MỞ ĐẦU
Trong tâm lý học ý thức là một vấn đề vô cùng quan trọng, sự quan trọng đó
được A.N Lêonchiev khẳng định rằng: Hệ thống liên hệ của khoa học tâm lý
không thể được xây dựng bên ngoài lý thuyết khoa học – cụ thể về ý thức.
Sự ra đời của phạm trù ý thức trong tâm lý học là một quá trình phát triển lâu
dài, là sự đấu tranh về thế giới quan và phương pháp luận của nhiều dòng phái tâm
lý và nhiều tác giả. Trên cơ sở nền tảng triết học Mác và phương pháp luận duy
vật biện chứng, tâm lý học mác xít ra đời đã giải quyết một cách triệt để vấn đề ý
thức với tư cách là một phạm trù của tâm lý học.
Trong giai đoạn hiện nay, khoa học tâm lý đang trải qua giai đoạn phát
triển tích cực, thể hiện ở việc mở rộng các vấn đề nghiên cứu, làm phong phú
các phương pháp nghiên cứu và tư liệu thực tế. Hình thành các xu hướng mới
và tăng cường mối liên hệ với thực tiễn, đây chính là những điều kiện mới để
tiếp tục phát triển lý luận chung của tâm lý học. Song bất kỳ lĩnh vực nghiên
cứu nào, trong điều kiện nào thì những phạm trù trong tâm lý học mác xít nói
chung và phạm trù ý thức nói riêng luôn là lý luận gốc cho việc nghiên cứu,
phát triển khoa học tâm lý.
Ý thức không chỉ là một phạm trù của tâm lý học mà còn là một phạm trù
quan trọng của triết học. Với cách tiếp cận của người học tập nghiên cứu tâm lý
học mác xít, trong phạm vi bài tiểu luận này, xin được trình bày một số nghiên cứu
cơ bản về ý thức trong tâm lý học theo quan điểm tâm lý học mác xít và vấn đề rút
ra trong xây dựng ý thức xã hội mới cho người quân nhân hiên nay.
1
NỘI DUNG
1. Vấn đề ý thức trong tâm lý học
Lịch sử nghiên cứu về ý thức có thể nói trước hết được các nhà triết học khám
phá nghiên cứu và trở thành một trong những phạm trù trung tâm của triết học. Song
để đi sâu, lý giải những hiện tượng đa dạng, phong phú về đời sống tinh thần của con
Có thể thấy quan niệm của Wundt về phạm trù ý thức thực chất là quan niệm
duy tâm, tuyệt đối hóa ý thức, đồng nhất tâm lý với ý thức nên không thấy được
mối quan hệ tâm lý – ý thức với bên ngoài. Chính vì vậy khi giải thích về nguồn
gốc, bản chất của ý thức lại theo quan niệm duy tâm nội quan, rơi vào vòng luẩn
quẩn đó là: họ mong muốn đi tìm hiểu, nghiên cứu tâm lý người khác, hay ít nhất
cũng là những người mong muốn tìm ra con đường, phương pháp để nghiên cứu
các hiện tượng tâm lý lại chính là người thừa nhận rằng: tâm lý của ai chỉ có người
đó mới biết được, người khác chỉ nghe người ta kể lại rồi lý giải theo cách này hay
cách khác một cách hoàn toàn chủ quan.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tâm lý học nội quan không còn đứng vững;
tâm lý học rơi vào khủng hoảng. Trong tình hình đó các dòng phái tâm lý học
khách quan ra đời với xu hướng phủ nhận tâm lý học nội quan và tham vọng đưa
tâm lý học thoát khỏi cuộc khủng hoảng về thế giới quan, phương pháp luận song
chính những dòng phái này lại thể hiện quan điểm phiến diện về ý thức. Tâm lý
học hành vi thì gạt bỏ ý thức khỏi đối tượng nghiên cứu của tâm lý học, phủ nhận
phạm trù ý thức. Họ tuyên bố chỉ quan tâm đến hành vi của con người. Phân tâm
học thì lại chủ tương nghiên cứu vô thức, coi vô thức là cái quyết định mọi biểu
hiện của đời sống tâm lý con người, ý thức chỉ là cái thư yếu, là một phần rất nhỏ
chịu sự quy định của cái vô thức.
