MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Đóng góp của đề tài
7. Kết cấu đề tài
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ
PHỔ BIẾN
1.1
Khái niệm “mối liên hệ”
1.2 Một số tính chất của mối liên hệ phổ biến
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở THANH HÓA THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
2.1 Thực trạng quá trình đổi mới kinh tế ở Thanh Hóa dưới góc nhìn của
nguyên lý mối liên hệ phổ biến
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Thanh Hóa
2.1.2 Thực trạng quá trình đổi mới kinh tế ở Thanh Hóa
2.2 Quán triệt quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể - điều kiện để
nâng cao hiệu quả trong công cuộc đổi mới kinh tế ở Thanh Hóa hiện nay.
2.3 Một số khuynh hướng và giải pháp phát triển kinh tế ở Thanh Hóa từ năm
2005 – 2010
2.3.1 Một số khuynh hướng để phát triển kinh tế Thanh Hóa
2.3.2 Một số giải pháp và kiến nghị
C. KẾT LUẬN
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
điều này trong những năm tới thì một trong những vấn đề cần quan tâm giải
quyết đó là phải có những phương hướng đúng trong quá trình đổi mới nền
2
kinh tế của tỉnh để đề ra những chính sách, quan điểm, biện pháp phát triển
kinh tế toàn diện.
Thực tế sau những năm đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi
xướng, lãnh đạo, đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đạt được những
thành tựa to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Quán triệt chủ trương của
Đảng và Nhà nước, trong những năm qua tốc độ phát triển kinh tế đồng đều và
bền vững của tỉnh Thanh Hóa đã mang lại nhiều thành quả quan trọng. Điều
này cho thấy sự đúng đắn, kịp thời, hợp lý của Đảng bộ và năng lực thực tiễn
của tỉnh Thanh Hóa. Tỉnh đang dần từng bước khẳng định vị thế của mình
trong sự phát triển chung của toàn quốc, trong thời kỳ hội nhập kinh tế. Sở dĩ
đạt được những thành tựu như ngày nay là do sự nổ lực rất lớn của Đảng ủy và
nhân dân Thanh Hóa, trong đó vấn đề nhìn nhận thực tế những khó khăn và
thuận lợi của tỉnh trong sự đổi mới kinh tế đã tạo ra cơ sở lý luận vững chắc áp
dụng vào thực tế. Việc vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của chủ
nghĩa Mác – Lênin, để thấy được những thành tựu đạt được sau những năm đổi
mới cũng như việc nghiên cứu nhằm định hướng những bước phát triển đi lên
của tỉnh nhằm làm rõ tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin và chỉ ra sự
vận dụng quan điểm toàn diện vào sự đổi mới kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa là đúng
đắn, hợp với sự vận động đi lên trong phát triển kinh tế xã hội của cả nước và
thế giới.
Những vấn đề nêu trên cũng là lí do tôi chọn đề tài: “Vận dụng nguyên
lý về mối liên hệ phổ biến trong quá trình đổi mới kinh tế ở Thanh Hóa
hiện nay” làm khóa luận triết học của mình. Về mặt lý luận việc nghiên cứu đề
tài phần nào giúp ta hiểu sâu sắc hơn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin nói
chung, nguyên lý mối liên hệ phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng. Về
khác nhau. Những tài liệu này đề cập tới Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, và
sự đổi mới trong kinh tế ở nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên việc vận
dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến với tính cách là phương pháp luận khoa học
4
trong đổi mới kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa thì chưa có những gì mà tỉnh Thanh Hóa đã
vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vào trong đổi mới kinh tế hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích: Đề tài làm rõ những yêu cầu về sự vận
dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của
phép biện chứng duy vật mácxít vào trong quá trình đổi mới kinh tế ở Thanh
Hóa hiện nay đồng thời chỉ ra những nguyên nhân thành công, xu thế phát triển
kinh tế trong giai đoạn mới và đưa ra những kiến nghị, giải pháp trên quan
điểm phát triển toàn diện
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện được mục đích trên, khóa luận thực hiện những nhiệm vụ
sau:
- Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đối
với quá trình đổi mới kinh tế ở Thanh Hóa
- Thực trạng của quá trình đổi mới kinh tế ở Thanh Hóa đồng thời đưa
ra một số giải pháp để nâng cao, phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến trong đổi mới kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu sự vận dụng nguyên
lý về mối liên hệ phổ biến trong sự đổi mới kinh tế của tỉnh Thanh Hóa trên cơ
sở những số liệu từ năm 2005 – 2010 trên địa bàn huyện, thị xã và thành phố
5. Phương pháp nghiên cứu
Theo từ điểm Tiếng Việt, thì “mối” là “đoạn đầu của sợi dây, sợi chỉ
dùng để buộc thắt lại với nhau; chỗ nối, chỗ thắt, chỗ từ đó có thể quan hệ với
một tổ chức, cơ sở liên lạc” [14, tr640]. Còn “liên hệ” là “chỉ sự vật, sự việc có
quan hệ làm cho ít nhiều tác động đến nhau, dựa trên những mối quan hệ nhất
định” [14, tr567]. Như vậy, mối liên hệ có thể được hiểu theo cách là sự quan
hệ qua lại và tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự
nhiên, xã hội và tư duy theo một cách thức, con đường của nó.
Theo quan điểm biện chứng, khái niệm “liên hệ” phản ánh sự phụ thuộc,
ràng buộc lẫn nhau, làm điều kiện, tiền đề cho nhau và quy định lẫn nhau của
mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới. “Liên hệ” còn phản ánh sự tác động qua
lại lẫn nhau giữa chúng. Đó là kiểu liên hệ đặc biệt mà trong đó các sự vật,
hiện tượng là đối tượng biến đổi của nhau một cách trực tiếp, hoặc gián tiếp,
nhờ đó mà sự vận động, biến hóa của thế giới được thực hiện thường xuyên,
liên tục.
Mối liên hệ trước hết là mối liên hệ giữa các đối tượng và hiện tượng của
hiện thực nhưng không phải bất kỳ quan hệ nào cũng đều có mối liên hệ. Trong
thế giới tất cả hiện tượng đều ở trong tình trạng liên hệ lẫn nhau và biệt lập
(tách biệt) với nhau. Chúng liên hệ với nhau trong mối liên hệ này, nhưng lại
không liên hệ với nhau trong mối liên hệ khác. Trong các hiện tượng có những
thay đổi xảy ra giả định phải có những thay đổi tương ứng trong các hiện tượng
khác.
Chẳng hạn: Nhân nguyên tử có liên hệ hữu cơ với vỏ bọc điện tử, đồng
thời vẫn biệt lập với nó. Trong hạt nhân có những thay đổi đòi hỏi phải có thay
đổi vỏ bọc, hay . Về sự thống nhất giữa mối liên hệ và tách biệt là quan hệ giữa
7
cơ thể với môi trường. Cơ thể có liên hệ hữu cơ với môi trường đồng thời vẫn
tách biệt và có một mức tự lập, cô lập nhất định. Có những thay đổi của môi
trường nhất thiết dẫn đến những thay đổi nhất định trong cơ thể, còn những
Chẳng hạn: Trong phán đoán “sói là một động vật” thì theo ông vừa nói
lên rằng sói thuộc giới động vật có liên hệ với các động vật, vừa nói lên sói
tách rời, biệt lập với các động vật khác như chó, linh cẩu...
Cantơ đã có công trong việc phân tích phạm trù liên hệ và quan hệ trong
tu duy, trong lĩnh vực các khái niệm, tuy nhiên về thực chất ông lại không thừa
nhận có mối liên hệ qua lại có tính quy luật phổ biến trong hiện thực khách
quan (theo ông mối liên hệ đó là do nhận thức đưa vào thế giới các hiện
tượng).
