SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
TRƯỜNG THPT DƯƠNG QUẢNG HÀM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN LUYỆN
PHẦN ĐỌC HIỂU TRONG ĐỀ THI THPT QUỐC GIA
MÔN NGỮ VĂN ĐẠT KẾT QUẢ CAO
Lĩnh vực nghiên cứu : Ngữ văn
Tác giả: Lê Thị Quỳnh Sen
Chức vụ: Tổ trưởng tổ Văn
Tài liệu đính kèm: Quyển phụ lục
Năm học 2015 - 2016
1
Th¸ng 5 n¨m 2010
MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................
I.
Lý
do
B. PHẦN NỘI DUNG..............................................................................
5
I. Cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài...................................................
5
1. Quan niệm về Đọc hiểu .........................................................................
5
2. Văn bản Đọc hiểu..................................................................................
6
3. Vấn đề Đọc hiểu môn Ngữ văn trong nhà trường THPT......................
7
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu..................................................
8
1. Thực trạng nghiên cứu đề Đọc hiểu môn Văn THPT..........................
8
2. Thực trạng đề thi môn Văn có câu hỏi Đọc hiểu..................................
2
C. PHẦN KẾT LUẬN..............................................................................
68
I. Nội dung, ý nghĩa...................................................................................
68
II. Triển vọng của đề tài.............................................................................
69
III. Đề xuất kiến nghị.................................................................................
69
Kèm theo quyển Phụ lục
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
3
CÂU- CỤM TỪ
Trung học phổ thông
Trung học cơ sở
Sách giáo khoa
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015
5.
Thiết kế bài giảng ngữ văn10,11,12 Nguyễn Văn Đường (chủ biên), Nxb Hà
Nội, 2006.
6.
Hệ thống đề mở ngữ văn 11,12, Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), NXB Giáo dục,
2008
7.
Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn, Lê Quang Hưng, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, năm 2016
8.
Trang Web Giáo án Violet.vn
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
Tháng 10/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã
thông qua Nghị quyết 29 - NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Xác định được nhiệm vụ quan trọng đó
nên những năm qua Bộ giáo dục đã không ngừng đưa ra những giải pháp mang tính
cải tiến như: chuẩn bị đổi mới chương trình giáo khoa, đổi mới kiểm tra đánh giá,
2. Cơ sở thực tiễn
Câu hỏi Đọc hiểu là một kiểu dạng khá mới mẻ được đưa vào đề thi THPT
Quốc gia nên chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chương trình
Ngữ văn bậc trung học phổ thông. Dạng này cũng không có nhiều tài liệu, bài viết
6
chuyên sâu để tham khảo. Nó chưa “lộ diện” thành một bài cụ thể trong sách giáo
khoa, hơn nữa kiến thức đọc hiểu nằm rải rác trong chương trình học môn Văn từ
cấp II đến cấp III. Chính vì thế mà không ít giáo viên ôn thi THPT Quốc gia tỏ ra
lúng túng khi hướng dẫn học sinh làm bài. Điều đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến
chất lượng, kết quả bài thi của học sinh.
Đọc hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi THPT
Quốc gia. Phần này tuy không chiếm phần lớn số điểm nhưng lại có vị trí rất quan
trong bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi. Nếu học sinh làm sai
hết phần này thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũng chỉ đạt khoảng
6,0 điểm. Ngược lại nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em sẽ có nhiều cơ hội
đạt điểm văn 7,0 hoặc 8,0. Như vậy phần Đọc hiểu góp phần không nhỏ vào kết
quả thi môn Văn cũng như tạo cơ hội cao hơn cho các em xét tuyển Đại học. Có thể
nói ôn tập và làm tốt phần Đọc hiểu chính là giúp các em gỡ điểm cho bài thi của
mình. Vì vậy việc ôn tập bài bản để các em học sinh lớp 12 làm tốt phần đọc –
hiểu, làm tốt bài thi của mình càng trở nên cấp thiết.
