Giáo trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

GIÁO TRÌNH
(Lưu hành nội bộ)
HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
(Dành cho Sinh viên ngành Giáo dục chính trị-Hệ chính quy)

Tác giả: Th.S Nguyễn Thị Hương Liên

Năm 2017
1


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU-------------------------------------------------------------------------3
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HĐTNST
1.1. Những khái niệm có liên quan……………………………………………4
1.2. Vai trò, ưu thế, đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo………….12
1.3. Các hình thức của hoạt động trải nghiệm sáng tạo……………………...16
1.4. Phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo…………………..22
CHƯƠNG 2 CÁC BƯỚC THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
SÁNG TẠO
2.1. Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo……………...31
2.2. Đặt tên cho hoạt động…………………………………………………...31
2.3. Xác định mục tiêu của hoạt động……………………………………….31
2.4. Xác định nội dung và hình thức của hoạt động…………………………32
2.5. Chuẩn bị hoạt động……………………………………………………...32
2.6. Lập kế hoạch…………………………………………………………….33
2.7. Thiết kế chi tiết hoạt động………………………………………………34

hình thành và phát triển cho các em những giá trị sống và các năng lực cần
thiết. HĐTNST về cơ bản mang tính chất của hoạt động tập thể trên tinh thần
tự chủ, với sự nỗ lực giáo dục nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính
riêng của mỗi cá nhân trong tập thể.
Tài liệu cung cấp cho sinh viên vai trò của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
đối với định hướng phát triển năng lực người học trong giai đoạn hiện nay;
cung cấp một số hình thức, phương pháp và kỹ thuật tổ chức các hoạt động
trải nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ thông; thiết kế, thực hành và ứng dụng
một số hình thức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong thực tế.

3


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG
TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
1.1. Những khái niệm có liên quan
1.1.1. Hoạt động giáo dục
Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) là những hoạt động có chủ đích, có
kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện thông qua
những cách thức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục tới người học nhằm
thực hiện mục tiêu giáo dục.
Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành của Việt Nam, kế
hoạch giáo dục bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp).
Khái niệm hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình tác động có mục
đích, có hệ thống, liên tục của nhà sư phạm đến toàn bộ cuộc sống của học
sinh để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách. Dùng để chỉ các hoạt
động giáo dục được tổ chức ngoài giờ dạy học các môn học và được sử dụng
cùng với khái niệm hoạt động dạy học các môn học. Như vậy, hoạt động giáo
dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (theo

hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kỹ thuật và kỹ năng, cả những
nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan.
Trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế; là thể thống nhất bao
gồm kiến thức và kỹ năng. Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con
người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
* Trải nghiệm sáng tạo
Khái niệm về “Sáng tạo” hay còn gọi là năng lực sáng tạo (creativity)
được sử dụng đồng nghĩa với nhiều thuật ngữ khác như: sự sáng tạo
(creation), tư duy hay óc sáng tạo (creative thinking), sản phẩm hay nhân cách
sáng tạo (creative product or personality) vv… Các thuật ngữ này điều có liên
quan đến một thuật ngữ gốc Latin “Crear” và mang một nghĩa chung là sự sản
xuất, tạo ra, sinh ra một cái gì đó mà trước đây chưa hề có, chưa tồn tại.
Sáng tạo là biểu hiện của tài năng trong những lĩnh vực đặc biệt nào đó, là
năng lực tiếp thu tri thức, hình thành ý tưởng mới và muốn xác định được
mức độ sáng tạo cần phải phân tích các sản phẩm sáng tạo.
5


