1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để tồn tại, đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp cần nâng
cao hiệu quả quản lý nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, nâng
cao chất lượng sản phẩm nhằm tăng sức cạnh tranh. KTQT chi phí đóng
vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định của nhà quản trị
doanh nghiệp.
Tuy nhiên, qua thực tế tìm hiểu cho thấy tại nhà máy bánh kẹo
Biscafun thuộc Công ty Cổ phần đường Quảng Ngãi việc ứng dụng
KTQT chi phí sản xuất vào hoạt động quản lý chưa được quan tâm một
cách đúng mức. Hệ thống kế toán quản trị chi phí sản xuất tại nhà máy
vẫn chưa hướng vào việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế
hoạch, kiểm soát và đánh giá việc lập kế hoạch trong nội bộ nhà máy
còn rất hạn chế. Kế toán chi phí sản xuất hiện nay không thể cung cấp
các thông tin phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc ra các quyết định
kinh doanh của nhà quản trị doanh nghiệp. Chính những yêu cầu thực tế
đó, tác giả đã chọn đề tài “Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại nhà
máy bánh kẹo Biscafun thuộc Công ty Cổ phần đường Quảng
Ngãi” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến KTQT chi phí sản
xuất để định hướng cho việc ứng dụng lý thuyết vào việc hoàn thiện
KTQT chi phí sản xuất tại nhà máy bánh kẹo Biscafun.
- Phân tích thực trạng và mức độ vận dụng KTQT chi phí sản xuất
tại nhà máy bánh kẹo Biscafun
- Vận dụng lý thuyết KTQT chi phí sản xuất để đưa ra một số giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác KTQT chi phí sản xuất tại nhà máy
bánh kẹo Biscafun.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- KTQT chi phí cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế trong
doanh nghiệp và ngoài doanh nghiệp có liên quan
3
- KTQT chi phí quan tâm đến các chi phí thực tế phát sinh theo loại
chi phí, tổng mức chi phí và chi tiết theo từng mặt hàng.
- Khi có sự biến động chi phí, trách nhiệm giải thích về những thay
đổi bất lợi thuộc bộ phận nào KTQT chi phí phải theo dõi và báo cáo rõ
ràng phục vụ cho quá trình kiểm soát, điều chỉnh của nhà quản lý.
1.1.2. Nhiệm vụ kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu về chi phí theo phạm vi, nội
dung kế toán quản trị chi phí của đơn vị xác định theo từng thời kỳ.
- Kiểm tra, giám sát các định mức tiêu chuẩn, dự toán.
- Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng
báo cáo kế toán quản trị chi phí.
- Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch
và ra quyết định của ban lãnh đạo doanh nghiệp.
- Tính toán và đưa ra mô hình về nhu cầu vốn cho một hoạt động
hay một quyết định cụ thể
- Tìm ra những giải pháp tác động lên các chi phí để tối ưu hóa
mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận.
1.1.3. Vai trò kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị chi phí có vai trò quan trọng trong quản trị, điều
hành doanh nghiệp, ra quyết định kinh doanh thể hiện qua các đặc điểm
sau:
- Là nguồn chủ yếu để cung cấp thông tin cần thiết cho nhà quản lý
ra quyết định ở các khâu:
+ Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch
+ Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện
- Dự toán chi phí NVLTT
- Dự toán chi phí NCTT
- Dự toán chi phí sản xuất chung
1.2.3. Xác định giá thành trong doanh nghiệp sản xuất
5
a. Xác định giá thành sản phẩm sản xuất theo phương pháp chi
phí thực tế, phương pháp chi phí thực tế kết hợp với chi phí ước tính
và phương pháp chi phí tiêu chuẩn
- Theo phương pháp chi phí thực tế, giá thành sản phẩm sản xuất
được tính toán trên cơ sở các chi phí NVLTT, chi phí NCTT và chi phí
SXC thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.
- Theo phương pháp chi phí thực tế kết hợp với chi phí ước tính, giá
thành sản phẩm sản xuất được tính toán bằng cách cộng các chi phí
NVLTT, chi phí NCTT và chi phí SXC ước tính phát sinh trong quá
trình sản xuất sản phẩm.
