1
PHẦN MỞ ĐẦU
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định tầm quan trọng của công tác giáo
dục thể chất cho thế hệ trẻ. Nó là mục tiêu cơ bản của quá trình đào tạo toàn
diện, một bộ phận quan trọng của hệ thống quốc dân. Nghị quyết Trung ương
II khóa VIII của Đảng khẳng định mục tiêu của giáo dục và đào tạo là nhằm
tạo ra một lớp người: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức.” Để đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao về sức khỏe và thể chất, cho đội ngũ những người lao động mới,
phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong sự nghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Thể dục, thể thao trong nhà trường vừa là một môn học vừa là một mặt
của giáo dục toàn diện, là một bộ phận của TDTT cho mọi người. Nó bao
gồm giáo dục thể chất bắt buộc (2 tiết một tuần với học sinh phổ thông; từ 90150 tiết/năm học đối với học sinh, sinh viên đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề). Giáo dục thể chất bắt buộc được gọi là giờ thể
dục chính khoá hoặc giờ thể dục nội khoá. Thời lượng như vậy dành cho
GDTC là còn ít so với các nước phát triển, không đủ để giải quyết các nhiệm
vụ của GDTC. Vì thế con đường tất yếu và duy nhất là cần phải đổi mới
phương thức và xây dựng nội dung chương trình giảng dạy môn thể thao tự
chọn sao cho phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.
Một trong những khó khăn của giờ dạy thể dục là phải hình thành được
kỹ năng thực hiện cơ bản và tạo ra sự hứng thú tập luyện trong sinh viên. Môn
thể thao tự chọn được nhiều trường tổ chức giảng dạy cho sinh viên xuyên
suốt các năm học. Nhưng để sinh viên nắm vững cơ sở lý thuyết, nguyên lí kỹ
thuật cơ bản để vận dụng vào các buổi học cũng như ứng dụng trong cuộc
sống là một vấn đề tương đối khó.
2
“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN
TAEKWONDO VÀO HỌC PHẦN TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC TRÀ VINH”.
Mục đích nghiên cứu:
Nhằm xây dựng được chương trình giảng dạy môn học Taekwondo vào
học phần tự chọn cho sinh viên Trường Đại học Trà Vinh, góp phần chuẩn
hóa nội dung giảng dạy, nâng cao thể lực cho sinh viên Trường Đại học Trà
Vinh.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, đề tài giải quyết 3 nhiệm vụ là:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy giáo dục thể chất tại
trường Trường Đại học Trà Vinh.
Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy môn
Taekwondo vào học phần tự chọn cho sinh viên Trường Đại học Trà Vinh.
Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng chương trình giảng
dạy môn Taekwondo vào học phần tự chọn cho sinh viên Trường Đại học Trà
Vinh.
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.
Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về công tác Giáo dục
thể chất và Thể thao trong nhà trường.
Công tác Thể dục thể thao nói chung và Giáo dục thể chất và Thể thao
trường học nói riêng được Đảng và nhà nước ta quan tâm chỉ đạo bằng việc
định: "Nhà nước quản lý thống nhất công tác Thể dục thể thao, quy định các
chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ
phát triển các hình thức tập luyện Thể dục thể thao tự nguyện của nhân dân..."
[11].
Ngay sau khi miền Nam mới vừa được giải phóng, Ban chấp hành
Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 221-CT/TW ngày17 tháng 6 năm 1975
về công tác giáo dục ở miền Nam sau ngày hoàn toàn giải phóng, trong đó
nhấn mạnh:"Nội dung giáo dục phổ thông là toàn diện, bao gồm giáo dục
chính trị và đạo đức cách mạng, giáo dục văn hóa, khoa học, giáo dục kỹ
thuật, giáo dục lao động và giáo dục thể chất" [47].
