HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
PHẠM MAI HƯƠNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO TẠI ĐỊA BÀN
VÙNG CAO TÂY BẮC GIAI ĐOẠN 2017-2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, THÁNG 5/2017
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
ĐỀ ÁN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO TẠI ĐỊA BÀN
VÙNG CAO TÂY BẮC GIAI ĐOẠN 2017-2020
Người thực hiện:
Phạm Mai Hương
Lớp CCLLCT :
Cao cấp lý luận chính trị tỉnh Yên Bái
Chức vụ:
MỤC LỤC
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH
ĐBKK
GDP
KHHGĐ
KT-XH
TB&XH
UBND
UNDP
XĐGN
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đặc biệt khó khăn
Tổng sản phẩm quốc nội
Kế hoạch hóa gia đình
Kinh tế - xã hội
Thương binh và xã hội
Ủy ban nhân dân
Phát triển Liên Hiệp quốc
Xóa đói giảm nghèo
1
A. MỞ ĐẦU
Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 12, Nxb.Chính trị quốc gia.
2
Vùng Tây Bắc Việt Nam theo Quyết định số 96-QĐ/TW của Bộ chính trị, quy
định cho Ban Chỉ đạo Tây Bắc chịu trách nhiệm hướng dẫn và giám sát các tỉnh
thuộc khu vực vùng Tây Bắc gồm 8 tỉnh phía Đông Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà
Giang, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Kan, Phú Thọ, Tuyên Quang), 4 tỉnh phía Tây Bắc
(Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu) và 21 huyện phía Tây Thanh Hóa (11
huyện), Nghệ An (10 huyện); vùng cao Tây Bắc có địa hình chia cắt phức tạp, giao
thông đi lại khó khăn, khí khậu thời tiết khắc nghiệt, là nơi sinh sống của nhiều
đồng bào dân tộc thiểu (chiếm tới 63%) và đây cũng là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao
nhất so với các vùng miền khác trong cả nước.
Trong công cuộc phát triển kinh tế, xã hội, Tây Bắc đã nỗ lực cùng với cả
nước xây dựng và triển khai thực hiện nhiều chương trình phát triển kinh tế, xã hội,
hướng tới xóa đói giảm nghèo như: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo,
chương trình 134, 135, 167, Nghị quyết 30a và xây dựng nông thôn mới... Nhờ vậy
mà tỷ lệ hộ nghèo vùng Tây Bắc giảm từ 34,41% năm 2010 xuống còn khoảng 15%
vào cuối 2015, giảm bình quân 3,6 %/năm, vượt mục tiêu đề ra của Chương trình
mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2012-2015 là 1,6%.
Trong những năm gần đây, Tây Bắc đã chú ý thực hiện tốt chính sách giảm
nghèo. Tuy nhiên, Tây Bắc vẫn là “lõi nghèo”của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo hiện nay
cao gấp 3 lần mức bình quân cả nước và tập trung chủ yếu ở các huyện vùng cao.
Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo cao là do nguồn lực hạn chế, người nghèo không
có nhiều cơ hội tiếp cận các dịch vụ sản xuất, ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh;
thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng, do không đủ điều kiện thế chấp; thiếu
thông tin về pháp luật, chính sách, thị trường…Mặc dù các cấp chính quyền và các
đoàn thể xã hội đã quan tâm nhưng kết quả giảm nghèo chưa mang tính bền vững,
nguy cơ tái nghèo cao, sức ỳ để thoát nghèo ở vùng Tây Bắc còn cao, cơ chế thực
- Tổ chức đào tạo tập huấn cho cán bộ thực thi các chính sách giảm nghèo ở
địa phương. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực.
- Tăng cường nguồn lực và cân đối nguồn lực cho chính sách, chương trình
giảm nghèo; ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng các mô hình.
