BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ HƢƠNG MAI
MỘT SỐ NÉT ĐẶC SẮC NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
THƠ ĐIỀN VIÊN ĐỜI ĐƢỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ HƢƠNG MAI
MỘT SỐ NÉT ĐẶC SẮC NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
THƠ ĐIỀN VIÊN ĐỜI ĐƢỜNG
Chuyên ngành: Văn học nƣớc ngoài
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: Ths. Hà Thị Hải
SƠN LA, NĂM 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ Văn (đặc biệt là các
4.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu .............................................................. 7
5. Đóng góp của khóa luận ................................................................................ 8
6. Cấu trúc của khóa luận .................................................................................. 8
CHƢƠNG 1. ĐẶC SẮC NỘI DUNG THƠ ĐIỀN VIÊN ĐỜI ĐƢỜNG ......... 9
1.1. Một số khái niệm ........................................................................................ 9
1.1.1. Nội dung tác phẩm văn học .................................................................. 9
1.1.2. Hình tượng nghệ thuật ........................................................................ 10
1.1.3. Thơ điền viên ..................................................................................... 11
1.2. Những hình tượng tiêu biểu trong thơ điền viên đời Đường ..................... 12
1.2.1. Cánh đồng .......................................................................................... 13
1.2.1.1. Cánh đồng lúa ....................................................................... 14
1.2.1.2. Cánh đồng cỏ ......................................................................... 16
1.2.2. Vườn .................................................................................................. 18
1.2.2.1. Vườn hoa ............................................................................... 18
1.3.2.2. Vườn cây ăn quả .................................................................... 20
1.3.3. Ao ...................................................................................................... 22
1.2.4. Con vật ............................................................................................... 24
1.2.5. Con người .......................................................................................... 26
Tiểu kết ........................................................................................................ 28
CHƢƠNG 2. ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT THƠ ĐIỀN VIÊN ĐỜI ĐƢỜNG . 29
2.1. Khái niệm hình thức tác phẩm văn học ..................................................... 29
2.2. Những phương diện nghệ thuật cơ bản của thơ điền viên đời Đường ....... 30
2.2.1. Điểm nhìn........................................................................................... 30
2.2.2. Ngôn ngữ ........................................................................................... 32
2.2.2.1. Hàm súc ................................................................................. 33
2.2.2.2. Hệ thống từ vựng phong phú .................................................. 34
2.2.2.3. Giàu tính nhạc, họa ............................................................... 37
2.2.2.4. Một số biện pháp nghệ thuật khác.......................................... 41
trong sáng, hình ảnh được miêu tả cũng như không gian trong thơ vô cùng gần
gũi, thân thuộc nên khi đọc ta dễ dàng hình dung, tưởng tượng và cảm nhận
được những vẻ đẹp của thiên nhiên, của cảnh vật hay đơn giản là vẻ đẹp của bức
tranh cuộc sống sinh hoạt hằng ngày từ đó thấy được thông điệp tư tưởng, tình
cảm trong sáng mà tác giả muốn gửi gắm vào trong đó. Càng đọc ta lại càng
thấy yêu thích nó hơn, càng muốn chìm đắm thêm chút nữa trong không gian
điền viên lãng mạn tươi đẹp ấy. Chiêm ngưỡng, cảm nhận cái đẹp cũng là một
cách để ta thư giãn, hưởng thụ cuộc sống.
1
1.3. Thơ Đường chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình văn học ở
trường Phổ thông, Cao đẳng, Đại học và ngày càng trở nên hấp dẫn đối với các
thế hệ độc giả. Đó chính là động lực khiến người viết tiếp tục tiếp bước cuộc
hành trình văn học đến với thơ ca đời Đường qua đề tài “Thơ điền viên đời
Đường”. Đặc biệt là đã có một số bài thơ điền viên đời Đường được tìm hiểu
trong chương trình Đại học và Trung học phổ thông, đồng thời cũng có nhiều
bài thơ trong văn học Việt Nam có liên quan đến đề tài điền viên cho nên việc
tìm hiểu đề tài này sẽ giúp ta có thêm kiến thức bổ sung vào sự am hiểu về thơ
ca Trung Quốc, liên hệ và bổ sung thêm kiến thức mở rộng cho văn học trung
đại Việt Nam, lấy đó làm tư liệu để tham khảo giảng dạy trong nhà trường phổ
thông sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Với nội dung phong phú và nghệ thuật đặc sắc, thơ điền viên đời Đường đã
trở thành đối tượng tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc cũng như
Việt Nam:
2.1. Ở Trung Quốc
Trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc của Sở nghiên cứu văn học thuộc
Viện khoa học xã hội Trung Quốc (Dư Quan Anh - Tiền Chung Thư - Phạm
Ninh chủ biên) các tác giả chỉ mới dừng lại ở việc khái quát về sự phân chia
nỗi buồn khi có tài mà không gặp vận và sự oán ghét đối với bọn quan trường
hủ bại” [17, 1177].