Sáng tạo được hiểu là hoạt động của con người nhằm biến đổi thế giới tự
nhiên, xã hội phù hợp với các mục đích và nhu cầu của con người trên cơ sở
các qui luật khách quan của thực tiễn, đây là hoạt động đặc trưng bởi tính
không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất.
Sáng tạo là biểu hiện của tài năng trong những lĩnh vực đặc biệt nào đó, là
năng lực tiếp thu tri thức, hình thành ý tưởng mới và muốn xác định được
mức độ sáng tạo cần phải phân tích các sản phẩm sáng tạo.
Sáng tạo được hiểu là hoạt động của con người nhằm biến đổi thế giới
tự nhiên, xã hội phù hợp với các mục đích và nhu cầu của con người trên cơ
sở các qui luật khách quan của thực tiễn, đây là hoạt động đặc trưng bởi tính
không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất.
Sáng tạo là một thuộc tính nhân cách tồn tại như một tiềm năng ở con

kết quả học tập và phát triển nhận thức bằng sự cân bằng và chuyển đổi liên
tục giữa quá trình Điều tiết và Đồng hóa.
Từ việc kế thừa những ý tưởng cơ bản, D.A. Kolb đã hoàn thiện lý thuyết
về Học tập trải nghiệm với những đặc điểm nổi bật: Thứ nhất: Học tập được
tiếp nhận tốt nhất là trong quá trình chứ không phải là kết quả. Thứ hai: Học
tập là một quá trình liên tục được khởi nguồn từ kinh nghiệm. Thứ ba: Quá
trình học tập đòi hỏi giải pháp cho những sự xung đột về sự thích nghi của các
phương thức đối lập biện chứng về thế giới. Thứ tư: Học tập bao gồm các
tương tác giữa con người với môi trường. Thứ năm: Học tập là quá trình tạo
ra tri thức, là kết quả của các giao dịch giữa các kiến thức xã hội và kiến thức
cá nhân
Như vậy, lý thuyết học tập của Kolb chính là : “ Học tập là quá trình trong
đó kiến thức được tạo ra từ sự chuyển đổi kinh nghiệm” và nó đòi hỏi người
học phải có những phong cách, khả năng học tập riêng phù hợp với chúng.
Mặc dù lý thuyết của D.A. Kolb không tránh khỏi những hạn chế và có những
phản hồi không khả quan từ phía các nhà nghiên cứu như: Rogers, Miettinen,
Vince hay Kelly. Tuy nhiên, D.A.Kolb vẫn nổi lên với tư cách là con người
đã làm thay đổi tư duy giáo dục, đặc biệt là cụ thể hóa tư tưởng lấy học sinh
làm trung tâm của J. Deway
Ở Việt NamTheo Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa
giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã nêu: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
7


bản chất là những hoạt động giáo dục (HĐGD) nhằm hình thành và phát triển
cho HS những phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị, kỹ năng (KN) sống
và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại. Nội dung của
HĐ TNST được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành
các chủ điểm mang tính chất mở. Hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng,
phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối

đã học và áp dụng trong thực tế đời sống đối với một đơn vị (một phần kiến
thức) nào đó, giúp học sinh phát hiện, hình thành, củng cố kiến thức một cách
sáng tạo và hiệu quả. Các hoạt động này được thực hiện trong lớp học, ở
trường, ở nhà hay tại bất kỳ địa điểm nào phù hợp.
* So sánh HĐTNST và hoạt động giáo dục NGLL.

* Vị trí, vai
trò

Hoạt động TNST

Hoạt động GDNGLL

- Là một bộ phận của chương

- Là một bộ phận của chương

trình; Có quan hệ chặt chẽ với hoạt trình; Có quan hệ chặt chẽ với
động dạy học.

hoạt động dạy học.

- Gắn lí thuyết với thực tiển.

- Gắn lí thuyết với thực tiển.

- Phát triển phẩm chất nhân

- Phát triển nhân cách toàn



hội; tích cực tham gia hoạt động
tập thể, lựa chọn nghề nghiệp
tương lai…

Nội dung

5 lĩnh vực nội dung:

6 mạch nội dung;

- Giá trị sống, kỹ năng sống.

- Giáo dục truyền thống.

- Quê hương đất nước và hoà

- Ý thức học tập.

bình thế giới.

- Tổ quốc, Đảng, Đoàn…

- Gia đình và nhà trường.

- Tình bạn, tình yêu, gia đình.

- Nghề nghiệp.