Nhà triết học cổ điển Đức Hêghen đã bác bỏ quan niệm của Cantơ khi
ông cho rằng mối liên hệ mang tính quy luật, tính thống nhất do chủ thể tư duy
vào thế giới các hiện tượng. Hêghen cho rằng mối liên hệ qua lại đó. Tính
thống nhất đó theo bản tính của chúng về căn bản là thuộc tính của thế giới
hiện tượng, chúng tồn tại một cách khách quan bên ngoài ý thức của con người
và là những hình thức tồn tại phổ biến của các sự vật. (Hêghen đứng trên quan
điểm duy tâm để phê phán chủ nghĩa chủ quan của Cantơ trong việc giải thích
mối liên hệ và quan hệ phổ biến).
Trong lịch sử triết học có rất nhiều khuynh hướng phủ nhận mối liên hệ
lẫn nhau giữa các hiện tượng trong hiện thực dưới các hình thức khác nhau.
Quan niệm chung của những nhà triết học hiện đại là dựa vào sự quan sát trực
tiếp, vào sự ngắm nhìn những gì xảy ra trên bề mặt các hiện tượng. Trong khi
nghiên cứu các sự vật và hiện tượng thì phương pháp tư duy lúc đầu hình thành
trong khi nghiên cứu giới tự nhiên, sau đó chuyển sang triết học do F.Bêcơn và
J.Lốccơ là những người vận dụng nó khi nghiên cứu phương pháp nhận thức.
9
Theo F.Bêcơn, người ta nhận thức các đối tượng bằng cách phân đôi
chúng trong tư duy thành các “chất” đơn giản và nghiên cứu các “chất” để tách
biệt với nhau trên cơ sở các kết quả nhận được, người ta dựng lên hình ảnh của
lĩnh vực các hiện tượng được nghiên cứu. Tuy nhiên nếu chúng ta chia nhỏ đối
những sự vật, hiện tượng, quá trình cấu thành thế giới. Tuy vậy, khi nói về cơ
sở của sự liên hệ phổ biến, phép biện chứng duy tâm coi cơ sở của sự liên hệ
phổ biến là ở cảm giác (duy tâm chủ quan), hay ở ý niệm tuyệt đối (duy tâm
khách quan). Đó là những cách giải thích một cách chủ quan, thần bí, không
khoa học. Đứng trên quan điểm duy vật khoa học, phép biện chứng duy vật
khẳng định rằng, cơ sở của sự liên hệ là ở tính thống nhất vật chất của thế giới.
Theo quan điểm này, các sự vật, các hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng,
khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại
khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Ngay cả tư tưởng, ý
thức của con người vốn là những cái phi vật chất, cũng chỉ là thuộc tính của
một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người, nội dung của chúng cũng
chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan.
Vượt lên trên quan điểm siêu hình, phép biện chứng duy vật cho rằng
không thể hiểu được bất cứ một hiện tượng nào trong tự nhiên nếu người ta
tách nó ra khỏi những hiện tượng chung quanh mà xét. Vì bất cứ một hiện
tượng nào trong bất kỳ một lĩnh vực nào của tự nhiên cũng đều có thể biến
thành một cái vô nghĩa, nếu người ta tách nó ra khỏi những điều kiện chung
quanh để xét nó ngoài những điều kiện đó; trái lại, bất cứ hiện tượng nào cũng
đều có thể hiểu được, có thể chứng minh được, nếu người ta xét nó trong điều
kiện là nó có sự liên hệ không tách rời với những hiện tượng chung quanh chế
ước. Tự nhiên không phải như là một sự tích lũy ngẫu nhiên của các sự vật, các
hiện tượng tách rời nhau, riêng biệt và độc lập với nhau, mà như là một chỉnh
11
thể thống nhất, có liên hệ nội bộ, trong đó các sự vật, hiện tượng đều có những
mối liên hệ hữu cơ với nhau, đều thúc đẩy lẫn nhau và chế ước cho nhau.