Tác giả cuốn Khái yếu văn học lịch sử Trung Quốc cho rằng tác phẩm của
các thi nhân điền viên “phần lớn phản ánh tâm tư tình cảm nhàn tản, ẩn dật,
màu sắc thanh đạm, tình ý sâu xa, sử dụng nhiều hình thức cổ thể năm chữ và
thơ luật năm chữ” [16, 242].
Lâm Ngữ Đường trong Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa còn đặc biệt đề
cao nghệ thuật ấn tượng của thi phái điền viên đến mức cho rằng riêng kỹ thuật tả
cảnh của thi phái này đã thâu gọn cả đặc trưng nghệ thuật của thơ Trung Hoa.
Khi nhận xét về đặc điểm nội dung, nghệ thuật của thơ điền viên, các nhà
nghiên cứu Trung Quốc đều có ý kiến tương đối thống nhất, họ đánh giá rất cao
về dòng thơ này trong việc biểu hiện đời sống tinh thần con người thông qua
những phương tiện nghệ thuật độc đáo.
3
2.2. Ở Việt Nam
Về mảng thơ điền viên đặc sắc đời Đường mà Vương Duy, Mạnh Hạo
Nhiên là đại diện, các nhà nghiên cứu Việt Nam phần nhiều đều dựa theo quan
niệm của các tác giả Trung Quốc:
Nhận xét về thơ điền viên đời Đường, Lê Nguyễn Lưu trong cuốn Đường
thi tuyển dịch đã viết: “Một số nhà thơ có khuynh hướng thoát ly nhìn nông thôn
bằng con mắt Lão - Trang, vẽ ra khung cảnh ruộng vườn phù hợp với tâm trạng
nhàn dật của họ. Thiên nhiên ở đó chưa chan khí vị đạo học, trong sáng êm
đềm… Những cảnh sinh hoạt nông thôn cũng được họ miêu tả đầy đủ, nhưng
công việc điền gia không có gì lam lũ, vất vả mà xem ra lại nhẹ nhàng, hấp
dẫn” [22, 126 -127].
Trong cuốn giáo trình Lịch sử văn học Trung Quốc các tác giả Trương
Chính, Trần Xuân Đề, Nguyễn Khắc Phi cũng nhận xét thơ tả cảnh của Vương
nhiên và không gian sinh hoạt của chủ thể trữ tình chủ yếu ở nơi ruộng vườn
thôn dã nhằm biểu đạt tâm thức ẩn dật, an nhiên, thanh thản, thoát tục” [9, 49].
Từ hướng tiếp cận văn hóa, luận án này cho thấy cội nguồn sâu xa làm nảy
sinh một hiện tượng có thể xem là “đặc sản” của nền văn hóa và văn học Trung
Hoa - thơ điền viên - từ lúc phôi thai đến thời kỳ phát triển thành một dòng thơ
nổi tiếng đời Đường. Những quan niệm về thiên nhiên và chốn điền viên từ triết
học, tôn giáo, phong tục tập quán và tâm linh của người Trung Hoa đã có ảnh
hưởng khá sâu đậm tới đặc trưng thơ điền viên và tâm thức của thi nhân.
Ở nước ta nhìn chung cho tới nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu
mang tính chuyên biệt đề cập đến thơ điền viên đời Đường với tư cách một loại
hình độc đáo dù người ta đã bàn rất nhiều đến thơ điền viên như một trường lưu
không thể thiếu trong nguồn chảy bất tận của Đường thi. Đa số các nhà nghiên
cứu ghép thơ điền viên với thơ sơn thủy thành một dòng gọi là thơ sơn thủy điền viên và đánh giá nó là một dòng thơ nổi bật đời Đường với nhiều thành tựu
xuất sắc.
Luận án của tác giả này đặc biệt quan tâm tới sự kết hợp hài hòa của nội
dung và nghệ thuật thơ điền viên để tạo nên những cảnh giới nghệ thuật độc đáo,
đi sâu khám phá đặc trưng cơ bản, cốt lõi của thơ điền viên trên ba phương diện:
miêu tả cảnh sắc điền viên, phác họa cuộc sống ẩn dật và tâm thức của thi nhân.
