốn hiểu biết thực tế,
kinh nghiệm trong cuộc sống, sự am hiểu về phong tục tập quán địa phương họ
dễ dàng thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng, nắm bắt được dư
luận quần chúng nhân dân. Do đó, họ có thể nhìn nhận một cách khách quan đối
với các sự kiện, vụ việc dưới góc nhìn của quần chúng nhân dân, là người thể
hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân chứ không phải từ góc độ của một luật gia
thuần túy. Chính những yếu tố đó sẽ giúp cho Thẩm phán bổ sung các kiến thức
10
Nguyễn Tất Viễn (1999), “Cải cách chế định Hội thẩm, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án”,
Thông tin khoa học pháp lý - Chuyên đề về Chế định Hội thẩm trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, tr.26.
14
xã hội cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo vụ án được giải quyết
một cách đúng đắn, khách quan, được xã hội đồng tình ủng hộ.
Trương Hòa Bình (2012), “Một số vấn đề về chế định Hội thẩm nhân dân”, Báo điện tử Chính phủ tại
địa
chỉ:
http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Mot-so-van-de-ve-che-dinh-Hoi-tham-nhandan/155171.vgp ngày truy cập 22/4/2017.
15
dân trong HĐXX và được pháp luật trao cho các quyền năng và nhiệm vụ cần
thiết để thực hiện tốt chức năng của mình.
Đó là một yêu cầu tất yếu có tính khách quan của một nền tư pháp mới
của dân, do dân và vì dân. Bản chất nhân dân, tính chất dân chủ của Tòa án ở chế
độ Xã hội chủ nghĩa không chỉ thể hiện ở các công chức tư pháp tận tụy hết lòng
với dân, mà còn thể hiện đậm nét ở việc huy động ngày càng đông đảo quần
chúng nhân dân tham gia kiểm tra và giám sát công tác xét xử.12
Thứ hai, hoạt động xét xử của Tòa án hết sức khó khăn, phức tạp, liên
quan trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và xã hội.
Đánh giá một cách khách quan, trung thực, đầy đủ và toàn diện các tình tiết của
một vụ án dân sự trong hoạt động xét xử là vô cùng khó khăn và phức tạp. Làm
sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt
động áp dụng pháp luật, góp phần giải quyết vụ án đúng đắn, ổn định các quan
hệ xã hội, nâng cao ý thức pháp luật của cộng đồng. Trong công tác xét xử,
HĐXX phải phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án một cách biện chứng và
toàn diện cả về phương diện pháp lý và xã hội, đây là hai mặt thống nhất của một
vấn đề. Hội thẩm tham gia xét xử sẽ bù đắp, khắc phục những hạn chế cho Thẩm
phán, hỗ trợ, phối hợp với Thẩm phán tìm ra chân lý của sự việc vì họ là những
người gần gũi với dân, hiểu được tâm tư nguyện vọng của nhân dân, thái độ của
nhân dân đối với vụ án.
Hội thẩm tham gia xét xử sẽ mang vào phiên tòa một nhận thức và sự hiểu
biết pháp luật ở mức “trung bình” của đại đa số nhân dân, một bầu không khí đời
nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử. Như vậy,
một phần quan trọng để cải cách tư pháp là nâng cao hơn nữa chất lượng xét xử.
Vì vậy, việc xác định cụ thể, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của HTND là một vấn
đề quan trọng. Bởi vì, cùng với Thẩm phán, HTND tham gia vào hoạt động xét
xử sơ thẩm các vụ án dân sự tại Toà án, nhân danh Nhà nước phán quyết tính
đúng - sai của các quan hệ pháp luật.
Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hoạt động của Toà án trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp dân sự nhằm lập
lại trật tự đúng của các quan hệ đó, từ đó góp phần quan trọng trong việc bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của công dân, giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội.
Bằng việc tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự, HTND có vai trò hết sức
quan trọng trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hiệu quả hoạt động của Toà án
cũng có sự đóng góp không nhỏ của HTND. Chính vì vậy, để phát huy năng lực,
trách nhiệm của HTND thì cần phải xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của họ
trong TTDS, đồng thời xây dựng một cơ chế khoa học, hợp lý để HTND thực
hiện được nhiệm vụ, quyền hạn của mình một cách nhanh chóng, hiệu quả, đúng
pháp luật.
17
Việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của HTND là cơ sở để HTND
thực hiện các hoạt động tố tụng khi được phân công xét xử các vụ án dân sự,
nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời là cơ sở để xác định trách nhiệm của họ
khi tiến hành tố tụng không đúng.
Ở nước ta, nguyên tắc “việc xét xử của Tòa án có HTND tham gia” đã
được ghi nhận qua các bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và tiếp
tục được khẳng định tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1.Việc xét xử sơ thẩm của Tòa
án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.”.
quyết định cuối cùng của Tòa án.
1.3.3. Cơ sở thực tiễn
Việc xét xử của Tòa án có HTND tham gia xuất phát từ chế độ dân chủ
của Nhà nước ta, đã được Hiến pháp và pháp luật quy định. Hiện nay, quy định
của pháp luật TTDS về nhiệm vụ, quyền hạn của HTND tương đối đầy đủ, góp
phần quan trọng để họ phát huy năng lực, kiến thức của mình khi giải quyết các
vụ án. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải bất kỳ Hội thẩm nào cũng ý thức được
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, nhiều khi bị phụ thuộc vào Thẩm phán làm ảnh
hưởng đến chất lượng xét xử và không phát huy được vai trò đại diện cho nhân
dân.
Theo quy định của BLTTDS thì HTND chỉ tham gia xét xử các vụ án dân
sự còn đối với việc dân sự thì HTND không tham gia.
Mục đích của quy định này nhằm đảm bảo cho việc giải quyết việc dân sự
được nhanh chóng, giảm bớt chi phí tố tụng, tiết kiệm cho ngân sách nhà nước
đồng thời tạo điều kiện cho Thẩm phán có thể chủ động trong công việc của
mình, nâng cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán, thực hiện những bước đi cơ
bản của công cuộc cải cách tư pháp.14
Điều đó là hoàn toàn phù hợp bởi tính chất của vụ án dân sự là các tranh
chấp, mâu thuẫn mang tính phức tạp hơn, quyền và lợi ích của các đương sự ảnh
hướng lớn hơn, nên sự tham gia của HTND là đảm bảo sự tham gia của người
dân vào việc xét xử của Tòa án, tăng cường tính công khai, minh bạch.
Thành phần xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự được quy định như sau:
HĐXX sơ thẩm vụ án dân sự gồm 01 Thẩm phán và 02 HTND, trừ trường hợp
giải quyết theo thủ tục rút gọn; trong trường hợp đặc biệt thì HĐXX sơ thẩm có
thể gồm 02 Thẩm phán và 03 HTND.
Có thể thấy, HTND luôn chiếm số lượng lớn hơn so với Thẩm phán trong
thành phần HĐXX sơ thẩm. Theo quy định trên, số lượng HTND trong thành
phần HĐXX sơ thẩm các vụ án dân sự luôn cao hơn số lượng Thẩm phán, thông
14