3. Giới hạn của đề án
3.1. Đối tượng của đề án: Đề án tập trung vào chất lượng thực hiện chính
sách giảm nghèo trên địa bàn vùng cao Tây Bắc
3.2. Giới hạn về không gian: Tại địa bàn vùng cao Tây Bắc
3.3. Thời gian thực hiện đề án: Trong giai đoạn 2017- 2020.
B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
4
1. Cơ sở xây dựng đề án
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
* Đói, nghèo đa chiêu; xóa đói, giảm nghèo
- Đói (thiếu đói), theo giác độ xã hội là lâm vào tình trạng thiếu lương thực.
Đó là tình trạng thiếu thốn, khó khăn về đời sống vật chất đến mức nhu cầu thiết
yếu số một để tồn tại (nhu cầu ăn) cũng không thể đáp ứng được. Người bị thiếu đói
thường là do gặp phải hoàn cảnh khó khăn về điều kiện sinh sống, như không có đủ
điều kiện sản xuất, tạo thu nhập; không đủ sức lao động; hoặc gặp phải những sự cố
bất thường như ốm đau, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh…
- Nghèo là ở vào tình trạng không có hoặc có rất ít những gì thuộc yêu cầu tối
thiểu của đời sống vật chất. Người nghèo thường cũng do gặp phải những hoàn
cảnh nêu trên, nhưng mức độ ít gay gắt hơn, nên có thể trang trải được lương thực
cho nhu cầu ăn, không bị đói. Tuy phân chia về mức độ như vậy, nhưng trên thực tế
ranh giới đói, nghèo; thiếu hay không thiếu lương thực cũng rất mong manh. Vì vậy,
Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu thị ra bên
ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật. Quan niệm chung nhất về
“chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc.
Nói đến chất lượng là nói tới hai vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, đó là tổng hợp những phẩm chất, giá trị, những đặc tính tạo nên cái
bản chất của một con người, một sự vật, sự việc;
Thứ hai, những phẩm chất, những đặc tính, những giá trị đó đáp ứng đến đâu
những yêu cầu đã được xác định về con người, sự vật, sự việc đó ở một thời gian và
không gian xác định. Tuy nhiên, những điều này có tính ổn định tương đối, thay đổi do
tác động của những điều kiện chủ quan và khách quan.
* Giảm nghèo: Đó là việc bằng những công cụ, cách thức và biện pháp nhất
định, nhà nước và xã hội trợ giúp cho những người dân trong tình trạng nghèo có
thể thoát khỏi tình trạng nghèo của mình để đảm bảo an sinh xã hội tốt hơn và đám
bảo ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống.”
* Chính sách
Chính sách là những chuẩn tắc trên những lĩnh vực cụ thể nào đó, do Nhà
nước ban hành, được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Bản chất, nội
dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm
1
Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1998, Nxb ĐN, tr 144.
6
vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi chế độ, mỗi quốc gia, mỗi cấp chính
quyền hoặc mỗi tổ chức quản lý. Chính sách đúng vừa phải đảm bảo mục tiêu,
phương hướng đã được xác định trong đường lối, vừa phải phù hợp với điều kiện
thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng địa bàn, từng đối tượng, trong từng giai đoạn cụ
thể. Chính sách đúng sẽ tạo đòn bẩy huy động và phát huy hiệu quả các nguồn lực;
Giai đoạn 2016-2020 chuẩn hộ nghèo và tiêu chí đánh giá được thực hiện theo
Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc
ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020; Thông tư
số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động - TB&XH, hướng dẫn
quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều
áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020.
- Chuẩn nghèo:
Khu vực nông thôn: Là hộ đáp ứng 1 trong 2 tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000
đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên.
Khu vực thành thị: Là hộ đáp ứng 1 trong 2 tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên.
Như vậy có hai tiêu chí xác định hộ nghèo giai đoạn 2016-2020 đó là:
- Tiêu chí thu nhập: Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/ người/ tháng ở khu vực
nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
- Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, gồm 5 dịch vụ: Y
tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin.
(Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số):
Tiếp cận các dịch vụ y tế; Bảo hiểm y tế; Trình độ giáo dục của người lớn; Tình trạng
đi học của trẻ em; Chất lượng nhà ở; Diện tích nhà ở bình quân đầu người; Nguồn
nước sinh hoạt; Hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh; Sử dụng dịch vụ viễn thông; Tài sản phục
vụ tiếp cận thông tin).
1.1.3. Tiêu chí đánh giá chất lượng chính sách giảm nghèo
- Nguồn kinh phí do trung ương bố trí
Với nguồn kinh phí hằng năm bố trí cho xóa đói, giảm nghèo khoảng 600 700 tỷ đồng (bình quân khoảng 100.000 đ/người) khó có thể giúp người nghèo
Đội ngũ cán bộ xóa đói, giảm nghèo có đủ năng lực để thực hiện chương
trình còn thiếu. Hiện nay, phần lớn đội ngũ cán bộ làm công tác xóa đói, giảm
nghèo ở huyện nghèo, xã nghèo vẫn kiêm nhiệm, trong khi chủ yếu các hoạt động
của chương trình được triển khai tại xã. Chưa được đào tạo có hệ thống, khối
lượng công việc nhiều là những lý do khiến họ khó thực hiện tốt nhiệm vụ được
9
giao. Năng lực chuyên môn của cán bộ cấp huyện, xã còn yếu, nhiều cán bộ làm
công tác xóa đói giảm nghèo chưa tốt nghiệp phổ thông trung học. Hơn nữa công
tác xóa đói, giảm nghèo đòi hỏi cán bộ ngoài chuyên môn nghiệp vụ còn phải
nhiệt tình, nhạy bén, sáng tạo để nắm chắc tình hình đói nghèo trên địa bàn.
- Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng sâu, vùng xa
Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng sâu, vùng xa vẫn cao gấp 4 - 5 lần so với mức bình
quân của cả nước. Đa số người nghèo ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ xã hội cơ
bản. Bên cạnh đó, những thành tựu xóa đói giảm nghèo đã đạt được còn thiếu tính
bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao. Nguy cơ dễ bị tổn thương của người nghèo
trước những rủi ro của cuộc sống (ốm đau, thiên tai, mất mùa, biến động thị trường,
môi trường ô nhiễm, mất đi người trụ cột của gia đình, thất nghiệp...) cũng vẫn rất
lớn. Hệ thống an sinh xã hội chưa phát huy tác dụng ở vùng nông thôn, vùng sâu,
vùng xa. Đặc biệt nước ta nằm trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lụt và
80% người nghèo làm việc trong nông nghiệp có thể dẫn đến nguy cơ tái nghèo đói
cao. Mặt khác, có không ít hộ tuy không thuộc diện nghèo đói nhưng mức thu nhập
không ổn định nằm giáp ranh chuẩn nghèo đói cũng có nguy cơ tái đói nghèo.
Ngoài ra, nghèo đói có mối liên quan mật thiết với tình trạng suy thoái môi trường.
Nghèo đói có thể khiến cho nông dân khai thác quá mức nguồn tài nguyên vốn đã
hạn hẹp và càng làm cho nghèo đói trở nên trầm trọng hơn.
- Cơ chế xác định hộ nghèo
Cơ chế xác định hộ nghèo chưa được thực hiện thống nhất ở các địa phương
+ Đối với các khu vực miền núi nghèo nhất cần đưa vào kế hoạch đầu tư tập
trung: Vận động và giao nhiệm vụ cho các đơn vị kinh tế của quân đội; làng kinh tế
thanh niên giúp đồng bào với các hình thức phù hợp, các tổ hợp tác làm kinh tế... và
cần phát huy được vai trò của người dân địa phương tham gia vào quá trình thực
hiện dự án, tạo nên sự liên kết vững chắc giữa chính quyền địa phương, các tổ chức
đoàn thể và người dân... Đây là cơ sở quan trọng để giảm thiểu tình trạng tái nghèo
đang diễn ra tại nhiều địa phương.