Cảnh sắc tự nhiên và không gian sinh hoạt trong thơ điền viên đời Đường không
5
đơn thuần chỉ giới hạn ở phạm vi nông thôn mà bao hàm cả cảnh sắc điền viên
như ruộng, vườn, đồng, bãi… và cảnh sắc sơn thủy như sông, núi, suối, khe…
Hầu hết các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc và Việt Nam đều ghi nhận sự
xuất hiện nổi bật của phái thơ điền viên đời Đường. Các ý kiến đều đánh giá cao
đặc trưng nội dung, nghệ thuật của thơ điền viên, khẳng định đóng góp quan
trọng của thi phái này trong sự phát triển rực rỡ của thơ Đường. Song những
khẳng định đó mới chỉ dừng ở mức độ khái quát về trường phái thơ điền viên
đời Đường, nếu có tìm hiểu cụ thể hơn về thơ điền viên đời Đường thì cũng chỉ
mảng thơ nổi tiếng này.
3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận có nhiệm vụ làm sáng rõ những đặc sắc về nội dung và nghệ
thuật trong thơ điền viên đời Đường. Trong quá trình thực hiện khóa luận chúng
tôi sẽ đi vào phân tích những bài thơ tiêu biểu về đề tài điền viên và mang giá trị
nghệ thuật cao trong thơ điền viên đời Đường.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu theo các phương pháp sau:
4.1. Phƣơng pháp khảo sát thống kê
Đây là phương pháp quan trọng, cần thiết được người viết tiến hành trong
quá trình thực hiện đề tài dựa vào những khảo sát cụ thể để chứng minh cho
những nhận định đánh giá về thơ điền viên đời Đường. Phương pháp này cho
phép chúng ta tập hợp, phân loại được hệ thống dẫn chứng, những chi tiết có giá
trị nghệ thuật cao, các hình ảnh qua đó làm sáng tỏ, tăng sức thuyết phục cho
luận điểm.
4.2. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp
Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên trong quá trình triển khai
khóa luận. Phương pháp này được xem là chủ đạo giúp phân biệt một cách rạch
ròi và làm sáng tỏ các luận điểm lớn, nhỏ rồi từ đó đi sâu và từng chi tiết cụ thể.
4.3. Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu
So sánh sự tương đồng, khác biệt, so sánh đồng đại - lịch đại, đặt đối tượng
nghiên cứu trong mối quan hệ đối chiếu nhau để bổ sung, hỗ trợ làm nổi bật đặc
sắc nội dung và nghệ thuật trong thơ điền viên đời Đường.
7
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần chỉ ra cụ thể hơn, đầy đủ hơn một số đặc sắc nội dung
và nghệ thuật thơ điền viên đời Đường. Khóa luận sẽ là một trong những tài liệu
hiện lại hiện thực đó để đạt tới mục đích tiến bộ, cải tạo hiện thực. Truyện Kiều
của Nguyễn Du giải thích bi kịch của nàng Kiều là vì xã hội. Đó là xã hội phong
kiến thối nát, quan lại bóc lột, đồng tiền lũng đoạn, lấn át mọi giá trị đạo đức.
Chỉ khi nào xã hội bất công đó bị xóa bỏ thì con người mới có được cuộc sống
hạnh phúc.
Nội dung tác phẩm là hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm
nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn. Đó là một hệ thống bao gồm nhiều yếu
tố khách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau, trong đó có phần nhà văn khái
quát, tái hiện đời sống khách quan vừa có phần bắt nguồn từ cảm xúc huyết
mạch, lý tưởng của tác giả. Ví dụ: những tác phẩm về đề tài người nông dân của
9
Nam Cao phản ánh chân thực, sâu sắc tình trạng khốn cùng của người nông dân
Việt Nam trên con đường phá sản, bần cùng hóa, không lối thoát vào những năm
1930 - 1945. Những gia đình nông dân không nhà nào yên ấm, nhà nào cũng tan
tác, chia lìa, bất hạnh gõ cửa từng nhà… với những cái chết trong sự ngột ngạt
của cuộc sống nghẹt thở đã đến mức tận cùng của sự bế tắc.