- Hoà bình, hữu nghị và hợp

hình
tổ chức

Một chương trình chung cho



- Hình thức giống nhau.

- Hình thức giống nhau.

- PP: Thiết kế nhiệm vụ rõ

- Hướng dẫn hoạt động

thức ràng hướng tới mục tiêu hình chung, phát huy vai trò chủ thể
thành các năng lực cụ thể.

của học sinh trong hoạt động.

10


Đánh giá

- Đánh giá năng lực cụ thể

- Đánh giá sự phát triển về

thông qua các chỉ số hành vi và nhận thức, kĩ năng, thái độ; Thực

hs nâng cao mức độ năng lực trên
đường phát triển.
- Là điều kiện cần của đánh
giá xếp loại ntoàn diện hs để xét
lên lớp , chuyển cấp và xét tuyển
cho những hoạt động đặc thù…

Qua bảng phân tích trên, chúng ta thấy 2 hoạt động này có vị trí, vai trò
và hình thức tổ chức khá thống nhất. Tuy nhiên sự khác nhau cơ bản ở chỗ là
trong hoạt động TNST, mục tiêu được diễn đạt dứơi dạng năng lực và các
năng lực này được đánh giá thông qua phương pháp và công cụ chuyên biệt;
cách thức tổ chức hoạt động phải làm sao để 100% hs tham gia trong các hoạt
động bắt buộc và được tự chọn tham gia những nội dung mình yêu thích; từng
cá nhân phải được đánh giá và xếp loại với minh chứng là hồ sơ về quá trình
11


hoạt động ( giống như kết quả học tập) và kết quả đánh giá được sử dụng cho
việc xếp loại hay xét tuyển…
1.2. Vai trò, ưu thế, đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
1.2.1. Vai trò, ưu thế
- Bộ phận quan trọng của chương trình GD
- Con đường quan trọng để gắn học với hành, lý thuyết với thực tiễn
- Hình thành, phát triển nhân cách hài hòa và toàn diện cho HS
- Điều chỉnh và định hướng cho hoạt động dạy – học
* So sánh hoạt động dạy học và hoạt động TNST

Mục đích

Hoạt động dạy học


phát triển trí tuệ, nhận hình thành niềm tin, chuẩn mực, lý tưởng,
thức: hình thành các biểu động cơ, nguyên tắc hành vi, lối sống.
tượng, khái niệm, định
luật, lý thuyết, các kỹ năng,
kỹ xảo…

12


Đối
tượng

Hệ thống khái niệm.

Hệ thống giá trị chuẩn mực

Hệ thống trí thức, kĩ

Hệ thống các chuẩn mực xã hội

năng, kĩ xảo, được quy

(các định hướng giá trị về đạo đức,

định chặt chẽ, phù hợp văn hoá thẩm mĩ…), có tính không chắc
lôgíc nhận thức, tuân theo chắn, chủ yếu dựa theo nhu cầu xã hội,
một chương trình, kế hoạch nguyện vọng và hứng thú của đối tượng.
dạy học nhằm đạt được
một mục tiêu giáo dục xác

Nhóm/nội dung GD

Hệ thống bài lên lớp

Các sinh hoạt tập thể, hoạt động xã

thức

chủ yếu

(theo

thời

khoá

biểu), hội, tham quan, lao động công ích, các

xemina, thực hành, thí sinh hoạt thường nhật…
nghiệm…
Không gian

Phòng học là chủ yếu

Ngoài lớp học thông thường, trong
nhà máy, trong cuộc sống XH…

Phương thức

Truyền đạt, phân tích,

13


của thực tiễn
Kiểm

tra

đánh giá

Chủ yếu đánh giá các

Nhấn mạnh đến kinh nghiệm, thái độ

kiến thức khoa học học thực hiện, tính trải nghiệm, cảm xúc, giá
được đã được vận dụng trị, niềm tin, thói quen…
như thế nào vào thực tiễn.

- Thường sử dụng đánh giá định tính.