- Theo phương pháp chi phí tiêu chuẩn việc xác đinh giá thành sản
phẩm sản xuất được xác định theo chi phí định mức của các khoản mục
chi phí: chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC.
b. Xác định giá thành sản phẩm sản xuất theo phương pháp chi
phí toàn bộ và theo phương pháp chi phí trực tiếp
- Theo phương pháp chi phí toàn bộ, giá thành sản phẩm sản xuất
bao gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp và chi phí sản xuất chung tham gia trong quá trình sản xuất.
- Theo phương pháp chi phí trực tiếp, giá thành sản phẩm sản xuất
chỉ bao gồm các chi phí sản xuất biến đổi, còn các chi phí sản xuất cố
định không được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành.
c. Xác định giá thành sản phẩm sản xuất theo phương pháp tính
giá dựa trên cơ sở hoạt động (Theo phương pháp ABC)
Những thông tin không đạt một trong hai yêu cầu trên hoặc không đạt
cả hai yêu cầu trên được gọi là những thông tin không thích hợp cho
quá trình ra quyết định.
ii. Sự cần thiết và tiêu chuẩn lựa chọn thông tin thích hợp cho
việc ra quyết định ngắn hạn
iii. Các bước phân tích thông tin thích hợp
7
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn đã nghiên cứu cơ sở lý luận của KTQT chi
phí tại của các doanh nghiệp sản xuất. Đây là những cơ sở lý luận để
làm tiền đề cho công tác phân tích thực trạng KTQT chi phí sản xuất tại
nhà máy bánh kẹo Biscafun thuộc Công ty Cổ phần đường Quảng Ngãi
từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất tại nhà
máy bánh kẹo Biscafun thuộc Công ty Cổ phần đường Quảng Ngãi.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT
TẠI NHÀ MÁY BÁNH KẸO BISCAFUN THUỘC CÔNG
TY CỔ PHẦN ĐƯỜNG QUẢNG NGÃI
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ
MÁY BÁNH KẸO BISCAFUN THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐƯỜNG QUẢNG NGÃI
2.2. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY BÁNH
KẸO BISCAFUN THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƯỜNG
QUẢNG NGÃI
2.2.1. Đặc điểm sản phẩm
- Sản phẩm bánh kẹo là loại hàng hóa thuộc nhóm ngành thực phẩm
có ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng do đó đòi hỏi phải
Tổ lò
hơi
DC
SX
bánh
mềm
phủ
DC
SX
bánh
quy
DC
kẹo
DC
SX
bánh
xốp
DC
SX
bánh
Snac
k
Các
Phòng
tổ
chức
nhân
sự
Phòng
kỹ thuật
sản xuất
Phòng
NC-PT
Phòng
KCS
Sơ đồ 2.4: Tổ chức bộ máy quản lý
: Quan hệ trực tuyến
: Quan hệ chức năng
2.2.5. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán tại nhà máy bánh kẹo
Biscafun
Trưởng phòng kế toán
Kế
toán
TH
Kế toán
vật tư
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung
2.3.2. Công tác lập kế hoạch và dự toán chi phí sản xuất tại nhà
máy bánh kẹo Biscafun
Hiện nay, công tác lập kế hoạch chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm là một trong những nội dung cơ bản nhất của công tác KTQT chi
phí tại nhà máy.
Căn cứ vào kế hoạch sản xuất nhà máy lập các dự toán chi phí.
a. Định mức, dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Định mức tiêu hao nguyên vật liệu của bánh Nice 216g được thể
hiện qua Bảng 2.4. Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho bánh
Nice 216g được thể hiện qua Bảng 2.5.
b. Định mức, dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp thể hiện qua Bảng 2.7.
c. Định mức, dự toán chi phí sản xuất chung
11
Dự toán chi phí sản xuất chung được thể hiện ở Bảng 2.8.