Có thể thấy rằng trong lịch sử các tư tưởng tâm lý học, thái độ đối với vấn đề
ý thức đã có thay đổi, và sự thay đổi ở đây khá đột ngột. Từ việc khẳng định vấn
đề này hầu như là vấn đề duy nhất đến chỗ tuyên bố ý thức là điều hư cấu, giả tạo.
3
Như đã biết, tâm lý học nội quan cho rằng ý thức là bản thể độc lập và xem xét tất
cả các quá trình tâm lý như chức năng của ý thức. Trong cuộc đấu tranh vì những
phương pháp khoa học khách quan đã có những ý định bỏ hẳn vấn đề ý thức. Ý
thức được “tuyên bố” là tiếng vọng, dư âm yếu ớt, là lãng quên, là tâm hồn đang
biến mất trong bầu không khí triết học. Người ta khẳng định rằng chính khái niệm
thể, chúng tạo ra một phần ý thức cá nhân, cá nhân tạo ra các thời điểm đó dường
như từ bên trong. Cùng với vấn đề trọn vẹn của cá nhân, vấn đề phân đôi của ý
thức được nghiên cứu (Xperi, Pucheti,v.v…) trong trạng thái phân ly thôi miên,
trong thủ thuật rạch mép.
Trong tất cả cách tiếp cận trên, ý thức được coi như một cái gì đó xuất phát
từ kinh nghiệm cá nhân, như các yếu tố của đời sống nội tâm của họ – cảm tưởng,
tâm trạng, ý nghĩ...
Với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của xu hướng khách quan được phổ biến rộng rãi
vào nửa đầu thế kỷ XX, trong cuộc đấu tranh làm sáng rõ những vấn đề lý luận,
phương pháp luận, tâm lý học mác xít đã bảo vệ vấn đề ý thức trên lập trường duy
vật và xác định hướng nghiên cứu khoa học của phạm trù này.
Tâm lý học Mác xít xem ý thức là chức năng của não, là sự phản ánh đời
sống của con người. Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về
thế giới, là hình thức phản ánh cao nhất, khác về chất so với phản ánh chung. Ý
thức là sự phản ánh tích cực, chủ động, sáng tạo.
Như vậy điều nhận thấy đầu tiên trong quan niệm về ý thức của tâm lý học
Mác xít là xác định nguồn gốc, bản chất của ý thức; và đây cũng là những cơ sở
đầu tiên, quan trọng để chống lại các quan điểm duy tâm, nội quan về ý thức;
những quan điểm loại bỏ ý thức ra khỏi tâm lý học.
Để lý giải bản chất, nguốn gốc của ý thức, các nhà tâm lý học mác xít dựa
trên nền tảng triết học của Mác khi cho rằng: Để nắm được nguồn gốc, bản chất
của ý thức như là sự phản ánh của đời sống, cần phải phân tích xã hội, quy luật
5
khách quan sự phát triển của nó. Ý thức theo Mác ngay từ đầu là sản phẩm của xã
hội, và nó vẫn là sản phẩm xã hội chừng nào còn có sự tồn tại của con người. Tính
chất chế định về mặt xã hội của ý thức được đề cập nhiều trong các công trình
nghiên cứu nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác, với cách hiểu duy vật và khoa học về xã
hội đã chỉ ra sự liên hệ khăng khít với sản xuất vật chất, với thực tiễn xã hội.