Đối với học sinh trường THPT Dương Quảng Hàm, nhất là lớp 12, đây là
phần kiến thức mà các em đang rất quan tâm, mong muốn được các thầy cô củng
cố để chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia. Hơn nữa, đa phần các thầy cô dạy môn
Văn là giáo viên trẻ tuổi đời, tuổi nghề nên có phần lung túng khi ôn thi phần Đọc
hiểu.
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò của một giáo viên tâm
huyết với nghề, nhiều năm ôn thi Tốt nghiệp, Đại học, đồng thời góp phần tháo gỡ
những khó khăn trên, tôi đã lựa chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm : Hướng dẫn
những kiến thức có liên qua trực tiếp, thường hay gặp trong kì thi THPT Quốc gia
(hay còn gọi là kì thi Tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Cao đẳng, Đại học) :
- Ôn luyện lý thuyết Đọc hiểu: Các phong cách ngôn ngữ, thao tác lập luận,
các biện pháp tu từ, các phương thức biểu đạt, luật thơ, xác định nội dung chính,
viết một đoạn văn ngắn bàn về chủ đề có liên qua đến ngữ liệu đã cho...
8
- Rèn kĩ năng, phương pháp làm câu hỏi Đọc hiểu qua văn bản cụ thể: Văn
bản văn học, văn bản nhật dụng....
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sáng kiến đã sử dụng các phương pháp sau
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra
VI.THỜI GIAN BẮT ĐẦU NGHIÊN CỨU VÀ HOÀN THÀNH ĐỀ TÀI
- Thời gian bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này đã diễn ra từ năm học
2013 -2014. Đề tài được bổ sung 3 năm, qua quá trình dạy chuyên đề, ôn thi THPT
Quốc (ôn thi tốt nghiệp, ôn thi Đại học, Cao đẳng) và đội tuyển học sinh giỏi cấp
tỉnh.
- Báo cáo cấp trường tháng 2 năm 2016 và hoàn thiện tháng 4 năm 2016
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Quan niệm về Đọc hiểu .
Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa. Khái
niệm Đọc hiểu (comprehension reading) có nội hàm khoa học phong phú có nhiều
cấp độ gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận tâm lí học nghệ thuật, lí
học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực
mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến”. Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Thị
Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, khẳng định : “ Đọc hiểu là một hoạt động giao
tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi
những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc
cho mình”
10
Như vậy, Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn
bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh. Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản,
hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các
thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ
thuật. Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuất phát từ đặc thù của
văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề Đọc hiểu văn bản ngày càng được
quan tâm .
2. Văn bản Đọc hiểu
Trong chương trình Ngữ văn của Việt Nam nêu hai loại văn bản để dạy Đọc
hiểu, đó là: Văn bản văn học và văn bản nhật dụng. Trong đó các văn bản được sếp
theo tiến trình lịch sử hoặc theo thể loại. Các văn bản văn học đa dạng hơn các văn
bản nhật dụng. Hai loại văn bản này cũng chính là các ngữ liệu để học sinh khai
thác.
Thực tế cho thấy văn bản Đọc hiểu nói chung và văn bản Đọc hiểu trong
nhà trường nói riêng rất đa dạng và phong phú. Có bao nhiêu loại văn bản trong
cuộc sống thì có bấy nhiêu loại được dạy trong nhà trường. Điều đó cũng có nghĩa
là văn bản Đọc hiểu trong các đề thi rất rộng. Đề thi có thể là văn bản các em đã
được tiếp cận, đã được học, hoặc cũng có thể là văn bản hoàn toàn xa lạ. Từ năm
2014 Bộ GD & ĐT đưa phần Đọc hiểu vào đề thi môn Ngữ văn đã đổi mới kiểm
tra, đánh giá năng lực Đọc hiểu của học sinh. Việc làm này có tác động tích cực đến
báo chí, chính luận, nghệ thuật, hành chính, sinh hoạt)
+ Hiểu đề tài, nhan đề, chủ đề, tóm tắt được các nội dung của văn bản
+ Hiểu các phương thức biểu đạt của văn bản (phương thức tự sự, biểu cảm, thuyết
minh...)