Tháng 11/1975, Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số
227/CT/TW về công tác Thể dục thể thao trong tình hình mới, đưa ra những
nội dung hoạt động Thể dục thể thao trong điều kiện mới, chỉ đạo công tác
Thể dục thể thao trong nhà trường cần được chú trọng: "Tổ chức tốt việc học
tập thể dục buổi sáng, thể dục trước giờ, giữa giờ cho các trường học. Phát
triển các trò chơi vận động trong thiếu niên và học sinh…" [53].
Trong việc chăm lo cho sự nghiệp giáo dục Ngày 11/01/1979, Bộ
Chính trị ban hành Nghị quyết số 14-NQ-TW về cải cách giáo dục, trong đó
yêu cầu ngành giáo dục đào tạo và Thể dục thể thao phải "Chăm lo xây dựng
thói quen giữ gìn vệ sinh và rèn luyện thân thể của học sinh, đẩy mạnh các
hoạt động Thể dục thể thao, nâng cao chất lượng luyện tập quân sự, chuẩn bị
6
tốt cho học sinh về ý thức và năng lực sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc...".
Nghị quyết cũng nêu rõ đối với các trường phổ thông cơ sở, giáo dục học sinh
ý thức và thói quen giữ gìn vệ sinh và rèn luyện thân thể. Ở trường phổ thông
trung học thì coi trọng giáo dục thẩm mỹ và nghệ thuật, giáo dục và rèn luyện
thể chất, thể dục thể thao và luyện tập quân sự cho học sinh [53].
tại Đại hội nêu rõ: "... Công tác Thể dục thể thao cần coi trọng nâng cao chất
lượng giáo dục thể chất trong trường học..." và "...Xây dựng phong trào toàn
dân rèn luyện thân thể, hoạt động Thể dục thể thao, nhất là trong thanh thiếu
niên" [15].
Tháng 3/1994, Ban Bí thư TW Đảng ra Chỉ thị 36/CT-TW về công tác
Thể dục thể thao trong giai đoạn mới. Chỉ thị đã chỉ rõ bên cạnh những thành
tựu, những tiến bộ đạt được, thì nhìn chung công tác Thể dục thể thao của
nước ta còn ở trình độ rất thấp, trong đó "hiệu quả giáo dục thể chất trong
trường học còn thấp", "Cơ sở vật chất và khoa học kỹ thuật của Thể dục thể
thao vừa thiếu, vừa lạc hậu ngay cả ở các thành phố lớn, các địa bàn tập trung
dân cư, các trường học". Chỉ thị cũng khẳng định: "Mục tiêu cơ bản, lâu dài
của công tác Thể dục thể thao là hình thành nền Thể dục thể thao phát triển và
tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh
thần của nhân dân". Đối với công tác giáo dục thể chất cần phải "Thực hiện
giáo dục thể chất trong tất cả các trường học nhằm mục tiêu làm cho việc tập
luyện Thể dục thể thao trở thành nếp sống hàng ngày của học sinh sinh viên"
[1].
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 tiếp tục
khẳng định: "Giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ phải thực sự trở thành
quốc sách hàng đầu" và "Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh
không những chỉ có con người cường tráng về thể chất chăm lo cho con người
về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội và của tất cả các cấp các ngành, các
đoàn thể" [16].
8
Trong Nghị quyết TW 2 (khóa VIII) về Giáo dục đào tạo và Khoa học
công nghệ, Đảng ta đã xác định: "Thực hiện các nhiệm vụ xây dựng con
người và thế hệ trẻ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
đã dành riêng một mục (mục 2) gồm 6 điều để quy định về công tác giáo dục
thể chất và thể thao trong nhà trường, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước,
Chính phủ và các bộ ngành tăng cường trách nhiệm đối với công tác Thể dục
thể thao nói chung, hoạt động giáo dục thể chất và thể thao trong trường học
nói riêng. Nhằm đưa công tác giáo dục thể chất trong nhà trường trở thành
một bộ phận quan trọng của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, cũng như xác định
đúng đắn về vị trí giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường các cấp [12].
