SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TOÁN
NHIỆT HỌC CÓ SỰ CHUYỂN THỂ CỦA CÁC CHẤT
ĐỂ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VẬT LÍ 9
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hằng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Trần Mai Ninh
SKKN thuộc môn: Vật lí
THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU....................................................................................trang 1
I. Lí do chọn đề tài............................................................................................1
II. Mục đích nghiên cứu...................................................................................1
III. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................2
IV. Phương pháp nghiên cứu............................................................................2
PHẦN 2. NỘI DUNG..........................................................................................3
I. Cơ sở lí luận..................................................................................................3
II. Thực trạng....................................................................................................3
II.1. Đối với học sinh........................................................................................3
II.2. Đối với giáo viên......................................................................................3
III. Giải pháp và tổ chức thực hiện...................................................................4
vật lí, biết khai thác, vận dụng kiến thức để giải quyết được các vấn đề trong
thực tiễn cũng như khi học tập bộ môn là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên
trong quá trình giảng dạy nói chung và các môn học khác nói riêng. Từ những
kiến thức đã học, cần giúp học sinh nắm vững quy luật tự nhiên và thực tiễn
khách quan, có cách nhìn một cách khoa học để nhận biết sự vật, hiện tượng một
cách lôgic, có hệ thống.
Để đạt được mục đích trên, trong quá trình giảng dạy cần chú ý giúp học
sinh phương pháp tự nghiên cứu, tự học để học sinh biết vận dụng kiến thức đã
học trong những trường hợp cụ thể mà áp dụng cho những trường hợp khác
tương tự. Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí THCS thường gặp các
mảng kiến thức có thể gây khó khăn cho giáo viên và học sinh trong quá trình
dạy và học. Điều quan trọng, giáo viên phải định hướng được cho học sinh nhận
biết được dạng bài tập vật lí để có phương pháp, kĩ năng giải đúng hướng. Một
trong những mảng kiến thức đó là bài tập về sự chuyển thể của các chất. Ở cấp
THCS, học sinh không được học về khái niệm nhiệt nóng chảy, nhiệt hóa hơi mà
mới học về khái niệm sự nóng chảy, sự bay hơi. Trong khi dạng bài tập này hầu
như năm nào cũng có trong các đề thi học sinh giỏi, thi vào chuyên Lam Sơn. Từ
những khó khăn và vướng mắc tôi đã tìm tòi, nghiên cứu tìm ra nguyên nhân và
tìm ra được các biện pháp giúp học sinh giải quyết tốt được kiến thức về dạng
bài tập này.
Để có cách giải dạng bài tập trên hiệu quả nhất, giúp học sinh dễ hiểu, giải
quyết vấn đề nhanh, chính xác, đầy đủ và gọn gàng hơn, đồng thời rèn luyện khả
năng tư duy độc lập trong quá trình học tập cho học sinh tôi đã chọn đề tài:
“Kinh nghiệm rèn kĩ năng giải bài toán nhiệt học có sự chuyển thể của các
chất để bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lí 9” từ đó giúp các em có kinh nghiệm
trong việc giải các bài tập dạng này.
II. Mục đích nghiên cứu
3
phải hiểu hiện tượng và bản chất vật lí. Từ đó rèn luyện cho học sinh kĩ năng
phán đoán hiện tượng, kĩ năng thực hành, đồng thời gây hứng thú cho học sinh
trong quá trình giải bài tập.