+ Cải tiến cơ chế huy động, phân bổ và quản lý nguồn lực theo hướng đa
nguồn, coi trọng tại chỗ của từng địa phương; có chính sách phù hợp để thu hút các
doanh nghiệp đầu tư vào miền núi, nhất là ưu đãi về đất, thuế; kêu gọi sự hỗ trợ của
các nước và các tổ chức quốc tế, tạo lực mạnh về tài chính cho các vùng nghèo.
+ Chính sách trợ cấp vốn, cho vay với lãi suất thấp cho người nghèo, hộ
nghèo. Chính sách này xuất phát từ thực tế là đa số người nghèo, hộ nghèo đang
không có hoặc thiếu vốn để đầu tư, phát triển sản xuất. Hàng năm, đã có hàng chục
11
ngàn tỉ đồng của ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh cho vay theo các chương trình
giảm nghèo.
+ Chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng nghèo. Đây là chính sách đã
được thực hiện dưới hình thức đầu tư theo các Chương trình 134, 135 của Chính
phủ. 3/8 xã nghèo đã được hỗ trợ để xây dựng hoàn thiện các cơ sở hạ tầng như
điện, đường, trường học, trạm y tế, hệ thống cấp nước, hệ thống thông tin liên lạc,
hệ thống dịch vụ thương mại, chợ… tạo điều kiện cho phát triển sản xuất và cho đời
sống. Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng này đã phát huy tác dụng khá tốt trong
giảm nghèo ở nhiều địa phương, nhất là ở các vùng cao, vùng dân tộc ít người đang
sinh sống.
+ Chính sách cung cấp tư liệu sản xuất, cấp đất, cấp công cụ sản xuất và tìm
thị trường cho hộ nghèo, vùng nghèo. Đây cũng là chính sách được Nhà nước Việt
+ Chính sách khuyến khích làm giàu, điều chỉnh phân tầng, khuyến khích các
nhà doanh nghiệp tham gia tạo việc làm và giảm nghèo. Song song với giảm nghèo,
để điều chỉnh phân tầng, Nhà nước Việt Nam đã đưa ra hàng loạt biện pháp khuyến
khích làm giàu, hỗ trợ làm giàu chính đáng thông qua việc thực hiện các chính sách
về đất đai, tài chính, thuế, lao động…Trên cơ sở này, tạo điều kiện cho các nhà
doanh nghiệp, hộ giàu tham gia vào các chương trình giảm nghèo. Đây cũng là
chính sách được thực hiện khá có kết quả nhằm điều chỉnh phân tầng, thực hiện
từng bước công bằng xã hội trong thời gian vừa qua.
+ Phương thức giảm nghèo bền vững cũng ảnh hưởng đến hiệu quả công tác
giảm nghèo. Để thực hiện công tác giảm nghèo hiện nay, Đảng và Nhà nước ta thực
hiện các phương thức sau: Hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt; hỗ trợ di
dân thực hiện định canh, định cư; đầu tư tín dụng; chính sách thuế; hỗ trợ sản xuất; hỗ
trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm; trợ giúp người nghèo tiếp cận với các chính
sách, dịch vụ xã hội.
+ Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng
bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người
nghèo giảm xuống. Nói một cách khác là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo
được nâng lên một mức sống cao hơn. Giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều
kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống
mọi mặt của con người. Giảm nghèo ở nước ta chính là từng bước thực hiện quá
trình chuyển đổi sản xuất cũ, lạc hậu còn tồn đọng trong xã hội sang trình độ sản xuất
mới, cao hơn. Mục tiêu hướng tới là trình độ sản xuất tiên tiến của thời đại. Giảm
nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người có khả năng tiếp cận có nguồn lực của
13
sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ từng
bước thoát khỏi tình trạng nghèo hiện tại.