+ Hiểu các thao tác lập luận (thao tác phân tích, bình luận, chứng minh, bác bỏ...)
- Thông hiểu, đánh giá đúng văn bản
+ Cảm nhận được những đặc sắc, nổi bật của văn bản: từ ngữ, hình ảnh,chi tiết
quann trọng, đặc sắc, các biện pháp tu từ...
12
+ Hiểu được ý nghĩa hàm ẩn của văn bản, đánh giá được nội dung, ý nghĩa của văn
bản bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình.
- Vận dụng văn bản để giải quyết một vấn đề cụ thể.
+ Liên hệ mở rộng một vấn đề nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của mình
+ Vận dụng văn bản để trình bày phương hướng, biện pháp giải quyết một vấn đề
cụ thể của cuộc sống, của xã hội.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.Thực trạng nghiên cứu đề Đọc hiểu môn Văn THPT
Ngay từ khi Bộ GD&ĐT thông báo và hướng dẫn ngành các trường THPT
thực hiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong kì thi tốt nghiệp THPT năm
học 2013-2014. Vấn đề Đọc hiểu thu hút sự chú ý của rất nhiều các thầy cô và học
sinh nhất là học sinh lớp 12. Cùng với việc chuyên viên của Bộ GD & ĐT giải đáp
những thắc mắc về hướng ra đề phần Đọc hiểu (liên quan đến phần ngữ pháp,
Tiếng Việt, ngữ liệu chủ yếu lấy phần đọc thêm) thì nhiều thầy cô giáo luyện thi có
nhiều kinh nghiệm cũng đăng trên trang cá nhân của mình những bài ôn tập Đọc
hiểu. Song những hướng dẫn ôn tập đó chưa chi tiết, chưa cụ thể và chưa có tính hệ
thống.
Hội thảo: Đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn ngữ văn ở
2. Thực trạng đề thi môn Văn có câu hỏi Đọc hiểu
Năm học 2013- 2014 Bộ GD& ĐT quyết định đổi mới kiểm tra đánh giá. Đề
thi môn Ngữ văn bắt buộc có thêm phần Đọc hiểu. Trong đề thi Tốt nghiệp THPT
phần Đọc hiểu chiếm 3/10 điểm toàn bài. Trong đề thi Ngữ văn tuyển sinh vào Đại
học, Cao đẳng khối C, D năm 2014, phần Đọc hiểu chiếm 2/10 điểm của toàn bài
thi với 1 văn bản và 3 câu hỏi nhỏ theo các mức độ khác nhau. Xét về mức độ kiến
thức và tương quan thời gian trong toàn bài thi thì cấu trúc phần Đọc - hiểu như thế
là hợp lí.
Năm 2015, Bộ GD & ĐT hợp nhất hai kì thi Tốt nghiệp THPT và tuyển sinh
vào Đại học, Cao đẳng thành một kì thi chung. Từ chỗ có nhiều đề thi Ngữ văn (đề
thi tốt nghiệp THPT; đề thi tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng khối C, D), năm nay
14
chỉ có một đề thi duy nhất vừa lấy điểm để xét tốt nghiệp, vừa lấy điểm để xét vào
Đại học, Cao đẳng.
Phần Đọc hiểu trong đề thi từ chỗ chiếm số điểm 2/10 điểm nay được nâng
lên 3/10 điểm. Nhưng thay vì 1 văn bản với 3 câu hỏi nhỏ như năm 2014, đề thi
năm 2015 ra 2 văn bản khá dài với 8 câu hỏi nhỏ. Đến năm 2016 cấu trúc đề thi
môn văn cũng không có gì thay đổi so với năm học trước.
Như phần đặt vấn đề chúng tôi có giới thiệu, dạng câu hỏi đọc hiểu đã xuất
hiện thường niên trong các kì thi Đại học, Cao đẳng, các kì thi Học sinh giỏi...