II. Thực trạng
II.1. Đối với học sinh
Đối tượng là học sinh khá, giỏi tham gia bồi dưỡng thi học sinh giỏi và thi
tuyển sinh vào lớp 10 THPT chuyên Lam Sơn nên kiến thức cơ bản các em nắm
tương đối vững, có trí tuệ nhất định. Trong hệ thống các bài tập vật lí, dạng bài
tập “về sự chuyển thể của các chất” rất dễ nhầm lẫn, nhất là khi nhiệt độ cân
bằng ở 00C hoặc ở 1000C nếu học sinh không hiểu rõ bản chất vật lí sẽ dẫn đến
xác định sai quá trình chuyển thể của các chất. Ở cấp THCS, học sinh lại không
được học về khái niệm nhiệt nóng chảy, nhiệt hóa hơi, công thức xác định nhiệt
lượng của quá trình nóng chảy và quá trình hóa hơi lại chưa có, yêu cầu giáo
viên phải đưa ra khái niệm nhiệt nóng chảy, nhiệt hóa hơi.
Do vậy các em thường bỏ qua bài tập này để tập trung thời gian giải bài tập
khác và nhiều em không có hứng thú khi gặp bài toán này.
II.2. Đối với giáo viên
- Thuận lợi: Hầu hết các thầy cô có trình độ, được đào tạo cơ bản, tâm
huyết với nghề và luôn cầu tiến bộ.
- Khó khăn:
Kiến thức đã khó lại rộng lớn và bao trùm. Do đó để dành nhiều thời gian vào
nghiên cứu, tìm tòi để có kiến thức vững và sâu thì rất hạn chế, nhiều người còn tư
5
tưởng chỉ cần hoàn thành nhiệm vụ là được còn nghiên cứu tìm tòi đã có các nhà
khoa học.
Đối với dạng bài tập “về sự chuyển thể của các chất” rất dễ nhầm lẫn. Đòi
hỏi người giáo viên phải có biện pháp xây dựng công thức để học sinh nhận thức
- Nhiệt hóa hơi: là nhiệt lượng cần cung cấp cho 1kg chất lỏng để nó hóa
hơi hoàn toàn ở nhiệt độ sôi.
6
- Nhiệt lượng chất lỏng thu vào để hóa hơi hoàn toàn ở nhiệt độ sôi:
Q = m.L
Trong đó: m là khối lượng của vật hóa hơi (kg).
L là nhiệt hóa hơi ( J/kg ).
- Nhiệt lượng vật tỏa ra để ngưng tụ hoàn toàn ở nhiệt độ sôi cũng được
tính theo công thức trên.
- Năng suất tỏa nhiệt của nhiên liệu là nhiệt lượng tỏa ra khi đốt cháy hoàn
toàn 1kg nhiên liệu, kí hiệu bằng q.
- Nhiệt lượng tỏa ra khi nhiên liệu bị đốt cháy: Q = q.m
Trong đó:
Q là nhiệt lượng tỏa ra (J)
q là năng suất tỏa nhiệt của nhiên liệu (J/kg)
m là khối lượng nhiên liệu bị đốt cháy (kg)
III.2.2. Một số dạng bài tập cụ thể.
III.2.2.1 Dạng bài tập xác định nhiệt độ cân bằng.
Nhận xét: Dạng bài tập này khá phổ biến, có thể truyền tải kiến thức rất tốt,
là căn bản về quá trình chuyển thể của chất. Để xác định nhiệt độ cân bằng ta
dựa vào những dấu hiệu sau:
1. Nếu hỗn hợp có nước đá thì xét xem nhiệt độ cân bằng có ở 0 0C
không?
Ví dụ 1: Đổ m1= 2kg nước ở t1= 100oC vào một bình bằng đồng khối
lượng m2 = 0,6kg có chứa m3 = 3kg nước đá ở t2= - 10oC. Tính nhiệt độ chung và
khối lượng nước có trong bình khi cân bằng nhiệt xảy ra. Biết nhiệt dung riêng
của nước là c1=4200J/kg.K, của đồng là c2=380J/kg.K, của nước đá là
kg nước đá ở - 200C. Hãy tính nhiệt độ, khối lượng nước và khối lượng nước đá
có trong bình khi cân bằng nhiệt. Với:
a) m2 = 0,2kg
b) m2 = 6kg.