Luận điểm trên đây có một ý nghĩa khoa học rất lớn. Người ta không chú
trọng đến mối liên hệ khách quan và đến tính chất tùy thuộc lẫn nhau của các
mặt, thị trường dầu cũng có nhiều thay đổi điều này ảnh hưởng tới giá dầu của
Việt Nam. Hay động đất, sóng thần ở Nhật Bản khiến cho thị trường chứng
khoán của Nhật có những thay đổi nghiêm trọng ảnh hưởng tới thị trường
chứng khoán của Việt Nam
Do đó, không thể tìm thấy ở bất cứ phạm vi nào, ở bất cứ lĩnh vực nào, ở
bất cứ không gian nào và thời gian nào có những sự vật, hiện tượng tồn tại một
cách hoàn toàn riêng rẽ, cô lập
Khi nói về cơ sở của mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng duy tâm cho
rằng là ở cảm giác (duy tâm chủ quan), hay ở ý niệm tuyệt đối (duy tâm khách
quan). Đó là những cách giải thích một cách chủ quan, thần bí, không có cơ sở
khoa học. Trên cơ sở khoa học phép biện chứng mácxít khẳng định rằng, cơ sở
của sự liên hệ phổ biến là ở tính thống nhất vật chất của thế giới. Các sự vật,
hiện tượng dù có đa dạng, khác nhau như thế nào chăng nữa thì cũng chỉ là
những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất.
Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người vốn là những cái phi vật chất cũng chỉ
là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người, nội
dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của quá trình vật chất khách
quan
Ngày nay khoa học hiện đại đã có nhiều phát minh chứng tỏ rằng : yếu
tố quyết định hình thức tồn tại của sự vật, hiện tượng ở một dạng hình thức cụ
thể nào đó là cách thức liên hệ với nhau của các yếu tố, các bộ phận cấu thành
sự vật, hiện tượng đó. Còn yếu tố quyết định sự biến đổi của các sự vật, hiện
tượng là sự tác động qua lại giữa các yếu tố, các bộ phận cấu thành nó mà chủ
yếu là sự liên hệ, tác động qua lại của các mặt đối lập ở bên trong sự vật, hiện
13
tượng. Mặt khác, bản thân sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng cùng với sự liên
hệ, tác động qua lại giữa chúng là cơ sở hiện thực để các sự vật, hiện tượng quy
định lẫn nhau, phân biệt được với nhau qua vẻ bề ngoài của chúng. Hơn nữa,
cái hoàn thành bên trong, là sự kết hợp nhiều cái hữu hạn thành cái vô hạn.
Trong khoa học tự nhiên, hình thức biểu hiện của tính phổ biến là quy luật, quy
luật này cho phép dự kiến trước sự diễn biến của các quá trình và các hiện
tượng khác nhau trong điều kiện nhất định, tức là cho phép kế hoạch hóa một
cách hợp lý hoạt động sản xuất. Chẳng hạn, cái phổ biến nằm trong các quy
luật của cơ học ngày nay cho phép điều khiển hết sức chính xác các con tàu vũ
trụ bay hàng trăm triệu km đến các hành tinh xa xôi, mặc dù khi thiết lập các
quy luật này, những dữ liệu về các chuyến bay vũ trụ vẫn chưa được đưa vào
quy luật này theo cách quy nạp
Để thấy rõ sự biểu hiện của mối liên hệ có tính phổ biến trong các sự vật,
hiện tượng và quá trình, chúng ta xem xét nó thông qua mối liên hệ giữa các
cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật. Bởi vì, phạm trù là những
khái niệm rộng nhất phản ánh những đặc điểm, những thuộc tính hay những
mối liên hệ chung nhất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
Lênin viết: “Trước con người, có màng lưới những hiện tượng tự nhiên. Con
người bản năng, người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên, những phạm
trù là những giai đoạn của sự tách biệt đó, tức là của sự nhận thức thế giới,
chúng là những điểm nút của màng lưới, giúp ta nhận thức và nắm vững màng
lưới” [16, tr.102]
Thứ nhất, mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng
Đây là mối liên hệ phổ biến nhất, liên quan tới toàn bộ quá trình nhận
thức của con người. Theo quan điểm của phép biện chứng duy vật, cái riêng và
cái chung không thể tách rời nhau. Không có cái chung tồn tại độc lập đứng
ngoài cái riêng mà ngược lại: “cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua
cái riêng” [16, tr.381]. Mỗi cái chung chỉ là một bộ phận, một thuộc tính, một
đặc điểm của cái riêng. Cái riêng là cái toàn thể, cái chung là cái bộ phận, vì
15
vậy cái chung không bao quát hết cái riêng và cái riêng phong phú hơn cái
nhân thì cho một kết quả. Trong thực tế có nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả
và ngược lại một kết quả lại cho nhiều nguyên nhân. Điều này có thể xảy ra
trong mọi lĩnh vực, nhưng phức tạp nhất là trong lĩnh vực xã hội. Xã hội vốn là
sự tổng hợp của nhiều mối quan hệ đa dạng, đan chéo nên thường quan hệ nhân
quả cũng không đơn giản. Vì vậy, trong nhiều trường hợp nếu không tính toán
đầy đủ có thể rơi vào quan điểm phiến diện, giản đơn.