bản chất của ý thức là ở chỗ: trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, trực
tiếp là quá trình con người hoạt động tác động cải tạo tự nhiên, hoàn cảnh được
nghiệm thấy trong ý thức của mình như một thái độ, nghĩa là thái độ thực sự của
con người đã trở thành trung gian thông qua sự phản ánh của tinh thần. Sự phản
ánh đó được thực hiện trong ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ và được ngôn ngữ ghi
lại với tính cách là cái vỏ vật chất của ý thức; đồng thời, ngay chính cả ngôn ngữ
cũng là sản phẩm tất yếu của hiện thực khách quan. Khi nói về vấn đề này, Mác
viết : “cả đến bản thân ngôn ngữ mà nhà tư tưởng dùng để hoạt động,- được cung
cấp cho tôi với tính cách là một sản phẩm xã hội, mà tồn tại của bản thân tôi cũng
là hoạt động xã hội; cho nên, cái mà tôi làm ra từ trong con người của tôi là cái mà
tôi làm ra cho xã hội, từ trong bản thân tôi, trong khi tôi có ý thức về tôi như một
thực thể xã hội” và đối với Mác, ngôn ngữ là “ý thức thực sự thực tiễn tồn tại đối
với những người khác và do đó cũng tồn tại đối với tôi”.
Như vậy, về bản chất, ý thức con người không phải là cái gì trừu tượng và
khó hiểu; nó không phải là thứ được tự sản sinh ra theo kiểu “gan tiết ra mật”
ngay chính trong chủ thể; nó lại càng không phải do thần linh hay thượng đế
sinh ra, mà ý thức là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan của một
dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao nhất đó là óc người. Cũng như tâm lý
người nói chung, ý thức mang bản chất xã hội rất sâu sắc- ý thức là sản phẩm
cao nhất của phản ánh và hoạt động xã hội của con người, nghĩa là ý thức chịu
sự quy định và chi phối của điều kiện và hoàn cảnh xã hội lịch sử nhất định;
7
trong xã hội có giai cấp, ý thức mang tính chất giai cấp rất sâu sắc và tồn tại cả
trong ý thức cá nhân và ý thức xã hội.
Dựa trên quan niệm của Mác: “Lao động trước hết là quá trình được thực
hiện giữa con người và thiên nhiên, quá trình mà trong đó con người bằng hoạt
động của chính mình quy định, điều khiển và kiểm tra sự trao đổi vật chất giữa họ
sinh lý cơ thể, đồng thời làm nảy sinh, phát triển các phẩm chất, năng lực tâm lý.
Bên cạnh lao động thì ngôn ngữ cũng có vai trò quan trọng trong sự hình thành ý
thức bởi ngôn ngữ chính là phương tiện để con người lĩnh hội kiến thức, kinh
nghiệm; chính ngôn ngữ là công cụ để con người nhận thức thế giới khách quan.
Sự hình thành ý thức xét về phương diện tiến hóa cá thể cần nghiên cứu mối quan
hệ giữa ý thức cá nhân và ý thức xã hội.
Trong lý giải sự hình thành ý thức cá nhân có nhiều cách tiếp cận khác nhau
song cách tiếp cận được phổ biến khá rộng rãi là cách tiếp cận khẳng định sự bắt
chước, lây lan, ám thị: thuyết phục là phương thức cơ bản của sự phát triển ý thức
cá nhân. Trong Tâm lý học nước nhà người đầu tiên bắt đầu nghiên cứu những
phương thức này là Becherev, Plêkhanovv.v…
G.Tacder cho rằng bắt chước có vai trò quan trọng trong việc cá nhân lĩnh
hội kinh nghiệm xã hội lịch sử. Ông tuyệt đối hóa tư tưởng này, gắn cho bắt chước
ý nghĩa của cơ chế tổng hợp của cuộc sống xã hội. Tiếp nhận tư tưởng này,
Becherev đồng thời mở rộng khái niệm về “công cụ của xã hội”. Bên cạnh bắt
chước, ông còn đưa cả hiện tượng cảm ứng, ám thị, sự thuyết phục. Ông cũng có ý
định rất thú vị là nghiên cứu những “công cụ” đó bằng thực nghiệm. Tuy nhiên,