Muốn tăng hiệu quả công tác giảm nghèo theo hướng bền vững Nhà nước, cơ
14
Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận
phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm đảm bảo an sinh xã hội cơ bản tiếp
cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
-Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200 - 3.500 USD; tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP khoảng 85%
-Đến năm 2020, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng
40%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 - 70%, trong đó có bằng cấp, chứng
chỉ đạt 25%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; có 9 - 10 bác sĩ và trên
26,5 giường bệnh trên 1 vạn dân; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 80% dân số;
tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,0 - 1,5%/năm.
- Nghị quyết Đại hội, đại biểu Đảng bộ nhiệm kỳ 2016-2020 của Tỉnh ủy 14
tỉnh vùng Tây Bắc.
1.2.2 . Cơ sở pháp lý
+ Các văn bản pháp lý của nhà nước về thực hiện giảm nghèo:
- Nghị quyết số 80/NQ-CP, ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm
nghèo bền vững thời kỳ năm 2011 đến năm 2020.
- Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
-Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động TB&XH, hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn
nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020
- Quyết định số 1772/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020.
- Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 06/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng
cường chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn
2016- 2020.
- Quyết định số 551/QĐ-TTg ngày 04/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chương trình 135 về đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt
khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn;
- Đề án số 05-ĐA/TU, ngày 20/1/2016 của Tỉnh ủy Cao Bằng về giảm nghèo
bền vững tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2016 - 2020;
- Quyết định số 1440/2016/QĐ-UBND, ngày 15/11/2016 của UBND tỉnh Điện
Biên về phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững tỉnh Điện Biên giai đoạn
2016-2020;
16
- Quyết định số 31/2016/QĐ-UBND, ngày 01/9/2016 của Ủy ban nhân dân
tỉnh Lai Châu về phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững tỉnh Lai Châu giai
đoạn 2016-2020;
- Quyết định số 278/2016/QĐ-UBND, ngày 14/10/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Sơn La về phê duyệt Đề án giảm nghèo bền vững tỉnh Sơn La giai đoạn 2016-2020;
1.3. Cơ sở thực tiễn
Đảng và Nhà nước ta luôn đặt xoá đói, giảm nghèo là một trong những nhiệm
vụ hàng đầu,mang ý nghĩa kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa nhân văn sâu sắc.
Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân là một ưu tiên quan trọng trong sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Để thực hiện công cuộc XĐGN, Chính phủ đã ban hành các Chương trình mục
tiêu quốc gia về XĐGN liên tiếp trong các kỳ kế hoạch nhà nước 5 năm và đã đạt
được những thành tựu to lớn. Trong đó Vùng Tây Bắc cũng triển khai nhiều chủ
trương, cơ chế, chính sách giảm nghèo đặc thù cho vùng miền núi, vùng dân tộc
thiểu số, tập trung nhiều nguồn lực hỗ trợ cho vùng này như: Chương trình hỗ trợ
giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, chương trình mục tiêu
quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015, chương trình xây dựng nông
thôn mới, đào tạo nghề và còn nhiều chương trình, dự án giảm nghèo do tổ chức
quốc tế tài trợ đã và đang triển khai trên địa bàn vùng...., đã giúp cho tỷ lệ hộ nghèo
bình quân hàng năm của vùng giảm 3-4% và giảm từ 34,58% năm 2010 xuống còn
19,14% vào năm 2015.
trị và xã hội.
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng việc thực hiện chính sách giảm nghèo là một
yêu cầu thực tế khách quan và cấp bách.
2. Nội dung thực hiện đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án
2.1.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến việc thực
hiện chính sách trên địa bàn vùng cao Tây Bắc
2.1.1.1. Về đặc điểm tự nhiên
Vùng Tây Bắc có diện tích tự nhiên 109.411 km 2, dân số trên 10.790 ngàn
người, được phân thành 128 huyện, thị xã; 2.478 xã; 12.148 thôn, bản; trong đó có 9
tỉnh có đường biên với tổng chiều dài trên 2.578 km; có 45 huyện nghèo, chiếm
70,3% tổng số huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Đây là địa bàn
sinh sống của trên 30 dân tộc anh em, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 63%.