Biết nhiệt dung riêng của nước, nước đá là 4200J/kg.K; 2100J/kg.K, nhiệt nóng
chảy của nước đá: λ =3,4. 105J/kg.
Đáp số: a) 14,50C; mn = 2,2kg
b) 00C; mnđ =6,12kg; mn =1,88kg
2. Nếu hỗn hợp có hơi nước thì xét xem nhiệt độ cân bằng có ở 1000C
không?
Ví dụ 3: Dẫn m1 = 250g hơi nước ở nhiệt độ t 1 = 1000C từ một nồi hơi vào
một bình chứa một cục nước đá m2=0,8kg ở t0= 00C. Hỏi khi có cân bằng nhiệt ,
khối lượng và nhiệt độ của nước ở trong bình khi đó là bao nhiêu ? Cho biết
nhiệt dung riêng của nước là c = 4200J/kg.K; nhiệt hoá hơi của nước là L=
2,3.106J/kg và nhiệt nóng chảy của nước đá là λ = 3,4.105 J/kg. (Bỏ qua sự hấp
thụ nhiệt của bình chứa).
Hướng dẫn giải thông qua các bước:
Bước 1: Xét xem nước đá có nóng chảy hoàn toàn không?
Giả sử m1 = 250g = 0,25(kg) hơi nước ngưng tụ hết thành hơi ở 100 0C thì
nó toả ra một nhiệt lượng là: Q1= mL = 0,4. 2,3.106 = 575000 (J)
Nhiệt lượng để cho m2 = 0,8(kg) nước đá nóng chảy hết là:
Q1’ = m2. λ = 0,8. 3,4.105 = 272000 (J)
Do Q1 > Q1’ chứng tỏ m2 = 0,8(kg) nước đá nóng chảy hết
Bước 2: Xét xem nước có tiếp tục nóng lên đến 1000C không?
Nhiệt lượng nước đá thu vào để tăng nhiệt độ từ 00C đến 1000C là:
Q’= m2C ( t1-t0) = 0,8 . 4200 (100-0) = 336000 (J)
⇒ Q1’ + Q’ = 272000 +336000 = 608000 (J)
8
Bước 1: Xét xem nước có tăng nhiệt độ đến 1000C và hóa hơi không?
- Nhiệt lượng do thép tỏa ra để hạ nhiệt độ từ 6000C xuống 1000C :
Q1 = m.ct. ∆t1 = 1.460.(600 – 100) = 230000 (J)
- Nhiệt lượng cung cấp cho nước tăng từ 200C lên 1000C là:
Q2 = M.cn . ∆t2 = 0,2.4200.(100 – 20) = 67200 (J)
Vì Q2 < Q1 nên toàn bộ nước đều chuyển lên 1000C, xảy ra hóa hơi.
Bước 2: Xét xem nước có hóa hơi hoàn toàn không ?
Giả sử nước hóa hơi hoàn toàn.
Nhiệt lượng cần cung cấp để nước hóa hơi hoàn toàn ở 1000C là:
Q3 = m.L = 0,2. 2,3.106 = 460000 (J)
9
Vì Q1 < Q2 + Q3 nên nước không hóa hơi hoàn toàn.
Vậy nhiệt độ cân bằng là 1000C
b) - Nhận xét: Khi rót nước rất chậm vào cốc thì từng ít một lượng nước
rót chậm đó tiếp xúc với thép tăng nhanh nhiệt độ, hóa hơi ngay, quá trình hóa
hơi này sẽ dừng lại khi thép hạ nhiệt độ xuống đến 1000C.
Gọi m’ là khối lượng nước hóa hơi trong suốt quá trình rót (giả sử m' < M)
Nhiệt lượng cung cấp để lượng nước m ’ tăng từ 200C đến 1000C và hóa hơi
là : Qthu = m’ c ∆t + m’. L .
Nhiệt lượng tỏa ra của thép từ 6000C xuống 1000C là :
Qtỏa = m.ct ( 600 – 100 ) = 230000 (J).