2.3.3. Công tác kế toán chi phí sản xuất tại nhà máy bánh kẹo
Biscafun
a. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Kế toán sử dụng tài khoản 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”
để tập hợp CP NVLTT và chi tiết cho từng nhóm sản phẩm.
b. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Kế toán sử dụng tài khoản 622 “chi phí nhân công trực tiếp” để tập
hợp CPNCTT và chi tiết cho từng nhóm sản phẩm.
c. Kế toán chi phí sản xuất chung
Để hạch toán chi phí sản xuất chung kế toán nhà máy sử dụng tài
khoản 627 “chi phí sản xuất chung”. Tại nhà máy chi phí sản xuất
CÁO
BỘ PHẬN LẬP
1
Bảng kê nguyên
vật liệu mua
Phòng kế hoạch tổng
hợp và bộ phận kho
2
Bảng định mức
NVL
Phòng kỹ thuật
3
Giấy đề nghị lĩnh
vật tư
Phân xưởng sản xuất
4
Phiếu cấp vật tư
2
Bảng theo dõi lao
động
BỘ PHẬN LẬP
Tổ, Phân xưởng, Phòng
ban
Tổ, Phân xưởng,
NỘI DUNG KIỂM
SOÁT
Kiểm soát ngày công lao
động trong tháng.
Kiểm soát thời gian lao
động và năng suất lao
13
3
Báo cáo kết quả
sản xuất
Tổ, Phân xưởng
4
có cơ sở khoa học.
2.4.2. Về công tác kế toán chi tiết chi phí sản xuất
Cơ cấu sản phẩm tại nhà máy rất đa dạng và phong phú, nhà máy đã
tổ chức phân loại theo dõi chi tiết chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm.
Cách theo dõi này phù hợp với đặc điểm của sản phẩm tại nhà máy.
14
Việc hạch toán chi phí sản xuất theo từng nhóm sản phẩm được tập
hợp một cách dễ dàng, chính xác. Tuy nhiên, đối với việc hạch toán chi
phí sản xuất chung chưa thật sự chính xác.
2.4.3. Về công tác lập kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất
Tại nhà máy, đã xây dựng được hệ thống định mức sát với thực tế
công việc. Công tác lập kế hoạch về chi phí sản xuất, về giá thành đã
được chú trọng nhưng chỉ dựa vào số liệu lịch sử, và kinh nghiệm chưa
có sự phân loại chi phí theo cách ứng xử, chính vì vậy việc lập kế hoạch
không có cơ sở khoa học. Nhà máy chưa lập dự toán linh hoạt để cung
cấp thông tin cho nhà quản trị kịp thời nhằm đưa ra các quyết định
nhanh chóng, kịp thời trong những tình huống khác nhau của quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh.
2.4.4. Về công tác xác định giá thành sản phẩm
Phương pháp tính giá thành sản phẩm được áp dụng tại nhà máy là
phương pháp toàn bộ chủ yếu phục vụ yêu cầu của kế toán tài chính
chưa đáp ứng yêu cầu của KTQT. Nhà máy cần quan tâm đến phương
pháp tính giá thành theo phương pháp trực tiếp để cung cấp thông tin
phục vụ cho việc ra các quyết định của các nhà quản trị.
2.4.5. Về kiểm soát chi phí sản xuất
Tại nhà máy để kiểm soát chi phí sản xuất các bộ phận liên quan đã
thiết lập các báo cáo về nguyên vật liệu, về chi phí lao động. Các báo
cáo này phần nào đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí sản xuất tại nhà
đổi nên không thích tổ chức lại công tác kế toán mà vẫn duy trì cách
làm cũ nguyên nhân này do ảnh hưởng của kiểu làm việc thụ động
mang dấu ấn của cơ chế quản lý bao cấp mặc dù đã cổ phần hóa.
- Các nhà quản trị và nhân viên trong nhà máy chưa phân định rõ
được ranh giới giữa KTTC và KTQT cũng như chưa xác định rõ trách
nhiệm của từng bộ phận trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông
tin, luôn coi đó là trách nhiệm của bộ phận khác, lĩnh vực khác… nên
chưa tổ chức thực hiện vận dụng KTQT một cách hiệu quả.
16
- Trình độ tổ chức quản lý, trình độ chuyên môn của kế toán trong
nhà máy còn hạn chế.