Becherev xem những cơ chế đó là tự nhiên. Plêkhanov phê phán cách giải thích
mang tính tự nhiên của họ trong các tác phẩm của Tacder. Cho rằng, bắt chước
thực sự là một cơ chế chung nào đó của sự phát triển tâm lý - ý thức. Ông nhấn
mạnh rằng tác dụng của cơ chế đó được xác định bởi điều kiện lịch sử cụ thể của
cuộc sống xã hội. Các cá nhân khác nhau bắt chước cái gì và bắt chước như thế
9
nào, điều đó phụ thuộc vào vị trí của họ trong hệ thống quan hệ xã hội. Plêkhanov
cũng khẳng định rằng, cùng với bắt chước còn tồn tại cơ chế khác đối lập với bắt
chước đó là phản đối được tạo ra bởi sự thay đổi tương xứng. Chúng ta thấy rằng,
tư tưởng của Plêkhanov về cơ chế liên hệ một cách biện chứng các mặt đối lập
trong tính chất quy định của sự phát triển tâm lý có ý nghĩa quan trọng đối với tâm
thức cá nhân có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tâm lý học Mácxít. Rất tiếc
Vưgôtxki chỉ chú ý đến những mối quan hệ được hình thành giữa người lớn và trẻ
em. Cụ thể hóa quan điểm chúng về vai trò quy định của quan hệ xã hội theo
phương diện tâm lý học, Vưgôtxki khẳng định rằng, sự biến đổi các quan hệ xã
hội. Sự nội tâm hóa chúng là cơ chế quan trọng nhất thực hiện chức năng đó trong
phát triển tâm lý cá thể. Trong quan niệm của Vưgôtxki nói đến quan hệ xã hội
nhưng vẫn còn chưa rõ những quan hệ xã hội nào được nói đến, và vì thế chưa rõ
rằng, luận thuyết được đưa ra về sự biến đổi quan hệ thành chức năng tâm lý là
luận thuyết cơ bản ở mức nào? Thực chất sự biến đổi quan hệ thành chức năng
tâm lý, tức là nhập tâm hóa cũng chưa được làm rõ.
Trong tâm lý học Liên Xô, phương pháp nghiên cứu có hiệu quả nhất là
phương pháp nghiên cứu sự quy định ý thức cá nhân từ phía xã hội. Phương pháp
này đã đưa ra phạm trù hoạt động. Theo phương pháp này, ý thức theo bản chất
của nó được hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động xã hội. Nguyên tắc
thống nhất của ý thức và hoạt động được hình thành. Trong nhiều năm liên tục nó
được đưa vào trong các nghiên cứu lý thuyết, thực nghiệm cũng như nghiên cứu
ứng dụng. Các nhà nghiện cứu khác nhau khám phá nguyên tắc này theo cách
khác nhau. Nhưng quan điểm chung thể hiện ở sự khẳng định: cá nhân tiếp thu
những gì mà xã hội tạo ra qua hoạt động và trong hoạt động.
Về vấn đề tự ý thức được I.I. Trécnôcôva nghiên cứu một cách đầy đủ. Trên
cơ sở khái quát nhiều công trình nghiên cứu, bà đã chỉ ra rằng, sự phát triển tự ý
thức diễn ra những giai đoạn giống như các giai đoạn nhận thức của con người về
11
thế giới khách quan – Từ tự cảm giác sơ đẳng đến tự tri giác, tự hình dung ý kiến
và khái niệm về mình.
Tự ý thức không phải là một quá trình độc lập nào đó, tồn tại cùng hoặc
song song với ý thức. Ý thức là một cấp độ phản ánh đặc biệt. Tuy nhiên, không
nên cho rằng, ý thức là một tầng bổ sung nào đó, được xếp trên cấp độ nhận cảm –
và nhận thức.
Có lẽ vấn đề ý thức được thể hiện sáng rõ nhất trong những nghiên cứu của
X.L. Rubinstêin. Dựa trên cơ sở nền tảng triết học Mác – Lênin ông đã luận giải
một cách khoa học vấn đề ý thức và khẳng định vị trí của phạm trù này đối với sự
phát triển của khoa học tâm lý.
X.L.Rubinstêin phê phán tâm lý học nội quan của Wundt, đem đồng nhất
tâm lý với ý thức; coi nhiệm vụ của tâm lý học là nghiên cứu các hiện tượng ý
thức trong khuôn khổ của ý thức cá thể, ý thức đóng kín mà chỉ chủ thể mới hiểu.