Nội dung tác phẩm văn học không phải là phép cộng giản đơn của hai
phương diện khách quan và chủ quan mà là một quan hệ biện chứng xuyên thấm
lẫn nhau của chúng. Người sáng tác “phải làm sao cho người đọc không phải
phát phiền với các tư tưởng trên sân khấu, mà là mang theo được những tư
tưởng khi rời khỏi nhà hát” [23, 251]. Người đọc khi đọc xong vở kịch Rômêô
và Juliet của Sêcxpia, cái dư vị của tình yêu cao đẹp vượt lên trên thù hận giữa
Rômêô và Juliet, dư vị của tình người, tình đời theo lý tưởng của chủ nghĩa nhân
văn của tác giả sẽ lắng mãi trong tâm hồn độc giả.
Như vậy nội dung của tác phẩm văn học là sự nhuần nhuyễn giữa nhận
thức và tình cảm với tư tưởng. Đó là mối quan hệ thống nhất, biện chứng giữa
khách quan và chủ quan.
1.1.2. Hình tƣợng nghệ thuật
thơ điền viên có đơn giản là thơ viết về đề tài ruộng vườn? Về nội hàm khái
niệm thơ điền viên, có nhiều ý kiến chưa thống nhất.
Lê Nguyễn Lưu cho rằng thơ điền viên là thơ “miêu tả sinh hoạt nông
thôn hay cảnh ngộ nông dân”, ông chia ra thơ điền viên có hai loại, loại tiến bộ
gần với thơ xã hội, miêu tả đúng thực trạng nghèo nàn, khốn khổ của hiện thực
nông thôn, loại tiêu cực của các thi nhân “có khuynh hướng thoát ly nhìn nông
thôn bằng đôi mắt Lão - Trang, vẽ ra khung cảnh ruộng vườn phù hợp với tâm
trạng nhàn hạ của họ” [22, 116].
Tác giả cuốn Trung Quốc phân thể văn học sử thì không cho rằng thơ
điền viên đơn giản chỉ nói về sinh hoạt nông thôn hay cảnh ngộ nông dân. Họ
khẳng định điền viên thi khác với nông sự thi ở chỗ có nhiều hứng thú thẩm mỹ
hơn, nó từ phong cảnh ruộng vườn và sinh hoạt nông thôn mà hấp thu tư liệu
cuộc sống và linh cảm vào trong sáng tác, biểu hiện vẻ đẹp của cảnh quan ruộng
vườn, sông núi, ngợi ca mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên…
Các tác giả bộ Lịch sử văn học Trung Quốc của Viện Khoa học xã hội
Trung Quốc cũng cho rằng thơ điền viên là loại thơ “ca vịnh cảnh sắc và cuộc
11
sống nông thôn” [1, 290]. Ở đây các tác giả khẳng định thơ điền viên cũng miêu
tả cảnh vật tự nhiên nhưng là cảnh vật gắn liền với không gian nông thôn và sinh
hoạt lao động của người nông dân.
Trần Trung Hỷ thì cho rằng thơ điền viên lấy cảnh quan nông thôn (loại
cảnh quan nhân vi, có bàn tay tạo dựng của con người) làm đối tượng thẩm mỹ
chính, biểu hiện tâm lý an nhiên, tự tại. Tác giả nói rõ hơn đó là những cảnh
“ruộng vườn”, “nhà cỏ”, “chó sủa”, “gà gáy”… [18, 12].
Trên đây là những ý kiến, quan niệm của một số nhà nghiên cứu về thơ
điền viên trong thơ Đường. Trên cơ sở tiếp thu và chọn lọc những quan niệm đó,
người viết cũng mạnh dạn đưa ra quan điểm của mình về thơ điền viên đời
Đường, đó là thơ miêu tả cảnh sắc tự nhiên và không gian sinh hoạt của chủ thể
Con ngƣời
84 bài
22 bài
42 bài
30 bài
12
Trong đó:
Tổng số lƣợng
Nhà thơ điền viên tiêu
thơ điền viên/
Cánh
biểu
tổng số bài khảo
đồng
Vƣờn
Ao
2
4
8
Lý Bạch
20/116 bài
5
11
4
8
5
Đỗ Phủ
35/167 bài
16
18
1
1.2.1. Cánh đồng
Trong thơ điền viên đời Đường, hình tượng cánh đồng trở đi trở lại trong
nhiều trang thơ của các thi nhân, nhất là trong các sáng tác của phái điền viên
mà đỉnh cao là hai nhà thơ Mạnh Hạo Nhiên và Vương Duy. Trong 159 bài thơ
điền viên có 53 bài viết về cánh đồng.