Thường sử dụng đánh
giá định lượng
Quản lý

Người lãnh đạo quá

Người lãnh đạo là đại diện của tập thể

trình dạy học chủ yếu là hs, đoàn thể và gia đình, của giáo viên
giáo viên bộ môn.

Đó là một quá trình trong đó chủ thể (học sinh) trực tiếp tham gia vào các loại
hình hoạt động và giao lưu phong phú, đa dạng, học sinh tự biến đổi mình, tự
làm phong phú mình bằ̀ng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường
xung quanh. Quan niệm này làm vai trò̀ của người thầy phải thay đổi: hỗ trợ,
hướng dẫ̃n, trọng tài, cố vấn nhằ̀m phát huy cao độ tính năng động chủ quan
của người học. Dạy - Học này là Dạy - Học hợp tác.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp học sinh trong quá trình trải nghiệm
thể hiện được giá trị của bản thân mình, thiết lập được các quan hệ giữa cá
nhân với tập thể, với các cá nhân khác, với môi trường học và môi trường
sống. Sự trải nghiệm có ý nghĩ̃a sẽ huy động tổng thể các giá trị của cá nhân
từ cảm xúc đến ý thức và hành động. Sự trải nghiệm huy động toàn bộ năng
lực hành động, sự liên kết trách nhiệm của bản thân với xã hội.
Quá trình học tập qua trải nghiệm có thể quan sát trực tiếp được qua hành
vi của người học và qua sản phẩm của quá trình học. Hành vi mong đợi của
người học có thể được quan sát trực tiếp qua quá trình học, qua sự tiến triển
thường xuyên và qua hành vi cụ thể ở cuối các quá trình học.
Các hoạt động trải nghiệm trong nhà trường là sự hiểu biết của con người
không phải tạo ra một bản sao thực tế mà phải hành động để “chế biến” và
biến đổi thực tế mà họ quan sát được.
Môi trường học tập tương tác trong đó có sự gắn kết giữa nhận thức với
cảm xúc xã̃ hội và hành vi của người học trong những tình huống học tập
sống động. Quá trình học tập được diễn ra sôi động và có ý nghĩ̃a trong môi
trường học tập, có sự tương tác, người học có thể học tập lẫ̃n nhau, người này
có thể học tập kinh nghiệm của người khác, giá trị của mỗi cá nhân đều được
thể hiện và được điều chỉnh để thích ứng và điều phối với nhau, với môi
trường học.
Trong quá trình người học trải nghiệm và hoạt động, một lượng lớn thông
tin có thể được truyền qua lại với nhau trong môi trường kiến tạo xã hội, các
15


* Trò chơi (lớn)
16


Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần
nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung,
đối với học sinh nói riêng. Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui
chơi với nội dung kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo
dục “chơi mà học, học mà chơi”.
Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của
HĐTNST như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp
và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố
những tri thức đã được tiếp nhận,… Trò chơi giúp phát huy tính sáng tạo, hấp
dẫn và gây hứng thú cho học sinh; giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới;
giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu
không khí thân thiện; tạo cho các em tác phong nhanh nhẹn,…
Ngoài ra, còn có hoạt động thực tế, thực địa, cắm trại.
1.3.2. Hình thức có tính Thể nghiệm
* Diễn đàn
Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự
tham gia của học sinh thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến
của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và những
người lớn khác có liên quan. Diễn đàn là một trong những hình thức tổ chức
mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực. Thông qua diễn đàn, học sinh có cơ hội
bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình về
một vấn đề nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng của các
em. Đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập lẫn nhau. Vì
vậy, diễn đàn như một sân chơi tạo điều kiện để học sinh được biểu đạt ý kiến
của mình một cách trực tiếp với đông đảo bạn bè và những người khác. Diễn
đàn thường được tổ chức rất linh hoạt, phong phú và đa dạng với những hình