Thực chất đây là quan điểm duy tâm, nội quan; lý giải hiện tượng tâm lý trong một
vòng luẩn quẩn không lối thoát. Tâm lý học hành vi thì lại quá đề cao hành vi con
người mà loại bỏ ngay hiện tượng ý thức trong nghiên cứu. Chính vì quan niệm
này mà đồng nhất hành vi con người với con vật, biến hành vi, hoạt động của con
người như một cái máy mà không có sự tham gia, điều chỉnh của ý thức, không
tính đến yếu tố ý thức. Như vậy yếu tố xã hội ở đâu, yếu tố có vai trò gì đối với
hoạt động của con người, chính câu hỏi này đòi hỏi cần phải nghiên cứu tâm lý nói
chung và ý thức nói riêng một cách có hệ thống, khoa học.
Rubinstein viết “kết quả là hoạt động bị mất hết tính chất xã hội và nội
dung tâm lý; từ lĩnh vực xã hội và tâm lý, hoạt động hoàn toàn bị liệt xuống lĩnh
vực sinh lý”. Trong khi thuyết tinh thần thì quá nhấn mạnh yếu tố tinh thần, ý
thức, thì phân tâm học lại không quan tâm đến ý thức, chỉ nghiên cứu lĩnh vực vô
thức. Rõ ràng rằng đây là cuộc khủng hoảng về thế giới quan, phương pháp
luận cũng như xác định đối tượng trong nghiên cứu tâm lý.
13
Một số tác giả khác như K. Buyle và K.N. Coocnhilov với ý định xây
dựng xu hướng tâm lý học mới song họ lại đem gộp những dòng phái tâm lý
học trước đó với mục đích để bổ sung cho nhau. Họ cố ý liên kết cách tiếp cận
đối tượng của cả thuyết nội quan, hành vi và tinh thần; coi chúng như là ba mặt
của cùng một đối tượng thống nhất của tâm lý học. Xu hướng này ngay lập tức
dần dần làm sáng tỏ phạm trù này, tách nó ra khỏi triết học và trở thành đối tượng
của tâm lý học. Quá trình phát triển đó là quá trình đấu tranh gay gắt giữa các
dòng phái tâm lý dẫn đến sự phủ định, bài trừ lẫn nhau trong các nghiên cứu. Song
tựu chung lại, chúng ta có thể thấy những xu hướng nghiên cứu ý thức ngoài mác
xít đều chưa lý giải được một cách khoa học về hiện tượng ý thức, về nguồn gốc,
bản chất của ý thức. Họ thường rơi vào những sai lầm căn bản như quá tuyệt đối
hóa vấn đề ý thức hoặc xem nhẹ, thậm chí loại bỏ ý thức trong nghiên cứu tâm lý;
bên cạnh đó lại có những xu hướng đồng nhất tâm lý với ý thức.
Tâm lý học mác xít ra đời như một đòi hỏi tất yếu trong lịch sử phát
triển của tâm lý học. Trên cơ sở nền tảng triết học Mác – Lênin, phương pháp
luận duy vật biện chứng các các nhà tâm lý học mác xít đã có những lý giải
khoa học, đúng đắn về nguồn gốc, bản chất của ý thức; đồng thời các nhà tâm
lý học mác xít đã đặt phạm trù ý thức trong mối quan hệ với các phạm trù hoạt
động, giao tiếp nhân cách. Đặc biệt trong đó, ý thức cần phải được gắn chặt với
phạm trù hoạt động, nghiên cứu ý thức phải nghiên cứu trong hoạt động và
thông quá hoạt động. Đây chính là quan điểm quyết định luận duy vật trong lý
giải hiện tượng mà các trường phái tâm lý trước đó cho rằng nó là đóng kín, là
không thể hiểu - hiện tượng ý thức.
2. Ý ngĩa của vấn đề trong xây dựng ý thức xã hội mới cho quân nhân hiện nay.