Từ phương trình cân bằng nhiệt => Qtỏa = Qthu
=> m’= 115/ 1318 (kg) < M => Điều giả sử đúng
=> Khối lượng nước không hóa hơi là : M1 = M – m’.
- Sau đó thép ở 1000C sẽ trao đổi với lượng nước còn lại là M1 và có nhiệt
độ sau cùng của nước và thép là t0.
Từ phương trình cân bằng nhiệt => Qtỏa = Qthu
=> m.ct ( 100 – t0 ) = M1. cn (t0 - 20 ) => t0 ≈ 59,420C
D0
- Như vậy, trạng thái cuối cùng của hệ gồm cả nước và nước đá, tức là nhiệt
độ khi cân bằng là 00C.
Bước 3: Xác định chiều cao của phần nước đá đã tan là h1.
Chiều cao của phần nước đá đã tan nó tạo ra cột nước có chiều cao:
h2 = h1.D/D0
- Theo đề bài: ∆h = h1 − h2 = h1.
D0 − D
D0
⇒ h1 = ∆h.
= 6(cm)
D0
D0 − D
- Phương trình cân bằng nhiệt:
(h.S.D0).C2.(t0- 0) = (h.S.D).C1.(0 - tx) + h1.S.D. λ
Trong đó: S là diện tích của đáy bình nhiệt lượng kế; t x là nhiệt độ nước đá
ban đầu ở bình B
∆h λ
D0
D C
− 0 . 2 .t0 ; −15, 40 C
Vậy: t x = . .
h C1 D0 − D
D C1
*) Chú ý: Ở dạng bài tập trên bài toán cho mực nước trong bình B giảm đi
M1 + m
= Dn (với Dn là khối lượng riêng của nước)
V
Nhưng thể tích V của nước đá và cục chì bằng tổng các thể tích của chúng.
V=
M
M1
m
m
+
⇒ M 1 + m = Dn . 1 +
÷⇒ M 1 = 8, 2.m = 41( g )
Dd Dchi
Dd Dchi
- Khối lượng nước đá phải tan là: ∆ M = M - M1 = 100 - 41 = 59(g).
- Lượng nhiệt cần thiết bằng: Q = λ.∆M = 3,3. 105. 0,059 = 19,5.103 (J).
Đáp số: 19 500 J.
Ví dụ 4: (Trích từ đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT chuyên Lam Sơn –
Năm học 2015 – 2016)
Một chiếc cốc hình trụ khối lượng m trong đó chứa một lượng nước cũng
có khối lượng m. Cả hệ đang ở nhiệt độ t 1 = 100C. Người ta thả vào cốc một cục
nước đá khối lượng M đang ở nhiệt độ 00C thì cục nước đá đó chỉ tan được một
phần ba khối lượng của nó và luôn nổi trong khi tan. Rót thêm một lượng nước
có nhiệt độ t2 = 400C vào cốc. Khi cân bằng nhiệt thì nhiệt độ của hệ lại là 10 0C,
còn mực nước trong cốc có độ cao gấp đôi mực nước sau khi thả cục nước đá.
Hãy xác định nhiệt dung riêng của chất làm cốc. Bỏ qua sự trao đổi nhiệt với
vào môi trường. Hỏi:
a) Nếu thả hai viên nước đá vào cốc thì nhiệt độ cuối cùng của nước trong
cốc bằng bao nhiêu?
b) Phải thả tiếp thêm vào cốc ít nhất bao nhiêu viên nước đá nữa để cuối cùng
trong cốc có hỗn hợp nước và nước đá?
Hướng dẫn giải :
a) Ở câu a) thì HS ít nhầm lẫn và tính được nhiệt độ cân bằng là t ≈ 11, 70 C
b) Ở câu b) bài toán giải tổng quát theo các bước sau:
Bước 1: Nhận xét: Khi có hỗn hợp nước và nước đá thì nhiệt độ cuối của
hỗn hợp phải là 00C.