Khi nhân tạo ra quả thì lại trở thành một tác nhân để sinh ra quả khác và
cứ thế quan hệ nhân quả tiếp nối đến vô cùng tận. Vì vậy, khi xác định quan hệ
nhân quả thực tế chỉ là xác định một mắt khâu của quá trình vận động mà thôi.
Chính sự sinh sản của các loài qua các thế hệ nối tiếp nhau là một chẳng hạn cụ
thể về vấn đề này. Trong xã hội sự tác động giữa các nhân tố của lực lượng sản
xuất là nguyên nhân làm thay đổi quan hệ sản xuất. Song, sau đó quan hệ sản
xuất mới lại trở thành nhân tố thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Quá trình
này tiếp diễn trong suốt lịch sử phát triển của loài người
Vì một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân và vai trò của các nguyên
nhân không giống nhau nên triết học Mác chia nguyên nhân ra nhiều loại.
Nguyên nhân bên trong là sự tác động qua lại của các bộ phận, các yếu
tố tạo thành sự vật gây nên sự biến đổi của sự vật. Nguyên nhân bên ngoài là
sự tác động qua lại giữa các sự vật tạo nên sự biến đổi của từng sự vật ấy. Khi
xét nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài bao giờ cũng xét chúng
trong mối liên hệ cụ thể. Cái là nguyên nhân bên trong xét trong mối quan hệ
này lại là nguyên nhân bên ngoài xét trong mối quan hệ khác. Trong hai
nguyên nhân này, nguyên nhân bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định
đối với sự biến đổi của sự vật, còn nguyên nhân bên ngoài chỉ thực sự có tác
dụng khi nó chuyển được thành nguyên nhân bên trong hoặc thông qua nguyên
nhân bên trong.
Khi một kết quả có nhiều nguyên nhân thì vai trò của các nguyên nhân
đối với việc hình thành kết quả không giống nhau. Những nguyên nhân nào
17
vì thế triết học mới có hiện tượng chỉ thấy tất nhiên mà không thấy ngẫu nhiên
hoặc ngược lại.
Thứ tư, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
Đây là mối quan hệ có tính biện chứng. Sự gắn bó này thể hiện trước hết
ở sự thống nhất giữa chúng. Bất kỳ sự vật nào cũng có cả nội dung và hình
thức. Sự vật nào cũng phải có các nhân tố, các bộ phận tạo thành nó, vì vậy nó
phải có nội dung. Nhưng các bộ phận, các nhân tố phải sắp xếp theo một trật tự
nào đó, phải có màu sắc, hình khối xác định, do đó nó phải có hình thức. Tuy
nhiên, vai trò của chúng không ngang nhau. Nội dung bao giờ cũng quyết định
hình thức. Nó quyết định cả phương thức thể hiện lẫn cách thức sắp xếp. Nội
dung luôn vận động, biến đổi, hình thức có tính ổn định tương đối. Sự biến đổi
của nội dung là cơ sở cho sự biến đổi của hình thức. Một khi nội dung của đời
sống xã hội đã thay đổi thì các hình thức thể hiện nó cũng biến đổi theo.