- Phải có sự trao đổi thông tin, tình cảm hết sức trung thực, chân thành và
sôi nổi giữa học sinh với người được giao lưu. Những vấn đề trao đổi phải
thiết thực, liên quan đến lợi ích và hứng thú của học sinh, đáp ứng nhu cầu
của các em.
Với những đặc trưng trên, hoạt động giao lưu rất phù hợp với các
HĐTNST theo chủ đề. Hoạt động giao lưu dễ dàng được tổ chức trong mọi
điều kiện của lớp, của trường.
18


* Hội thi
Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn,
lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện
và định hướng giá trị cho tuổi trẻ. Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá
nhân, nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục
tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc. Chính vì vậy, tổ
chức hội thi cho học sinh là một yêu cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường,
của giáo viên trong quá trình tổ chức HĐTNST.
Mục đích tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn học sinh tham gia một
cách chủ động, tích cực vào các hoạt động giáo dục của nhà trường; đáp ứng
nhu cầu về vui chơi giải trí cho học sinh; thu hút tài năng và sự sáng tạo của
học sinh; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh,
góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú
trong quá trình nhận thức. Hội thi/cuộc thi có thể được thực hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau như: Thi vẽ, thi viết, thi tìm hiểu, thi đố vui, thi giải ô
chữ, thi tiểu phẩm, thi thời trang, thi kể chuyện, thi chụp ảnh, thi kể chuyện
theo tranh, thi sáng tác bài hát, hội thi học tập, hội thi thời trang, hội thi học
sinh thanh lịch,… có nội dung giáo dục về một chủ đề nào đó. Nội dung của
hội thi rất phong phú, bất cứ nội dung giáo dục nào cũng có thể được tổ chức
dưới hình thức hội thi/cuộc thi. Điều quan trọng khi tổ chức hội thi là phải

tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ
thuật; quyền được tự do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin,…
Thộng qua hoạt động của các CLB, nhà giáo dục hiểu và quan tâm hơn đến
nhu cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em. CLB hoạt động theo
nguyên tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch sinh hoạt định kì và có thể được tổ
chức với nhiều lĩnh vực khác nhau như: CLB học thuật; CLB thể dục thể
thao; CLB văn hóa nghệ thuật; CLB võ thuật; CLB hoạt động thực tế; CLB
trò chơi dân gian…
Ngoài ra còn có hoạt động dự án, nghiên cứu khoa học
1.3.4. Hình thức có tính Cống hiến xã hội
* Hoạt động nhân đạo
Hoạt động nhân đạo là hoạt động tác động đến trái tim, tình cảm, sự đồng
cảm của học sinh trước những con người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
20


Thông qua hoạt động nhân đạo, học sinh biết thêm những hoàn cảnh khó khăn
của người nghèo, người nhiễm chất độc da cam, trẻ em mồ côi, người tàn tật,
khuyết tật, người già cô đơn không nơi nương tựa, người có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn, những đối tượng dễ bị tổn thương trong cuộc sống,… để kịp
thời giúp đỡ, giúp họ từng bước khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống,
vươn lên hòa nhập với cộng đồng. Hoạt động nhân đạo giúp các em học sinh
được chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm và giá trị vật chất của mình với những
thành viên trong cộng đồng, giúp các em biết quan tâm hơn đến những người
xung quanh từ đó giáo dục các giá trị cho học sinh như: tiết kiệm, tôn trọng,
chia sẻ, cảm thông, yêu thương, trách nhiệm, hạnh phúc,… Hoạt động nhân
đạo trong trường phổ thông được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
như: Hiến máu nhân đạo; Xây dựng quỹ ủng hộ các bạn thuộc gia đình nghèo,
có hoàn cảnh khó khăn; Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam;
Quyên góp cho trẻ em mổ tim trong chương trình “Trái tim cho em”; Quyên