Bước 2: Tính M là khối lượng nước đá phải thêm vào để có hỗn hợp nước
và nước đá.
- Nhiệt lượng cần thiết phải tỏa ra để cốc giảm từ t = 11,70C xuống 00C là:
Qtỏa = [q + (m1 + 2m2) c1] (t - 0)
- Khối lượng nước đá cần thiết để thu nhiệt lượng đó và tan ra là:
Qthu = M [ c2 .(0 − t2 ) + λ ] = M ( λ - c2t2 )
13
- Từ phương trình cân bằng nhiệt Qtỏa = Qthu suy ra:
[q + (m1 + 2m2) c1] (t - 0) = M( λ - c2t2 ) ⇒ M ≈ 70,8 g = 3,54.m2 .
Suy ra số viên nước đá ít nhất cần thêm vào là 4 viên
Ví dụ 2: (Trích từ đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT chuyên KHTN – Năm
2013)
Cho một bình cách nhiệt chứa đầy nước ở nhiệt độ t 0 = 900C. Thả một viên
nước đá có khối lượng m = 250 g ở nhiệt độ 00C vào bình thì có khối lượng
nước bằng m trào ra khỏi bình. Sau khi cân bằng nhiệt thì nhiệt độ nước trong
bình là t1 = 560C. Cho nhiệt dung riêng của nước là c = 4200 J/(kg.K), nhiệt
lượng mà mỗi kg nước đá cần thu vào để tan chảy hoàn toàn ở 0 0C là 336000 J.
mλ − mct M − m
mλ − mct
M −m
M −m
M
=
t
−
1
+
=
...
=
t
−
÷ n −2
÷
÷ 0
Mc
M
Mc
M −m
M
M
1−
÷
M
⇒ tn = 0,8n.t0 − 16.
chảy hoàn toàn ở nhiệt độ nóng chảy, m1 là khối lượng của nước đá.
- Trong T1 = 60s đầu tiên, bình và nước tăng nhiệt độ từ t 1 = -50C đến t2 =
00C
=> kT1 = (m1c1 + mbcb) (t2 - t1)
(1)
- Trong T2 = 1280s tiếp theo nước đá tan nóng chảy => kT2 = m1 λ (2)
- Trong T3 = 200s cuối cùng, bình và nước tăng nhiệt độ từ t 2 = 00C đến t3 =
100C
=> kT3 = (m1c1 + mbcb) (t3 - t2)
(3)
kT
1
Từ (1) và (3) ta có: m1c1 + mb cb = t − t
2
1
m1c2 + mb cb =
(4)
kT3
t3 − t2
(5)
kT
kT
3
− 1
t3 − t2 t2 − t1 t3 − t2 t2 − t1
t3 − t 2 t 2 − t1
Đáp số: 3,36.105 J/kg.
Ví dụ 2: Trong 1 bình nhiệt lượng kế ban đầu có chứa m 0 = 400g nước ở t0
0
= 25 C. Người ta đổ thêm m1 kg nước ở nhiệt độ tx vào bình thì khi cân bằng ,
nhiệt độ của nước là t1 = 200C. Cho thêm 1 cục nước đá m2 ở t2 = -100C vào bình
thì cuối cùng trong bình có M = 700g ở t 3 = 50C. Tìm m1, m2, tx. Cho biết nhiệt
dung riêng của nước, nước đá, nhiệt nóng chảy của nước đá lần lượt là:
4200J/kg.K, 2100J/kg.K, λ = 336000J/kg (Bỏ qua sự trao đổi nhiệt giữa nhiệt
lượng kế và môi trường).
15
Đáp số: m1 = 0,2kg; m2 = 0,1kg; tx = 100C
Ví dụ 3: Một ấm nhôm có khối lượng 500g chứa 2 kg nước đá ở -10 0C.