Mặc dù hình thức không phải chỉ là nhân tố bị động, nó có thể tác động
mạnh mẽ trở lại nội dung. Hình thức có thể tác động tích cực, hoặc tiêu cực
đến nội dung. Nếu hình thức phù hợp với nội dung nó sẽ làm phong phú thêm
nội dung, làm sâu sắc thêm nội dung, (kể cả khi nó lạc hậu so với nội dung oặc
vượt quá khuôn khổ quy định của nội dung), nó sẽ kìm hãm nội dung, làm sai
lệch nội dung, thậm chí có thể phá vỡ nội dung.
Sự không phù hợp giữa nội dung và hình thức có thể dẫn tới xung đột
giữa chúng và đòi hỏi phải “vứt bỏ hình thức cũ”, xác lập hình thức mới. Việc
thay đổi này là để đảm bảo cho nội dung luôn phát triển. Sự vận động của xã
hội theo chiều hướng đi lên, tuy vậy nó luôn bị các hình thức cũ (những cơ cấu
tổ chức xã hội cũ kìm hãm). Quá trình phát triển xã hội vứt bỏ nhiều hình thức
đã lỗi thời, tọa điều kiện cho nội dung cuộc sống luôn luôn phát triển đi từ thấp
đến cao. Trong cuộc sống hiện thực, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
đều hết sức đa dạng, một nội dung có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức,
một hình thức lại có thể phản ánh nhiều nội dung.
nằm trong hiện thực nhưng hiện thực luôn vận động, biến đổi nên khả năng
20
cũng biến đổi theo. Trong quá trình vận động của hiện thực luôn có khả năng
mới xuất hiện và có khả năng cũ mất đi. Có những khả năng mà điều kiện để
trở thành hiện thực ngày càng tăng, có khả năng các điều kiện đó lại giảm dần.
Nếu mọi hiện thực đều chứa đựng khả năng thì mọi khả năng cũng đều
có thể trở thành hiện thực khi có đủ điều kiện. Tuy nhiên, trong xã hội để tạo ra
những điều kiện cho khả năng chuyển thành hiện thực, nhân tố chủ quan có vai
trò hết sức to lớn. Vai trò của nhân tố chủ quan chính là tạo mọi điều kiện để
chuyển khả năng thành hiện thực, hoặc rút bỏ những điều kiện để một khả năng
xấu nào đó không thể xảy ra. Tất nhiên, điều đó chỉ thành công khi nào con
người nắm bắt được quy luật, hành động theo đúng quy luật. Ngược lại, nếu
con người làm trái quy luật, dù ý định tốt hay xấu cuối cùng cũng thất bại.
Tính đa dạng và phong phú của liên hệ
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính phổ biến, tính
khách quan của sự liên hệ, mà còn chỉ ra tính đa dạng của nó. Các sự vật, hiện
tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ
vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó. Mặt khác, cùng
một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác
nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự
vật thì cũng có tính chất và vai trò khác nhau. Do đó, không thể đồng nhất tính
chất, vị trí vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với mỗi sự vật nhất
định, trong những điều kiện xác định.. Căn cứ vào tính chất, đặc trưng của
từng mối liên hệ, có thể phân loại thành các mối liên hệ sau:
Có mối liên hệ bên ngoài, tức là sự liên hệ của các sự vật, hiện tượng với
nhau. Có mối liên hệ bên trong, tức là sự liên hệ, tác động qua lại giữa các mặt,
các yếu tố, các bộ phận, các quá trình ở bên trong sự vật, cấu thành sự vật. Có
những mối liên hệ chung của toàn thế giới, hoặc trong những lĩnh vực rộng lớn
tất nhiên và ngược lại.
22
Như vậy, sự liên hệ tác động qua lại của sự vật, hiện tượng trên thế giới
không những là vô cùng, vô tận mà còn rất phong phú, đa dạng và phức tạp.
