TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON
BÀI GIẢNG
(Lưu hành nội bộ)
TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
(Dành cho sinh viên ngành ĐHGD Mầm non)
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Vân
Nguyễn Thị Diễm Hằng
1
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1. TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC ....................................................4
1.1. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, VỊ TRÍ VÀ Ý NGHĨA CỦA TÂM LÝ HỌC ...............4
1.2. BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ............8
1.3. CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÝ .................11
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA TÂM LÝ NGƯỜI.....................15
2.1. CƠ SỞ TỰ NHIÊN ................................................................................................15
2.2. CƠ SỞ XÃ HỘI .....................................................................................................18
CHƯƠNG 3. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ, Ý THỨC ..................22
3.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ...................................................22
3.2. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN Ý THỨC...................................................23
CHƯƠNG 4. NHẬN THỨC CẢM TÍNH.....................................................................27
4.1. CẢM GIÁC ...........................................................................................................27
4.2. TRI GIÁC ..............................................................................................................29
CHƯƠNG 5. NHẬN THỨC LÝ TÍNH..........................................................................33
CHƯƠNG 1. TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC
1.1. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, VỊ TRÍ VÀ Ý NGHĨA CỦA TÂM LÝ HỌC
1.1.1. Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển tâm lý học
1.1.1.1. Những tư tưởng tâm lý học cổ đại
Loài người xuất hiện trên trái đất khoảng 10 vạn năm trước đây. Lúc đó con người đã
có trí khôn, có lý trí tuy còn mới sơ khai, mông muội.
Trong các di chỉ của người nguyên thủy người ta thấy những bằng chứng chứng tỏ đã
có những quan niệm về cuộc sống của "hồn ", "phách" sau cái chết của thể xác.
Khổng Tử (551 - 479 TCN) đã nói đến chữ "tâm" của con người là "nhân, trí, dũng", về
sau học trò của ông đã nêu thành "nhân, lễ, nghĩa, trí, tín".
Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Xocrat (469 - 399 TCN) đã có câu châm ngôn nổi tiếng:
"Hãy tự biết mình". Đây là một định hướng có giá trị lớn cho tâm lý học: con người có thể
tự hiểu biết mình, tự nhận thức, tự ý thức về cái ta.
Người đầu tiên "Bàn về tâm hồn" là Arixtot (384 - 322 TCN), ông cho rằng tâm hồn
gắn liền với thể xác, tâm hồn có 3 loại:
- Tâm hồn thực vật (“tâm hồn dinh dưỡng”): thực hiện chức năng dinh dưỡng, có chung cả
người và động vật.
- Tâm hồn động vật (“tâm hồn cảm giác”): thực hiện chức năng cảm giác, vận động, có
chung cả người và động vật.
- Tâm hồn trí tuệ (“tâm hồn suy nghĩ”): chỉ có ở con người
Đối lập với quan điểm của nhà triết học duy tâm cổ đại Platon (428 - 348 TCN), Arixtôt
cho rằng: tâm hồn là cái có trước, thực tại có sau, tâm hồn do thượng đế sinh ra, tâm hồn trí
tuệ nằm trong đầu và chỉ có ở giai cấp chủ nô, tâm hồn dũng cảm nằm ở ngực và chỉ có ở
tầng lớp quý tộc, tâm hồn khát vọng nằm ở bụng và chỉ có ở tầng lớp nô lệ.
Đối lập với quan điểm duy tâm thời cổ đại về tâm hồn là quan điểm của các nhà triết
học duy vật (Talet, Anaximen, Heraclit, Đêmocrit...) cho rằng: tâm lý, tâm hồn cũng như
vạn vật đều được cấu tạo từ vật chất như: nước, lửa, không khí, đất hay tâm hồn do nguyên
tử cấu thành, trong đó “nguyên tử lửa” là nhân tố tạo nên tâm lý. Đây chính là cơ sở thuyết
ngũ hành coi kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tạo nên vạn vật trong đó có cả tâm hồn.
Các quan điểm duy tâm và duy vật luôn đấu tranh mãnh liệt xung quanh mối quan hệ
Năm 1879 nhà tâm lý học Đức V.Wundt (1832 - 1920) đã thành lập
phòng thí nghiệm tâm lý học đâu tiên trên thế giới ở Laixic (Đức) và một
năm sau nó đã trở thành viện tâm lý học đầu tiên trên thế giới, xuất bản
các tạp chí tâm lý học. Sự kiện này đánh dấu tâm lý trở thành một khoa
học độc lập.