Vẻ đẹp thôn quê là đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc và hình tượng cánh
đồng là một biểu hiện của vẻ đẹp thôn quê đó. Cánh đồng trong thơ điền viên
đời Đường thường hiện lên với vẻ đẹp mênh mông, bát ngát, xanh tươi và tràn
trề sức sống:
Sống trong sự che chở của sông Kỳ,
Cánh đồng phía đông rộng mênh mông không có núi
Mặt trời ẩn ngoài vùng trồng dâu
Sông phân rõ khoảng giữa những xóm thôn
Mục đồng hướng về làng mà đi,
Chó săn theo sát bên người trở về.
Người nhàn cũng nào có việc gì,
Cửa tre theo đó mà đóng cả ban ngày.
(Kỳ thượng điền viên tức sự - Vương Duy)
13
Cảnh vật ở đây mang vẻ đẹp tự nhiên, hòa điệu cùng với những sinh hoạt
bình dị của con người. Sông bao bọc lấy xóm làng, quấn quýt với cánh đồng, hài
hòa êm ả, dịu dàng cùng nhịp sống nhàn hạ thong dong của con người.
Chúng tôi khảo sát cánh đồng trong thơ điền viên đời Đường thấy hình
tượng cánh đồng chủ yếu gắn với cánh đồng lúa bên cạnh đó còn có cánh đồng
cỏ, cánh đồng rau, cánh đồng ngô… Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này,
chúng tôi chỉ tập trung vào hai loại cánh đồng: cánh đồng lúa và cánh đồng cỏ
xuất hiện với tần số lớn trong thơ điền viên đời Đường.
Lớp cỏ bồ mới nảy lộc như dải quần lụa xanh.
(Xuân đề hồ thượng - Bạch Cư Dị)
Ở hai câu thơ này, tác giả viết về một giống lúa: lúa nếp, hình ảnh này được
thi nhân đưa vào trang thơ của mình cùng với biện pháp so sánh, liên tưởng độc
đáo, tài tình. Bạch Cư Dị đã so sánh những bông lúa nếp như “những sợi lụa”
khiến cho hình ảnh những bông lúa sớm còn chưa mẩy hạt hiện lên thật mềm
mại, mỏng manh, những bông lúa luôn chủ động nghiêng mình theo gió một
cách nhịp nhàng, uyển chuyển. Với hình ảnh so sánh này, hình ảnh cây lúa hiện
lên thật lãng mạn và nên thơ hơn bao giờ hết, mang đến cho ta cảm nhận về một
cánh đồng lúa tràn trề sức sống.
Vẫn miêu tả cánh đồng lúa gắn với mùa, nhưng nhiều khi cánh đồng lúa
trong thơ Bạch Cư Dị lại mang vẻ tiêu điều, buồn bã:
Lúa mạch hỏng vì xuân không mưa,
Lúa mùa kém vì thu sương sớm.
Cuối năm không có gì bỏ vào miệng,
Ra ngoài đồng đào kiếm củ địa hoàng.
(Thái địa hoàng giả - Bạch Cư Dị)
Trong bài Cổ phong hình ảnh cánh đồng hiện lên chân thực:
Cày xới lúa đang lúc giữa trưa
Mồ hôi giọt xuống đất dưới cây lúa
(Cổ phong - Lí Thân)
Vẻn vẹn chỉ có mấy câu nhưng Lí Thân đã miêu tả sinh động nỗi cực nhọc,
vất vả của người nông dân quanh năm một nắng hai sương làm ra hạt gạo nuôi
đời.
15
Hình tượng cánh đồng không chỉ xuất hiện trong thơ điền viên đời Đường,
mà ta còn bắt gặp và biết đến nó với vai trò là biểu tượng quen thuộc trong thơ
Cỏ trên cánh đồng bời bời,
Mỗi năm một lần úa một lần tươi.
(Thảo - Bạch Cư Dị)
Bạch Cư Dị đã nhìn thấy cỏ cũng phải trải qua quy luật của tự nhiên, có
sinh ra và cũng có mất đi, theo sự tuần hoàn của tạo hóa mỗi năm một lần úa,
một lần tươi, cũng giống như cuộc đời mỗi con người: chỉ có một lần sinh ra và
một lần mất đi. Cho nên khi còn tồn tại thì phải sống thật tốt thật xứng đáng với
sự sống mà tạo hóa đã ban cho, giống như đám cỏ kia, sinh ra vô danh giữa cuộc
đời, giữa ruộng đồng bờ bãi song nó vẫn luôn tốt tươi, vẫn mãnh liệt như thế qua
nhiều thế hệ.