Đặc biệt trong lĩnh vực đời sống xã hội, tính phức tạp của sự liên hệ được nhân
lên do sự đan xen, chồng chéo, chằng chịt của vô vàn các hoạt động có mục
đích, có ý thức của con người. Chính vì vậy mà quá trình nhận thức và phân
loại đúng các mối liên hệ trong xã hội trở nên khó khăn hơn nhiều so với trong
giới tự nhiên
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nội dung quan
trọng của phép biện chứng duy vật. Đồng thời nó cũng là cơ sở lý luận của
quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể là những quan điểm mang tính
phương pháp luận khoa học trong nhận thức và thực tiễn. Từ việc nghiên cứu
về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng, nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến có ý nghĩa phương pháp luận sau:
Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên
hệ với sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, do đó khi
nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện, để đánh
giá đúng về sự vật, hiện tượng, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện
tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật
của chúng. Chẳng hạn, khi đánh giá sự phát triển của một quốc gia nào đó,
chúng ta phải xét tất cả các lĩnh vực như kinh tế, chính trị , văn hóa, an ninh
quốc phòng… của quốc gia đó. Có như vậy mới thấy được sự phát triển toàn
diện của quốc gia đó, vì nếu chỉ xét riêng một lĩnh vực nào đó thì không thấy
sự phát triển của quốc gia đó, nên phải xét tất cả các lĩnh vực trong mối liên hệ
với nhau.
- Với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các
24
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải chống lại cách xem xét phiến diện,
siêu hình, chỉ thấy một mặt, không thấy toàn bộ. Quan điểm toàn diện cũng
hoàn toàn xa lại với chủ nghĩa chiết trung. Thực chất chủ chủ nghĩa chiết trung
là kết hợp một cách vô nguyên tắc nhiều mối liên hệ, nhiều sự vật, nhiều hiện
tượng... khác nhau tạo thành một mớ hỗn độn các sự kiện, không phân biệt cái
bản chất với cái không bản chất, cái chủ yếu (cái chính) với cái không chủ yếu
(cái phụ), dẫn tới lúng túng, chủ quan trong nhận thức. Nhìn bề ngoài thì chủ
nghĩa chiết trung có vẻ như “toàn diện”, nhưng thực chất là trái với quan điểm
toàn diện của phép biện chứng duy vật.
Chủ nghĩa chiết trung và phép ngụy biện thường đi với nhau. Ngụy biện
là đem những mặt, những mối liên hệ thứ yếu làm chủ yếu, không cơ bản làm
cơ bản; chuyển cái cá biệt thành cái phổ biến. Thuật ngụy biệt đưa ra những lập
luận có vẻ như đứng đắn, có sức “thuyết phục”, có vẻ như toàn diện, nhưng
thực chất chỉ là sự vận dụng một cách chủ quan, vô nguyên tắc tính mềm dẻo,
linh hoạt của các khái niệm, phạm trù, là đối lập với quan điểm toàn diện. Nói
về sự khác nhau này Lênin chỉ rõ: “Tính linh hoạt đó áp dụng một cách chủ
quan bằng chủ nghĩa chiết trung và ngụy biện. Tính linh hoạt áp dụng một cách
khách quan, nghĩa là phản ánh tính toàn diện của quá trình vật chất và sự thống
nhất của quá trình đó, thì đó là phép biện chứng, là sự phản ánh chính xác sự
phát triển vĩnh viễn của thế giới” [16, tr118].
- Quan điểm toàn diện xuất phát từ nguyên lý mối liên hệ phổ biến của
phép biện chứng duy vật dựa trên các cơ sở sau:
Thứ nhất, sự vật, hiện tượng nào cũng chỉ tồn tại trong liên hệ và thông
qua liên hệ
Thứ hai, thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó tất cả những liên hệ
cụ thể cũng chỉ là những mắt khâu mà sự thống nhất của chúng tạo lập nên liên
hệ phổ biến nhờ đó thế giới là một chỉnh thể. Điều đó cũng có nghĩa là bất kỳ