Thậm trí trong các nhà trường phổ thông trung học dạng đề này cũng thường xuyên
được các thầy cô sử dụng cho các bài kiểm tra, thường xuyên, định kì. Minh chứng
cho điều này tôi giới thiệu vắn tắt một số câu hỏi thuộc phần Đọc hiểu trong đề thi
học sinh giỏi tỉnh Hưng Yên và trong đề thi THPT Quốc gia (thi tốt nghiệp, Đại
học, Cao đẳng từ năm 2013 đến nay của Sở GD & ĐT Hưng Yên và Bộ giáo dục
đào tạo. (Các đề chỉ trích dẫn phần Đọc hiểu)
* ĐỀ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2014
Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vàng tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn
16
(Đò Lèn - Nguyễn Duy, Ngữ văn lớp 12
Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr.148)
Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:
1. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ. (0,5 điểm)
2. Các từ "lảo đảo", "thập thững" có vai trò gì trong việc thể hiện hình ảnh cô đồng
và người bà (0,5 điểm)
3. Sự vô tâm của cháu và nỗi cơ cực của bà hiện lên qua những hồi ức nào? Người
cháu đã bày tỏ nỗi niềm gì qua những hồi ức đó? (1,0 điểm)
*ĐỀ THI ĐẠI HỌC MÔN NGỮ VĂN KHỐI D – NĂM 2014
Câu I: (2 điểm)
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn
Ngày mai đảo sẽ nhô lên
Tổ quốc Việt Nam, một lần nữa nối liền
Hoàng Sa, Trường Sa
Những quần đảo long lanh như ngọc dát
Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát
Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi
Đảo à, đảo ơi!
Đảo Thuyền Chài, 4 - 1982
(Hát về một hòn đảo - Trần Đăng Khoa, Trường Sa, NXB Văn học, 2014, tr.51)
Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua
những từ ngữ, hình ảnh nào?
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ:
18
Những quần đảo longlanh như ngọc dát.
Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình cảm gì đối với những người lính đảo?
(Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm
vui, nhất là nỗi đau của người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc
bản chất Con - Người của mỗi sinh thể người.Tính “con” và tính “người” luôn
luôn hình thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm
mắt xuôi tay. Cái thiện và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước đi, qua từng
cử chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ,
anh chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào,đồng loại. Trong cuộc hành trình
lâu dài, gian khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận
ra một cách dễ dàng. Mất một đồng xu, một miếng ăn, mất một phần cơ thể, mất
Đồng nàng và lúa ở đồng anh.
Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh
Tôi đợi người yêu đến tự tình
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.
(Nguyễn Bính - Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học. 2011, tr.20)
Đọc bài thơ trên và trả lời những câu hỏi sau:
a. Màu xanh của mùa xuân được nhà thơ khơi gợi qua những hình ảnh nào? Trong
những hình ảnh đó, hình ảnh nào được nhân vật tôi đón đợi nhất?
b.
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng anh.
Cấu trúc của hai câu thơ trên có điểm gì đáng lưu ý? Kiểu cấu trúc ấy có tác dụng
gì?
c. Chỉ ra và nêu hiệu quả của hai biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ
dưới đây:
Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh
20
Tôi đợi người yêu đến tự tình
d. Trình bày ngắn gọn cảm nhận của anh/chị về bức tranh mùa xuân trong bài thơ.
III. ĐỀ XUẤT CÁCH HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN LUYỆN PHẦN ĐỌC
HIỂU ĐẠT KẾT QUẢ CAO
Thực trạng đề thi có dạng câu hỏi Đọc hiểu xuất hiện phong phú như vậy
nhưng trong chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn của trung học phổ thông lại
không có một kiểu bài dạy riêng để hướng dẫn cho thầy cô giáo cũng như các em
học sinh nắm được phương pháp làm dạng đề này một cách hiệu quả nhất. Chính vì
học sinh luyện tập, rèn kĩ năng làm bài. Các câu hỏi thể hiện ở các mức: nhận biết,
thông hiểu, vận dụng. Sau mỗi đề có đáp án để các em đối chiếu, giáo viên sửa bài
cho học sinh.
1. Ôn luyện kiến thức lý thuyết Đọc hiểu.