(V.Wundt)
Để góp phần tấn công vào chủ nghĩa duy tâm, đầu thế kỷ XX các dòng phái tâm lý học
lần lượt ra đời đã đánh dấu những bước ngoặt phát triển quan trọng của tâm lý học.
1.1.2. Các quan điểm cơ bản trong tâm lý học hiện đại
1.1.2.1. Tâm lý học hành vi
Do nhà tâm lý học Mỹ J.Watsơn (1878 - 1858) sáng lập. Theo ông, tâm lý
học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành
vi của cơ thể. Ở con người cũng như động vật, hành vi là tổng số các cử
động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó.
Toàn bộ hành vi, phản ứng của cơ thể nhằm đáp lại kích thích ngoại giới
đều thể hiện bằng công thức:
S
R
(J.Watsơn)
(Kích thích)
(Phản ứng)
Với công thức trên, Watson đã nêu lên một quan điểm tiến bộ trong tâm lý học đó là coi
hành vi là do ngoại cảnh quyết định, hành vi có thể quan sát được, nghiên cứu được một
cách khách quan, từ đó có thể điều khiển hành vi theo phương pháp “thử - sai”. Tuy nhiên,
sai lầm của thuyết hành vi là đã quan niệm một cách cơ học, máy móc về hành vi, đem
đánh đồng hành vi con người với con vật, coi hành vi chỉ là những phản ứng máy móc
nhằm đáp lại kích thích ngoại giới giúp cơ thể thích nghi với môi trường xung quanh. Chủ
nghĩa hành vi đã đồng nhất phản ứng với nội dung tâm lý bên trong làm mất tính chủ thể,
tính xã hội của tâm lý con người.
1.1.2. 4. Tâm lý học nhân văn
Do C. Rogers (1902-1987) và H. Maslow sáng lập. Hai ông cho rằng: Bản
chất con người vốn tốt đẹp, có lòng vị tha, có tiềm năng kỳ diệu.
Maslow đã nêu lên 5 mức độ nhu cầu cơ bản của con người xếp theo thứ
tự từ thấp đến cao (tháp nhu cầu):
(C. Rogers )
- Nhu cầu sinh lý cơ bản
- Nhu cầu an toàn
- Nhu cầu quan hệ xã hội
- Nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ
- Nhu cầu phát huy bản ngã, thành đạt.
(H. Maslow )
C. Rogers cho rằng con người cần đối xử với nhau cởi mở và tế nhị, thông cảm và chia
sẻ. Tâm lý học cần giúp con người tìm được bản ngã đích thực của mình để sống thoải mái,
hồn nhiên và sáng tạo. Tuy nhiên, tâm lý học nhân văn đề cao những cảm nghiệm, thế
nghiệm chủ quan của mỗi người, tách con người khỏi các mối quan hệ xã hội, chỉ chú ý
đến mặt nhân văn trừu tượng trong con người vì thế thiếu vắng con người trong hoạt động
thực tiễn.
1.1.2.5. Tâm lý học nhận thức
Do J. Piaget (Thuỵ Sĩ) và G. Bruner (Mỹ) sáng lập. Tâm lý học nhận thức coi hoạt động
nhận thức là đối tượng nghiên cứu của mình. Họ nghiên cứu tâm lý, nhận thức của con
người trong mối quan hệ với môi trường, với cơ thể và với não bộ.
J. Piaget
Họ đã phát hiện ra nhiều sự kiện khoa học có giá trị về nhận thức, khả
năng tri giác, trí nhớ, ngôn ngữ, tư duy... của con người, xây dựng được
nhiều phương pháp nghiên cứu tâm lí học. Song dòng phái này cũng có
tượng, đều hoà quyện đan xen vào nhau khó tách bạch ra được, song dù nó trừu tượng đến
đâu cũng được bộc lộ thể hiện qua hành vi, cử chỉ, cách nói năng, đi đứng của con người từ
đó ta có thể nhận thức được nó.