Tại Báo cáo chính trị trình bày tại Đại hội XI của Đảng, đã khẳng định
phát triển, nâng cao chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất
nước. Vì vậy, cần phải “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng
chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; đổi mới chương trình, nội dung, phương
pháp dạy và học” [7].
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng khẳng định: “Đổi mới căn bản là toàn
diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất
lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội
nhập quốc tế”.
Trước hiện trạng sự nghiệp Thể dục thể thao của đất nước nói chung và
công tác Thể dục thể thao trường học nói riêng đang có nhiều bất cập và hạn
chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của đất nước. Tháng 12/2011, Bộ chính trị đã
ban hành Nghị quyết số 08-NQ-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo
bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020, trong phần đánh
giá những tồn tại, hạn chế, Nghị quyết đã chỉ rõ: "Giáo dục thể chất và hoạt
động thể thao trong học sinh, sinh viên chưa thường xuyên và kém hiệu quả".
10
Nghị quyết nêu ra nhiệm vụ: “Cần quan tâm đầu tư đúng mức thể dục thể thao
Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo
cũng rất quan tâm đến công tác giáo dục thể chất và thể thao trong trường học
thông qua các văn bản chỉ đạo như:
Ngày 03 tháng 5 năm 2001, ban hành Quyết định số 14/2001/QĐBGDĐT về Quy chế Giáo dục thể chất và y tế trường học, quy định các hình
thức hoạt động giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường [3].
Theo đó, giờ học nội khóa là giờ học môn thể dục, sức khỏe theo
chương trình quy định của Bộ; còn hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa
được thực hiện theo kế hoạch của nhà trường và các cấp quản lý giáo dục
chương trình chính khoá.
Năm 2006 Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình giáo dục
phổ thông trong đó có môn thể dục chính khóa được tổ chức dạy và học trên
tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân [5].
Ngày 18 tháng 9 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết
định số 53/2008/QĐ-BGDĐT về việc Quy định đánh giá, xếp loại thể lực học
sinh, sinh viên [6].
Ngày 23 tháng 12 năm 2008. Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết
định số 72/2008/QĐ-BGDĐT về việc Quy định tổ chức hoạt động thể thao
ngoại khóa cho học sinh, sinh viên. Nêu rõ những công việc của giáo viên,
cán bộ GDTC: “Đề xuất và trực tiếp tổ chức các hoạt động thể thao ngoại
khoá, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao,... được hưởng chế độ phụ
cấp đặc thù theo quy định hiện hành” [2].
Do vậy, việc nghiên cứu cải tiến công tác quản lý, nội dung, phương
pháp dạy học, hình thức học tập, rèn luyện Thể dục thể thao nội và ngoại khóa
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và thể thao trường học cho sinh
viên là một đòi hỏi cấp thiết và có ý nghĩa rất quan trọng giai đoạn hiện nay.
12
1.2. Cơ sở lý luận về xây dựng chương trình giáo dục
môn học; kế hoạch thực hiện chương trình và điều kiện xét cấp văn bằng” [36].
GS.TS Trần Bá Hoành cho rằng: Chương trình đào tạo phản ánh mối quan
hệ tương tác giữa các thành phần cấu trúc của quá trình đào tạo: mục tiêu, nội
dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá, trong đó mối quan hệ giữa
mục tiêu - nội dung - phương pháp là cốt lõi. Văn bản chương trình đào tạo chứa
đựng những thông tin cần thiết về mục tiêu, nội dung đào tạo, phương pháp tổ
chức hoạt động dạy và học, các phương tiện thiết bị để tiến hành đào tạo, các
hình thức và tiêu chí đánh giá kết quả đào tạo [9].
Như vậy chương trình đào tạo hay chương trình giảng dạy không chỉ
phản ánh nội dung đào tạo mà là một văn bản hay bản thiết kế thể hiện tổng
thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tỏ
chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo.
Theo Luật giáo dục 2005 chương trình giáo dục được quy định theo điều
6 Chương I là: “Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục, quy định
chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp
và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối
với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hay trình độ đào tạo” [4].
Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học, quy
định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học,
phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết
quả giáo dục đối với các môn học, ngành, nghề, trình độ đào tạo của giáo dục
đại học; bảo đảm liên thông với các chương trình giáo dục khác” (Điều 41Luật GD 2005) [39].
Chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng,
trình độ đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời lượng đào tạo, tỷ
lệ phân bổ thời gian giữa các môn học, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập.
14
Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng,trường đại học xác định
cơ bản được xây dựng hay thiết kế chủ yếu từ các môn học theo các lĩnh vực
khoa học tự nhiên, xã hội và kỹ thuật-nghề nghiệp. Ví dụ hiện nay phần lớn các
chưong trình giáo dục ở phổ thông, chuyên nghiệp và đại học là các chưong trình
đuợc thiét kế theo môn học thích hợp với từng bậc học, cấp học và ngành đào
tạo. Các môn học có thể là môn học theo một ngành, lĩnh vực khoa học như Ngữ
văn, Toán,Vật lý, Hoá, Sinh học, hoặc lĩnh vực kỹ thuật như Vẽ kỹ thuật, điện kỹ
thuật, cơ kỹ thuật. Cũng có các môn học tổ hợp như Môn tự nhiên và xã hội ở
Bậc Tiểu học; Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở .v.v. Thông thường các
chương trình môn học sử dụng theo học chế năm học (niên chế ), ở giáo dục phổ
thông là theo các lớp trong từng bậc, cấp học và ở giáo dục nghề nghiệp, giáo
dục đại học là theo từng năm đào tạo. Chương trình môn học có thể được thiết kế
theo các học phần, đơn vị học trình (15 tiết) [22].
1.2.3. Những nguyên tắc xây dựng chương trình [41]
Theo tác giả Đỗ Huân, nguyên tắc xây dựng chương trình luôn được đề
cập đến và được coi là bắt buộc để xác định tính pháp lý của quá trình xây
dựng chương trình. Nguyên tắc có tác dụng định hướng đảm bảo cho việc
thiết kế chương trình mang tính khoa học, thực tiễn. [30]
Xây dựng và thiết kế chương trình có hai loại nguyên tắc: nguyên tắc
cơ bản và nguyên tắc đặc thù.
- Nguyên tắc cơ bản: là nguyên tắc mang tính pháp lý và phổ cập mà
bất cứ một chương trình nào cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt.
- Nguyên tắc đặc thù: là nguyên tắc được cấu trúc nhằm định hướng cụ
thể cho mỗi loại chuyên ngành đào tạo khác nhau.
Ở mỗi loại hình đào tạo khác nhau, chương trình đào tạo được xây dựng
trên nền những nguyên tắc mang tính đặc thù đảm bảo cho chương trình đáp
16
ứng yêu cầu của nghề đào tạo. Tuy nhiên, dù ở cấp độ nào và loại hình nào,
lao động và đặc điểm của nghề đào tạo, cần giải quyết được hai vấn đề cơ bản
của GDTC là trang bị cho sinh viên thể lực chung và thể lực chuyên môn phù
hợp với những ngành nghề đang đào tạo.
- Sắp xếp nội dung chương trình: nội dung chương trình được sắp xếp
phải đảm bảo tính kế thừa, nội dung sau phải kế thừa được kết quả của nội
dung trước, tận dụng tối đa sự chuyển kỹ xảo tốt giữa các hoạt động vận động
trên nền tảng các bài tập đã học. Đối với những môn cơ bản thì giảm thời
lượng để dành cho những môn cốt lõi của chương trình. Lựa chọn nội dung
môn học GDTC phù hợp, đảm bảo đồng bộ giữa phát triển thể lực chung và
thể lực chuyên môn. Ứng dụng có hiệu quả các phương pháp giảng dạy tích
cực, các nguyên tắc cơ bản của GDTC.
Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất:
Khi tiến hành xác định nội dung chương trình môn học GDTC trong
trường cần thể hiện tính thống nhất giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp
giáo dục cho sinh viên. Sự thống nhất của mục tiêu chương trình môn học
GDTC định hướn ngành nghề phải phù hợp với mục tiêu đào tạo sinh viên.
Sự thống nhất được thể hiện ở sự giải quyết hợp lý giữa yêu cầu GDTC nghề
với sự đa dạng về đối tượng, đặc điểm và tính chất của đào tạo. Chương trình
phải phù hợp với những điều kiện thực tiễn của hệ thống các trường, phù hợp
với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, xu thế phát triển của khoa học
công nghệ, của nền sản xuất hiện đại… Chương trình còn phải xuất phát từ
trình độ và năng lực thể chất của người học và những điều kiện đảm bảo thực
thi của chương trình.
Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn:
Xây dựng chương trình và xác định nội dung GDTC cho sinh viên cần
phải căn cứ vào thực tiễn và hoàn cảnh cụ thể của giáo dục nghề nghiệp đất
nước ta. Những yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực của đất nước đối với đội
18
19
phải đảm bảo tính tuần tự, sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ
kiến thức nền tảng đến kiến thức chuyên ngành.
- Ba là, phương pháp giảng dạy: Phương pháp lựa chọn để thực thi
chương trình là sự kết nối mang tính sư phạm giữa nội dung truyền thụ và khả
năng tiếp thu lĩnh hội của người học, đảm bảo cho quá trình nhận thức của tư
duy người học, cần trang bị cho người học nhiều phương pháp tiếp cận khác
nhau, đặc biệt là áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực để người học
được chủ động, sáng tạo, phát huy năng lực tự học, tự chiếm lĩnh tri thức.
- Bốn là, quá trình kiểm tra đánh giá: Quá trình kiểm tra đánh giá luôn
được gắn liền với thực tiễn dạy học, coi việc kiểm tra đánh giá luôn là động lực
thúc đẩy quá trình đào tạo. Phải coi đánh giá là một phương pháp hữu hiệu
mang tính sư phạm cao trong quá trình đào tạo. Tuy vậy, những tiêu chí và tiêu
chuẩn đánh giá phải được xây dựng trên nền tảng những nội dung kiến thức đã
được thiết kế trong chương trình, phải phù hợp với trình độ và năng lực thể
chất, sức khỏe của người học, phải coi việc kiểm tra đánh giá là động lực thúc
đẩy quá trình học tập chứ không phải là áp lực đối với người học [30].
1.3. Đặc điểm, tính chất của môn Taekwondo. [23][37]
Taekwondo là môn thể thao phát triển toàn diện sử dụng cả chân lẫn
tay. Tuy nhiên, trong xu thế hiện nay trên thế giới, khi thi đấu đối kháng, các
VĐV sử dụng đòn chân nhiều nhất. Nó chiếm tới 95% trong khi đòn tay chỉ
chiếm 5% số đòn đánh trong trận đấu. Đôi chân được sử dụng nhiều hơn cả vì
đôi chân mạnh, dài, lợi hại và đạt hiệu quả cao trong thi đấu hơn đôi tay. Xét
xu thế phát triển chung của môn võ Taekwondo thì vận động viên muốn đạt
đuợc trình độ cao phải có kỹ thuật toàn diện tốt nó gồm có kỹ thuật cơ bản, kỹ
thuật thi đấu đỉnh cao đó là các đòn sở trường của từng vận động viên. Các kỹ
thuật trong Taekwondo rất đa dạng và phức tạp bao gồm; di chuyển, tấn công,
phòng thủ, phản công, các hình thức chiến thuật, lối đánh xa, gần, trung bình.
Ban Bí thư TW Đảng (1994), Chỉ thị số 36 - CT/TW của Ban Bí thư,
ngày 24 tháng 3 năm 1994 về công tác TDTT trong giai đoan mới.
2.