Đây là một bước không mấy dễ dàng đối với những thầy cô ôn thi THPT
Quốc gia nói chung, đặc biệt là các giáo viên mới ra trường hoặc năm đầu ôn thi
THPT Quốc gia. Vì phần kiến thức lý thuyết liên qua đến dạng câu hỏi Đọc – hiểu
này khá rộng, kiến thức không quy tụ thành một bài, hay ở một khối lớp nào mà
kiến thức đó nằm rải rác từ lớp 6 cho đến lớp 12. Vì vậy giáo viên mất nhiều thời
gian thu thập, thanh lọc, xử lý kiến thức, chia thành các mảng, với các chủ đề cụ
thể cùng các ví dụ tương ứng để hướng dẫn học sinh.
Tháo gỡ khó khăn trên tôi đã nghiên cứu và phân loại kiên thức lý thuyết
có liên quan đến dạng câu hỏi Đọc hiểu để ôn tập cho học sinh. Đặc biệt ở những
phần kiến thức lý thuyết dễ nhầm lẫn tôi kẻ thành bảng kiến thức trọng tâm nhằm
giúp các em học sinh nhận diện đúng từng thể loại, dễ dàng khắc sâu kiến thức. Sau
mỗi phần lý thuyết đều có ví dụ minh họa để học sinh củng cố, kiểm chứng lại lý
thuyết.
1.1.Các loại phong cách ngôn ngữ
a.Phong cách ngôn ngữ khoa học
22
- Khái niệm: là phong cách được dùng trong lĩnh vực nghiên cứu, học tập và phổ
biến khoa học. Ðây là phong cách ngôn ngữ đặc trưng cho các mục đích diễn đạt
chuyên môn sâu.
Phong cách này bao gồm các văn bản: khoa học chuyên sâu, giáo khoa phổ cập.
- Ðặc trưng: có 3 đặc trưng
+Tính trừu tượng- khái quát: Mục đích của khoa học là phát hiện ra các quy luật
tồn tại trong các sự vật, hiện tượng nên phải thông qua trừu tượng hoá, khái quát
phải luôn luôn mới, đa dạng, chính xác và phong phú. Về hình thức: Ngôn ngữ phải
có sức thu hút, lôi cuốn người đọc, đặc biệt là ở các tiêu đề.
c. Phong cách ngôn ngữ chính luận
- Khái niệm: Phong cách chính luận được dùng trong lĩnh vực chính trị xã hội.
Người giao tiếp ở phong cách này thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khai quan
điểm chính trị, tư tưởng của mình đối với những vấn đề thời sự nóng hổi của xã
hội.
- Đặc trưng : có ba đặc trưng
+ Tính công khai về quan điểm chính trị: Người nói, người viết bao giờ cũng bộc lộ
công khai một cách rõ ràng trực tiếp quan điểm, thái độ của mình đối với sự kiện.
+Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận: Ðể bày tỏ chính kiến, giải thích, thuyết
phục và động viên mọi người tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thời sự
nóng hổi của đất nước, sự diễn đạt ở phong cách này đòi hỏi có tính chất lập
thuyết. Một văn bản chính luận hay thường là những văn bản chưá đựng nhiều hàm
ý sâu sắc, có sức chinh phục lòng người, có sức cuốn hút mãnh liệt.
+ Tính truyền cảm và thuyết phục: diễn đạt hùng hồn, sinh động có sức hấp dẫn và
đạt hiệu quả cao, thuyết phục cả bằng lí trí, cả bằng tình cảm, đạo đức.
d. Phong cách ngôn ngữ hành chính.
- Khái niệm : Phong cách hành chính được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực
hành chính. Ðấy là giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ
quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác.
- Đặc trưng: có 3 đặc trưng
24
+ Tính minh xác : Văn bản hành chính viết ra chủ yếu để thực thi vì vậy cần minh
xác. Mỗi từ chỉ có một ý, mỗi câu chỉ có một nghĩa.
+ Tính khuôn mẫu: Văn bản hành chính được soạn thảo theo những khuôn mẫu
nhất định do nhà nước quy định.
+ Tính công vụ: Là tính chất chung của cộng đồng hay tập thể vì vậy những biểu