pháp tổ chức HĐ TNST phải đa dạng, linh hoạt, HS tự hoạt động, trải nghiệm
là chính.
Ở đây có 4 phương pháp chính, đó là:
1.4.1. Phương pháp giải quyết vấn đề (GQVĐ)
GQVĐ là một phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực tư duy, sáng
tạo, GQVĐ của HS. Các em được đặt trong tình huống có vấn đề, thông qua việc
GQVĐ giúp HS lĩnh hội tri thức, KN và phương pháp.
Trong tổ chức HĐ TNST, phương pháp GQVĐ thường được vận dụng khi
HS phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc
nảy sinh trong quá trình hoạt động.
Phương pháp GQVĐ có ý nghĩa quan trọng, phát huy tính tích cực, sáng tạo
của HS, giúp các em có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc
nảy sinh trong hoạt động, cuộc sống hàng ngày. Để phương pháp này thành
công thì vấn đề đưa ra phải sát với mục tiêu hoạt động, kích thích HS tích cực
tìm tòi cách giải quyết. Đối với tập thể lớp, khi GQVĐ GV phải coi trọng
nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng không có lợi khi giáo
dục HS.
Phương pháp trên được tiến hành theo các bước cụ thể như sau:
Bước 1: Nhận biết vấn đề
22


Trong bước này GV cần phân tích tình huống đặt ra giúp HS nhận biết
được vấn đề để đạt yêu cầu, mục đích đặt ra. Do đó, vấn đề ở đây cần được
trình bày rõ ràng, dễ hiểu đối với HS.
Bước 2: Tìm phương án giải quyết
Để tìm ra các phương án GQVĐ, HS cần so sánh, liên hệ với cách GQVĐ
tương tự hay kinh nghiệm đã có cũng như tìm phương án giải quyết mới. Các
phương án giải quyết đã tìm ra cần được sắp xếp, hệ thống hóa để xử lí ở giai
đoạn tiếp theo. Khi có khó khăn hoặc không tìm được phương án giải quyết

Về mặt tâm lý học, thông qua các hành vi, cá nhân nhận thức và giải
quyết tốt hơn vấn đề của bản thân, vai trò lĩnh hội được trong quá trình sắm
vai cho phép HS thích ứng với cuộc sống tốt hơn. Trong trò chơi cũng như
trong cuộc sống, các em mong muốn có được một vai yêu thích, khi sắm một
vai HS bước ra từ chính bản thân mình. Điều này trở thành phương tiện để thể
hiện niềm vui, nỗi buồn, mối quan tâm, băn khoăn, mong muốn được chia sẻ,
sự do dự, ngập ngừng,... của chính các em. Thông qua các vai được sắm trong
trò chơi, HS thể hiện các khía cạnh khác nhau trong tính cách như: sự ưa
thích, tình cảm, sự hiểu biết về nhân vật mà các em đang sắm vai đó và những
người bạn đang chơi cùng với hành động của chúng là điều đặc biệt quan
trọng, có ý nghĩa nhiều mặt đối với HS.
Phương pháp sắm vai được tiến hành theo các bước nhất định bao gồm:
- Nêu tình huống sắm vai (phù hợp với chủ đề hoạt động; phải là tình
huống mở; phù hợp với trình độ HS).
- Cử nhóm chuẩn bị vai diễn (có thể chuẩn bị trước khi tiến hành họat
động): yêu cầu nhóm sắm vai xây dựng kịch bản thể hiện tình huống sao cho
sinh động, hấp dẫn, mang tính sân khấu nhưng không đưa ra lời giải hay
cách giải quyết tình huống. Kết thúc sắm vai là một kết cục mở để mọi người thảo
luận.
- Thảo luận sau khi sắm vai: khi sắm vai kết thúc, người dẫn chương trình
đưa ra các câu hỏi có liên quan để HS thảo luận. Ví dụ, trong tình huống trên
câu hỏi thảo luận có thể là: 1) Bạn hiểu thế nào là tình yêu?. Tình yêu khác gì
so với tình bạn khác giới?. 2) Tình cảm của bạn trong tình huống trên đã thực
sự là tình yêu chưa?. 3) Có nên yêu ở tuổi học trò không?. Vì sao?,...
24


- Thống nhất và chốt lại các ý kiến sau khi thảo luận.
1.4.3. Phương pháp trò chơi
Trò chơi là tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những hành

Trích đoạn Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status