Bộ GD&ĐT, Quyết định số 72/2008/QĐ-BGDĐT ngày 23/12/2008 về
ban hành Quy định tổ chức hoạt động thể thao ngoại khỏa cho học sinh,
sinh viên.
3.
Bộ giáo dục và Đào tạo (2001), Quy chế giáo dục thể chất và Y tế thể
thao, ban hành theo Quyết định số 14/2001 ngày 03 tháng 5năm 2001.
4.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Tìm hiểu luật giáo dục 2005, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
5.
Bộ giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông - Môn
thể dục, NXB Giáo dục Việt Nam.
6.
Bộ giáo dục và Đào tạo (2008), Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể
lực học sinh, sinhviên, ban hành kèm theo Quyết định số 53/2008/QĐBGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008.
7.
Hà Nội.
13.
Nguyễn Ngọc Cừ – Dương Nghiệp Chí (2001), Tài liệu nâng cao nghiệp
vụ HLV, Viện khoa học thể dục thể thao.
14.
Đảng cộng sản Việt Nam (1981), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ V, NXB Sự thật, Hà Nội.
15.
Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội.
16.
Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII, NXB Sự thật, Hà Nội.
17.
Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, NXB Sự thật, Hà Nội.
18.
Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
26.
Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (2003), Sinh lý TDTT, NXB Hà Nội.
27.
Trịnh Trung Hiếu – Nguyễn Sĩ Hà (1994), Huấn luyện thể thao, Nxb
TDTT.
28.
Trịnh Trung Hiếu (1997), Lý luận và phương pháp TDTT trong nhà
trường, Nxb TDTT, Hà Nội.
29.
Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thành (1996), Tâm lý học lứa
tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Hà Nội.
30.
Đỗ Huân (1995), Tiếp cận Modun trong xây dựng cấu trúc chương trình
đào tạo nghề, Luận án TS Khoa học giáo dục, Trường ĐH SP Hà Nội.
31.
Trần Thị Thanh Huyền, “Đánh giá hiệu quả của chương trình giảng dạy
môn tự chọn Bóng chuyền cho sinh viên không chuyên trường Đại học
Trà Vinh”, Luận văn thạc sĩ, 2012.
38.
Diên Phong (1999), 130 câu hỏi – trả lời về HLTT hiện đại (Người dịch
PGS.TS Nguyễn Thiệt Tình – PGS.TS Nguyễn Văn Trạch), Nxb TDTT,
Hà Nội.
39.
Quốc hội nước Cộng Hòa xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2005), Luật
giáo dục, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội.B46
40.
Quyền và luật thi đấu quyền Taekwondo – NXB TDTT – 2005.
41.
Hồ Đắc Sơn (2004), “Nâng cao hiệu quả hướng nghiệp của chương
trình giáo dục thể chất cho sinh viên khoa giáo dục tiểu học”, Luận án
Tiến sĩ giáo dục học, Viện Khoa học TDTT, Hà Nội.
42.
Nguyễn Xuân Sinh, Lê Văn Lẫm, Phạm Ngọc Viễn, Lưu Quang Hiệp
(1999), Giáo trình phương pháp NCKH TDTT, NXB TDTT Hà Nội.
43.
Lê Thanh (2004), Giáo trình phương pháp thống kê trong Thể dục thể
trong nhà trường.
49.
Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp và cộng sự (1995),
Lý luận và phương pháp Giáo dục thể chất, NXB Giáo dục Hà Nội.
50.
Nguyễn Toán – Phạm Danh Tốn (2000), Lý luận và phương pháp thể
dục thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội
51.
Trung tâm Từ điển ngôn ngữ - Viện ngôn ngữ (1992), Từ điển tiếng
Việt. Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội.
52.
Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự (2008), Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể
chất sinh viên 19 – 22 tuổi tại TP. Hồ Chí Minh; Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp thành phố, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM.
53.
Ủy ban Thể dục thể thao (1999), Xây dựng và phát triển nền Thể dục thể
thao Việt Nam dân tộc, khoa học và nhân dân, NXB Thể dục thể thao,
Hà Nội.
54.