Cần tối thiểu bao nhiêu kg dầu hỏa để đun sôi và làm hóa hơi 500g nước đó.
Cho hiệu suất quá trình đun là 80% , năng suất tỏa nhiệt của dầu: q = 44.10 6J/kg
, nhiệt nóng chảy của nước đá: λ = 3,4.105J/kg, nhiệt dung riêng của nước, nước
đá và của nhôm lần lượt là 4200J/kg.K, 2100J/kg.K và 880J/kg.K.
Đáp số: 0,078kg
t (0C)
III.2.2.5. Dạng bài tập về đồ thị
Ví dụ 1: Quá trình ngưng tụ của một
A
B
lượng hơi nước được thể hiện như đồ 100
rằng hiệu suất của bếp là 60%.Cho khối lượng nước là 2kg.
16
Cho biết nước đá có nhiệt dung riêng là c 1 = 2100J/kg.K và nhiệt nóng chảy λ
= 336kJ/kg; nhiệt dung riêng của nước là c2 = 4200J/kg.K
Đáp số: a) 18 ph ; b) 38 ph ; c) 2 660 000 J
Ví dụ 3: Trong một bình cách nhiệt
t (0C)
có 1kg nước đá và 1kg chất rắn A dễ
nóng chảy không tan được trong nước.
0
Bình được gắn với bếp điện có công suất
không đổi, nhiệt dung không đáng kể. -20
Nhiệt độ ban đầu của các chất là – 400C.
t (ph)
Sau khi cho bếp hoạt động, nhiệt độ -40 1 8/3 4
29/3
trong bình biến đổi theo thời gian t (phút)
như đồ thị.
Cho nhiệt dung riêng của nước đá là c0 = 2000J/kg.K, của chất rắn A là cA =
1000J/kg.K
a) Hãy tính nhiệt nóng chảy của chất rắn A. ( ĐS: 105J/kg )
b) Tính nhiệt dung riêng của chất rắn A sau khi nóng chảy hoàn toàn
c) Tính nhiệt lượng mà hỗn hợp hấp thụ để tăng nhiệt độ từ -40 0C đến khi
nước đá nóng chảy hoàn toàn. (Bỏ qua sự trao đổi nhiệt với môi trường bên
ngoài).
Đáp số: a) 105J/kg ; b) 2 000 J/kg.K; c) 580 000J .
- Lấy miếng nước đá đang tan thả vào NLK. Xác định nhiệt độ khi có cân bằng
nhiệt t.
- Cân lại NLK và nước có trong nó có khối lượng: M'.
Từ đó tính được khối lượng nước đá: m2 = M' - M
- Tính λ từ các dữ kiện vừa có.
Ví dụ 2: Lập phương án xác định nhiệt hóa hơi của nước bằng các dụng cụ:
nhiệt lượng kế ( đã biết nhiệt dung riêng c K ), bộ quả cân, cân , bếp, nhiệt kế,
đồng hồ bấm giây, nước cần xác định nhiệt hóa hơi (L). Nhiệt dung riêng của
nước là c đã biết. Bỏ qua sự mất mát nhiệt ra môi trường bên ngoài và coi như
bếp tỏa nhiệt đều đặn.
Hướng dẫn giải: Ta thực hành thông qua các bước:
- Bước 1: Cân nhiệt lượng kế có khối lượng: mk.
Rót một lượng nước vào nhiệt lượng kế và xác định khối lượng M, từ đó
suy ra khối lượng nước rót vào: m1 = M - mk
Dùng nhiệt kế đo nhiệt độ ban đầu của nhiệt lượng kế chứa nước là t1.
- Bước 2: Đun nhiệt lượng kế chứa nước trên bếp cho đến khi sôi. Dùng
nhiệt kế ta xác định nhiệt độ sôi là t 2. Nhờ đồng hồ bấm giây ta xác định được
thời gian kể từ lúc đun cho đến khi sôi là T1.