Lý luận về ý thức chỉ ra rằng, trong nghiên cứu ý thức cá nhân cần đặt nó
trong mối quan hệ với ý thức xã hội, vì thực tế cuộc sống chỉ ra rằng, ý thức xã hội
tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tâm lý. Các dạng hình thức khác nhau của ý
15
thức xã hội bằng cách này hay cách khác tham gia vào hệ thống các yếu tố quy
định sự phát triển tâm lý – ý thức cá nhân, ảnh hưởng thực sự lên sự hình thành
thế giới quan, tâm thế xã hội và thái độ cá nhân chủ quan của họ, điều khiển hành
vi cá nhân trong xã hội. Xã hội phát triển tạo ra các cơ quan chuyên môn, có
nhiệm vụ cơ bản là hình thành ý thức cá nhân cũng như ý thức xã hội, đó là hệ
chính là quan tâm đến đời sống vật chất cho người quân nhân. Ý thức luôn bị chi
phối bởi những điều kiện sinh hoạt vật chất, cho nên trên thực tế những biểu hiện
lệch lạc trong đời sống tinh thần đều có nguồn gốc từ đời sống vật chất.
Xây dựng ý thức xã hội mới cũng cần chú ý đến việc kế thừa những giá trị
truyền thống của quân đội, đó không chỉ là sự bảo lưu, giữ gìn các giá trị truyền
thống mà còn tiếp thu chọn lọc các giá trị tinh thần của xã hội cũng như những giá
trị được du nhập từ bên ngoài. Những giá trị truyền thống cốt lõi như trung với
Đảng, hiếu với dân, lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết đùm
bọc giúp đỡ lẫn nhau, tinh thần hy sinh cho sự nghiệp giải tộc, trong điều kiện
hiện nay nó cần được thể hiện ở tinh thần cần cù sáng tạo, ý chí quyết tâm vượt
khó để cải tạo cuộc sống, phát triển kinh tế. Tinh thần đoàn kết cần được thể hiện
sở sự đồng thuận trong giải quyết lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, xóa bỏ mặc
cảm về bản thân, gia đình.
Để quá trình xây dựng ý thức xã hội mới cho người quân nhân đạt hiệu quả
cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, phát huy vai trò của các tổ chức, các
phương tiện thông tin đại chúng trong đơn vị. Trong công tác tư tưởng cần giao
tiếp, lắng nghe tâm tư nguyện vọng và những vướng mắc trong tư tưởng của chiến
sĩ để giải đáp; phát huy vai trò của các tổ chức, phương tiện thông tin đại chúng để
tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, đồng thời đấu tranh với những luận
điệu sai trái của kẻ thù. Cần phải có những phương pháp giao dục tuyên truyền
phù hợp, đặc biệt là sử dụng các phương pháp tâm lý xã hội trong tác động đến
người quân nhân.
17
Xây dựng ý thức xã hội mới cho người quân nhân là quá trình phức tạp nhằm
khắc phục ở người quân nhân những tư tưởng, thói quen, tập quán sinh hoạt lạc
hậu; làm thất bại âm mưu tấn công vào mặt trận tư tưởng của các thế lực thù địch
và kế thừa những giá trị truyền thống tích cực của quân đội và của dân tộc.
Qua đây cũng cần phải khắc phục những biểu hiện của việc coi nhẹ công tác
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A.N. Leonchiev, Hoạt động – ý thức – nhân cách (sách dịch), Nxb Giáo dục, H
1989.
2. A.N. Leonchiev, Một số công trình Tâm lý học, Nxb Giáo dục, H 2003.
3. B. Ph. Lomov, Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học (sách
dịch), Nxb ĐHQG, H 2000.
4. Bản thảo kinh tế - triết học, Nxb Sự thật, H 1962.
5. Các lý thuyết phát triển tâm lý người, Nxb ĐHSP, H 2003.
6. Lịch sử tâm lý học và tâm lý học quân sự, Nxb QĐND, H 2003.
7. Những vấn đề Tâm lý học trong các tác phẩm của C.Mác, HVCTQS, 1984
8. Tâm lý học Liên Xô, Nxb Tiến bộ, H 1978.
9. Tâm lý học, Những cơ sở lý luận và phương pháp luận, HVCTQS, 1984.
10. Tuyển tập Phạm Minh Hạc, Nxb CTQG, H 2006.
20