Trong một bài thơ khác, Bạch Cư Dị cũng nhắc đến cỏ:
Lúa nếp sớm như những sợi lụa trên những tấm thảm biếc,
Lớp cỏ bồ mới nảy lộc như dải quần lụa xanh.
(Xuân đề hồ thượng - Bạch Cư Dị)
Cây cỏ trong thơ điền viên cũng có lúc được mang ra để ví von so sánh, ví
dụ như trong câu thơ trên, với hình ảnh so sánh đó cây cỏ trở nên đẹp đẽ, sinh
động hơn, và xứng đáng trở thành một trong những dấu hiệu nhận biết của chốn
ruộng đồng nông thôn.
Việc xây dựng hình tượng cánh đồng với nhiều sắc thái khác nhau như vậy
suy cho cùng ngoài việc thể hiện tâm hồn thi sĩ, tài năng của tác giả còn toát lên
tình yêu thiên nhiên, tình cảm sâu nặng với quê hương đất nước của các thi nhân
đời Đường, bởi có yêu, có gắn, có da diết với quê hương với ruộng đồng thì họ
mới đau đáu một niềm xót xa khi chứng kiến cảnh nông thôn tiêu điều, xơ xác.
Nhìn chung ta thấy trong thơ điền viên đời Đường nổi bật lên hình ảnh
cánh đồng với hai sắc thái khác nhau: một cánh đồng tươi đẹp, giàu chất lãng
mạn, mênh mông rộng lớn gắn với cuộc sống nhàn hạ của người nông dân và
cũng tồn tại một cánh đồng đầy tính hiện thực xơ xác, tiêu điều gắn với cuộc
sống lam lũ khổ cực của người nông dân. Tuy nhiên hình ảnh cánh đồng mang
màu sắc lãng mạn vẫn giữ vài trò chủ đạo, hình ảnh cánh đồng mang tính hiện
hoa của đất trời vào trong thơ ông:
Chó sủa vang trong tiếng nước chảy,
Hoa đào đẫm giọt mưa thêm thắm tươi.
(Phỏng Đái Thiên sơn đạo sĩ bất ngộ - Lí Bạch)
18
Hình ảnh hoa đào trong thơ Vương Duy còn được nhắc tới gắn liền với bờ:
Khói tan lộ ra đám lá lan, gió thơm nổi dậy,
Bờ liền với hoa đào, sóng gấm nhấp nhô.
(Anh vũ châu - Vương Duy)
Bên cạnh hình ảnh hoa đào tươi thắm, vườn tược chốn đồng quê trong thơ
điền viên đời Đường còn nổi bật với hình ảnh của hoa mai:
Trước cửa sổ chắn màn the ngày anh tới,
Cây hàn mai đã nở hoa chưa?
(Tạp thi - Vương Duy)
Không chỉ mang ý nghĩa là hình ảnh quen thuộc nơi vườn tược cây mai ở
đây còn gợi về tình yêu gắn bó với quê hương giống như ý nghĩa biểu tượng vốn
có của nó. Cây mai ở đây cũng chính là bóng dáng quê nhà, trở thành niềm
thương nỗi nhớ đối với những người con xa quê. Câu hỏi tu từ gợi ra nhiều nỗi
niềm, tâm trạng của nhân vật trữ tình khi nhớ về chốn vườn tược quê nhà.
Vương Duy trong thơ điền viên của mình cũng dành nhiều tình cảm đặc
biệt cho loài hoa này:
Nhị mai hé nở trước tháng chạp,
Hoa mai nở rộ khi sang năm mới.
(Giang mai - Vương Duy)
Hoa cúc cũng xuất hiện trong vườn hoa của các thi nhân điền viên :
Trước sân có sương móc trắng,
Bao trùm các đóa hoa cúc.
(Sơ nguyệt - Đỗ Phủ)
Đường ta bắt gặp những vườn đào, vườn mận:
Cửa động lầu cao rợp nắng tà,
Mận đào rậm rạp liễu bay hoa.
(Thù quách cấp sự - Vương Duy)
Và cũng có khi là những vườn quýt, vườn bưởi:
Giữa sân vắng quýt, bưởi rũ bóng,
(Vũ miếu - Đỗ Phủ)
Khói nhà ai làm lạnh cây quýt, cây bưởi,
(Thu đăng Tuyên Thành tạ diễu bắc lâu - Lí Bạch)
20