- Bước 3: Tiếp tục đun, ta xác định được thời gian T2 kể từ lúc nước sôi đến
khi hóa hơi hoàn toàn.
*) Tính toán:
Nhiệt lượng tỏa ra của bếp trong thời gian T1 là:
Q1 = k. T1 = ( ckmk + cml ) (t2 – t1)
(1)
(Với k là hệ số tỉ lệ)
Nhiệt lượng tỏa ra của bếp trong thời gian T2 là:
Q1 = k. T2 = cl .L
(2)
Từ (1) và (2) ⇒ L =
- Mỗi dạng bài tập tôi đều đưa ra dấu hiệu và nhận xét chung nhằm giúp
học sinh dễ nhận dạng loại bài tập và dễ vận dụng kiến thức, kĩ năng một cách
chính xác, hạn chế được những nhầm lẫn có thể xảy ra trong cách nghĩ và cách
làm của học sinh.
- Sau mỗi dạng tôi luôn chú trọng đến việc kiểm tra, đánh giá kết quả, sửa
chữa rút kinh nghiệm và nhấn mạnh những sai sót mà học sinh thường mắc phải.
IV.2. Kết quả đạt được
Trung
Yếu Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
bình
Kém
Thực nghiệm
8 HS
10 HS
5 HS
23
0%
(Năm học 2015 – 2016)
34,8%
43,5%
21,7%
Đối chứng
20
14 HS
5 HS
1 HS
0%
sinh trong học tập và đã nhận được những phản ứng tích cực của học sinh.
Như vậy, với đề tài “Kinh nghiệm rèn kĩ năng giải bài toán nhiệt học có
sự chuyển thể của các chất để bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lí 9” đã giúp học
sinh cách giải loại bài tập này một cách đơn giản và hiệu quả nhất, giúp học sinh
dễ hiểu, giải quyết vấn đề nhanh, chính xác, đầy đủ đồng thời rèn luyện khả
năng tư duy độc lập trong quá trình học tập và đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra.
Qua quá trình giảng dạy, nghiên cứu tôi xin có một số ý kiến đề xuất như
sau:
- Đối với giáo viên, phải nhiệt tình và tâm huyết với nghề, phải luôn có ý
thức tự nghiên cứu, học hỏi tìm tòi nâng cao kiến thức, nghiệp vụ và trình độ
20
chuyên môn, phải có sự nghiên cứu kiến thức bao quát cả chương trình chứ
không dừng ở nội dung kiến thức của chương trình THCS.
- Về phía lãnh đạo cấp trên: Cần tạo điều kiện cho giáo viên có cơ hội giao
lưu, học hỏi và rút kinh nghiệm qua các hội thảo chuyên đề.
- Tăng cường hơn nữa việc đầu tư cơ sở vật chất, phòng học chức năng cho
nhà trường. Bổ sung đầy đủ các thiết bị, dụng cụ đảm bảo về mặt kĩ thuật để các
thí nghiệm được thành công và đảm bảo an toàn khi làm thí nghiệm cho giáo
viên và học sinh.
Trên đây là một số suy nghĩ, tìm tòi của tôi khi giảng dạy cho học sinh về
phần này. Rất mong được sự quan tâm, góp ý chân tình của các bạn để tôi có
được phương pháp giảng dạy đạt hiệu quả cao hơn.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2017
CAM KẾT KHÔNG COPY.
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Trần Mai Ninh
TT
1
2
Tên đề tài SKKN
Kinh nghiệm rèn kĩ năng
giải bài toán điện một chiều
bằng phương pháp chập
những điểm có cùng điện thế
nhằm bồi dưỡng học sinh
giỏi Vật lí 9.
Kinh nghiệm rèn kĩ năng
giải bài toán điện một chiều
bằng phương pháp chập
những điểm có cùng điện thế
nhằm bồi dưỡng học sinh
giỏi Vật lí 9.
Cấp đánh giá
24