Vùng cao Tây Bắc có 1.258 xã, 9.941 thôn bản khu vực III đặc biệt khó khăn
(ĐBKK), chiếm 61% số xã ĐBKK của cả nước và bằng 54% tổng số xã trong vùng
18
Tây Bắc. Hầu hết các xã vùng cao Tây Bắc ở độ cao trên 500m so với mặt nước
biển; nhiều xã ở độ cao trên 1.500m. Đây là địa bàn có địa hình phức tạp, độ dốc
lớn, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao, hiểm trở; xen lẫn là một số thung lũng hẹp.
Điều kiện thời tiết, khí hậu đa dạng, hình thành nhiều tiểu vùng sinh thái: nhiệt đới,
á nhiệt đới, ôn đới. Khí hậu vùng cao Tây Bắc chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ
tháng 11 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc,
thường xảy ra rét đậm, rét hại kéo dài, một số tiểu vùng xuống dưới 0 oC như Sa Pa
(Lào Cai), Sìn Hồ (Lai Châu), Mẫu Sơn (Lạng Sơn)...; mùa mưa từ tháng 4 đến
tháng 10, với tổng lượng mưa từ 1.400 đến 2.000 mm, tập trung chủ yếu từ tháng 7
đến tháng 10. Độ chênh nhiệt độ và thời gian chiếu sáng theo mùa, theo tiểu vùng
khá lớn: các tiểu vùng phía Tây Bắc (Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Tây Thanh Hóa,
Mông”; tệ nạn và tội phạm ma túy phát triển nhanh, chưa được kiềm chế có hiệu
quả; buôn lậu và gian lận thương mại, buôn bán phụ nữ, bắt cóc trẻ em qua biên
giới còn diễn ra ở nhiều nơi; tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép chưa được
quản lý có hiệu quả...
Vùng cao Tây Bắc có lợi thế cho phát triển lâm, nông nghiệp. Phần lớn diện tích
tự nhiên là đất lâm nghiệp. Rừng nguyên sinh vùng cao Tây Bắc trữ lượng còn khá, với
nhiều loại lâm sản chất lượng cao như gỗ, tre nứa, cây ăn quả, dược liệu, động vật
hoang dã… Rừng Tây Bắc có giá trị to lớn trong tạo nguồn thủy năng, điều tiết môi
trường sinh thái, bảo đảm an ninh môi trường cho vùng hạ du Bắc bộ và Bắc Trung bộ.
Vùng cao Tây Bắc có điều kiện cho phát triển chăn nuôi đại gia súc, trồng cây đặc sản,
cây dược liệu, một số cây nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Tài nguyên khoáng sản là tiềm năng lớn, nhiều loại có trữ lượng khá, chất
lượng cao như apatit, pirit, sắt, đồng, ni ken, thiếc…; có nhiều ngành nghề thủ công
truyền tống, tạo điều kiện cho phát triển công nghiệp khai thác và chế biến.
2.1.1.2. Đặc điểm phát triển kinh tế- xã hội
Những năm gần đây, vùng cao Tây Bắc đã đạt được nhiều tiến bộ trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh, quốc phòng. Mặc dù chịu nhiều
tác động của tình trạng suy giảm kinh tế thế giới, giá cả trong nước biến động thất
thường, nhưng với sự hỗ trợ tập trung của Nhà nước và cố gắng nỗ lực của nhân
dân, tình hình kinh tế - xã hội vùng cao Tây Bắc tiếp tục có bước phát triển khá.
Công tác XĐGN trong vùng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
- Kinh tế giữ được thế ổn định và từng bước phát triển. Sản xuất lương thực cơ
bản đáp ứng nhu cầu trên địa bàn; an ninh lương thực được đảm bảo. Cơ cấu cây
trồng, vật nuôi đang từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá; nhiều
20
địa phương tham gia các chương trình phát triển vùng chuyên canh tập trung gắn
với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, như trồng chè, cà phê, cao su… Thế mạnh chăn