- Phần mềm kế toán tại nhà máy chưa thật sự đáp ứng nhu cầu công
tác của kế toán. Phần mềm chỉ mới đáp ứng một phần nhu cầu thông tin
kế toán tài chính, chưa phải là công cụ hỗ trợ cho công tác KTQT.
2.5.2. Nguyên nhân khách quan
- KTQT xuất hiện ở nước ta từ những năm 90, do nó vẫn còn tương
đối mới mẻ đối với không ít cán bộ quản lý chưa được tiếp cận, đào tạo,
phổ biến kiến thức về KTQT một cách đầy đủ. Điều này cũng ảnh
hưởng rất lớn đến nhận thức về KTQT ở nhà máy.
- Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam đã được cải cách một cách
cơ bản và đã có nhiều thay đổi so với hệ thống kế toán cũ. Do đó bộ
phận kế toán ở nhà máy cần phải có thời gian để tiếp cận và áp dụng.
Hiện nay vẫn còn một số nội dung trong chế độ kế toán vẫn còn mới và
khó hiểu đối với cán bộ kế toán. Hơn nữa, hệ thống kế toán hiện nay
mang tính hỗn hợp giữa KTTC và KTQT mà các văn bản, thông tư
hướng dẫn thực hiện chủ yếu vẫn là KTTC, các văn bản, thông tư thực
hiện kế toán quản trị rất ít và mang tính chung chung, trừu tượng nên
nhà máy còn lúng túng trong việc tổ chức bộ máy để thu thập thông tin
trình công nghệ sản xuất sản phẩm của nhà máy.
- Đáp ứng mục tiêu hiệu quả và tiết kiệm
- Đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của các nhà quản trị và mục
tiêu kiểm soát chi phí sản xuất của nhà máy.
- Phù hợp với yêu cầu, trình độ quản lý của nhà máy
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN
TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY BÁNH KẸO BISCAFUN
3.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử chi phí
Chi phí sản xuất tại nhà máy bánh kẹo Biscafun được phân loại theo
cách ứng xử chi phí thể hiện ở Bảng 3.1.
18
Bảng 3.1: Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử chi phí
TT
I
Biến
phí
Khoản mục chi phí
Định
phí
CP hỗn
hợp
Chi phí NVL TT
- Tiền ăn ca
X
Chi phí sản xuất chung
- Chi phí nhân viên QLPX
X
- Tiền ăn ca
X
- Chi phí khấu hao TSCĐ
X
- Chi phí công cụ dụng cụ
X
X
- Hơi
- Tiền điện
X
- Tiền nước
X
20.257.257.701
Định phí
19
II
Chi phí nhân công trực tiếp
6.937.000.000
- Tiền lương
6.937.000.000
984.750.000
- BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN
1.000.465.251
- Tiền ăn ca
III
1.985.215.251
1.993.273.455
Chi phí sản xuất chung
đưa ra các quyết định kinh doanh ngắn hạn với những điều kiện khác
nhau của đơn đặt hàng. Trong trường hợp không có sự gia tăng định phí
và định phí đã được bù đắp đủ, nhà quản trị chỉ cần so sánh chi phí bỏ
ra với biến phí, nếu giá bán sản phẩm lớn hơn biến phí đơn vị sẽ có lãi.
Bảng 3.6: Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp
Sản phẩm: Bánh Nice 216g
Sản lượng: 294.174,54 kg
Chỉ tiêu
1. Biến phí trực tiếp sản xuất
2. Biến phí sản xuất chung
3. Giá thành sản xuất
Tổng
10.426.587.621
432.620.270
10.859.207.891
Giá thành đơn vị
(đồng/kg)
35.443,54
1.470,62
36.914,17
Tác giả thu thập số liệu và lập bảng tính giá thành theo phương
pháp trực tiếp cho các nhóm sản phẩm bánh kẹo tại nhà máy.
Bảng 3.7: Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp
20
Nhóm
3.2.3. Lập dự toán linh hoạt về chi phí sản xuất
Việc sản xuất bánh kẹo mang tính mùa vụ, nên cần lập dự toán chi
phí linh hoạt cho từng sản phẩm. Thông qua thực tế phát sinh
trên cơ sở dự toán linh hoạt giúp cho nhà máy có những phản
ứng kịp thời đối với thị trường tiêu thụ.
Trên cơ sở phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử nhà máy
thực hiện lập dự toán chi phí sản xuất linh hoạt.
Tác giả lập dự toán linh hoạt về chi phí sản xuất của sản phẩm
nhóm bánh mềm phủ năm 2011 Bảng 3.8
3.2.4. Lập các báo cáo để kiểm soát chi phí sản xuất
- Báo cáo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Để kiểm soát chi phí nguyên vật liệu, bộ phận sản xuất cần lập báo
cáo về tình hình sử dụng NVL tại phân xưởng. Bộ phận KTQT căn cứ
vào báo cáo của bộ phận sản xuất tiến hành lập báo cáo về tình hình
thực hiện chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nhằm xác định mức biến
động do lượng hay do giá nguyên vật liệu. Từ đó xác định nguyên nhân
và có biện pháp xử lý kịp thời. Tác giả thu thập số liệu để lập báo cáo
tình hình thực hiện chi phí nguyên vật liệu trực tiếp qua Bảng 3.9
- Báo cáo chi phí nhân công trực tiếp sản xuất
Nhà máy phải thường xuyên theo dõi về khối lượng thực hiện, chất
lượng và tay nghề của công nhân nhằm đảm bảo chất lượng của sản
phẩm, kế hoạch sản xuất và tránh được sự lãng phí về nguyên vật liệu
do trình độ tay nghề của công nhân thấp. Nhà máy cần thiết lập báo cáo
21
tình hình thực hiện chi phí nhân công trực tiếp để đánh giá sự biến động
của chi phí nhân công trực tiếp, qua đó kiểm tra tính hợp lý của việc
tuyển dụng và sử dụng lao động. Ngoài ra, qua bảng báo cáo này sẽ
là 43.396 đồng.
Giá bán bánh Chocovina thấp nhất có thể chấp nhận là: 43.396
đồng/kg
Giá bán bánh Chocovina giảm 10% so với giá bán hiện hành là:
57.100 - 57.100 x 10% = 51.390 đồng/kg.
Như vậy, qua phân tích nhà máy nên chấp nhận đơn đặt hàng này.
b. Ứng dụng phân tích thông tin chi phí đưa ra quyết định ngắn
hạn
Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của nhóm bánh
mềm phủ thể hiện sản phẩm bánh Sweet Pie 440g kinh doanh bị lỗ. Nhà
máy xem xét có nên ngừng sản xuất kinh doanh loại bánh này hay
không? Tác giả lập bảng báo cáo thu nhập của nhóm bánh mềm phủ
theo hai phương án tiếp tục hoặc ngừng kinh doanh sản phẩm Sweet Pie
440g, Bảng 3.14
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng công tác kế toán quản trị
chi phí sản xuất tại nhà máy bánh kẹo Biscafun thuộc Công ty Cổ phần
đường Quảng Ngãi, luận văn đã nêu ra một số tồn tại mà các nhà quản
lý cần quan tâm, đã chỉ ra sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán quản trị
chi phí sản xuất tại nhà máy. Trong chương này luận văn đưa ra một số
giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại nhà máy.
Các giải pháp chủ yếu tập trung vào vấn đề theo dõi, phân loại chi phí
sản xuất, lập dự toán linh hoạt, lập các báo cáo để kiểm soát chi phí sản
xuất, phân tích mối quan hệ chi phí- sản lượng- lợi nhuận.
KẾT LUẬN
23
Kế toán quản trị chi phí sản xuất là nội dung quan trọng trong toàn
Nhìn chung, luận văn đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của
mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, đề tài chỉ mới đi sâu nghiên cứu tình hình
KTQT chi phí sản xuất tại nhà máy bánh kẹo Biscafun thuộc Công ty
Cổ phần đường Quảng Ngãi mà chưa tìm hiểu việc thực hiện KTQT chi
phí sản xuất tại các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo nói chung. Đồng
thời, các giải pháp được rút ra từ nghiên cứu lý luận, trong điều kiện sự
phát triển không ngừng của lý luận và thực tế luôn có sự thay đổi, vì
vậy sẽ còn nhiều vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.