Tâm lý học là nơi hội tụ nhiều khoa học nghiên cứu về con người. Nó là khoa học trung
gian giữa tự nhiên - xã hội và triết học... Đối tượng nghiên cứu là những hiện tượng tinh
thần, nhưng nó không tồn tại lơ lửng, trừu tượng, phi vật chất mà nó gắn liền với hiện
tượng sinh lý thần kinh, cũng như các quá trình sinh lý hoá khác trên não và được thể hiện
qua hệ thống một hành vi hoạt động của con người. Mặt khác, tâm lý có nội dung bản chất
xã hội lịch sử và bị chế ước bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, mang tính xã hội
lịch sử. Tâm lý học là sự hội tụ, giao thoa của nhiều khoa học, nó là bông hoa lưỡng tính, sự
phát triển tâm lý học là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc thành tựu của các khoa học khác nhau.
Tâm lý học là một bộ môn khoa học cơ bản trong hệ thống các khoa học về con người.
Nó là một bộ phận nghiệp vụ, tham gia vào qúa trình giáo dục đào tạo con người, nhằm
hình thành nhân cách con người. Ngoài ra còn tham gia vào các lĩnh vực hoạt động xã hội
khác như: văn học nghệ thuật, quân sự, pháp lý, y học, thương mại, quản lý xã hội, công
tác chính trị, tự giáo dục, tự rèn luyện...
1.1.3.2. Đối tượng của tâm lý học
Theo quan điểm duy vật biện chứng, thế giới luôn vận động biến đổi không ngừng. Mỗi
khoa học nghiên cứu một dạng vận động của thế giới: Khoa học tự nhiên nghiên cứu các
dạng vận động của thế giới tự nhiên, khoa học xã hội nghiên cứu các dạng vận động của xã
hội. Có những khoa học nghiên cứu các dạng vận động chuyển tiếp, trung gian từ dạng vận
động này sang dạng vận động khác (cơ- vật lý học, hoá- sinh học, lý- sinh học, sinh - tâm
lý học...). Trong đó, tâm lý học nghiên cứu dạng vận động chuyển tiếp từ vận động sinh vật
sang vận động xã hội, từ thế giới khách quan vào não người sinh ra hiện tượng tâm lý với
tư cách là một hiện tượng tinh thần.
Như vậy, đối tượng của tâm lý học là các hiện tượng tâm lý người với tư cách là một
hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra (gọi chung
7
luật, y học, nghệ thuật, giáo dục... Tâm lý học là cơ sở cho khoa học giáo dục, thực chất
quá trình giáo dục là quá trình hiện thực hoá nội dung tâm lý cần hình thành và phát triển ở
con người.
1.1.5.2. Ý nghĩa của tâm lý học
Tâm lý học có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn: Góp phần tích cực vào việc
đấu tranh chống lại các quan điểm phản khoa học về tâm lý con người. Trực tiếp phục vụ
sự nghiệp giáo dục. Nó giúp giải thích một cách khoa học những hiện tượng tâm lý xảy ra
trong bản thân mình, người khác, trong cộng đồng xã hội. Nó là cơ sở cho việc tự rèn luyện,
hoàn thiện nhân cách và xây dựng mối quan hệ giao lưu, quan hệ liên nhân cách, quan hệ xã
hội. Ngoài ra, tâm lý học còn có ý nghĩa thực tiễn đối với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.2. BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ
1.2.1. Bản chất của hiện tượng tâm lý theo quan điểm duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử
Theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Tâm lý con người là chức năng
của bộ não, là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não thông qua chủ thể mỗi người.
Tâm lý người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử.
1.2.1.1. Tâm lý là chức năng của não
8
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng vật chất có trước, tinh thần, tâm lý có sau, song
không phải ở đâu có vật chất thì ở đó có tâm lý, dù hiện tượng tâm lý đơn giản đến các
hiện tượng tâm lý phức tạp bậc cao đều thực hiện thông qua chức năng của bộ não ngườithứ vật chất đặc biệt, có tổ chức cao nhất. “Tâm lý, ý thức... là sản phẩm của vật chất có tổ
chức cao, là chức năng của khối vật chất đặc biệt phức tạp là não người” (V.I.Lênin).
Hình ảnh tâm lý có được là do hiện thực khách quan tác động vào giác quan rồi chuyển
lên não. Não hoạt động theo cơ chế phản xạ, từ đó sinh ra các hiện tượng tâm lý. Trong đó
vai trò của phản xạ có điều kiện là cơ sở sinh lý của các hiện tượng tâm lý. Hoạt động phản
xạ có điều kiện giúp cơ thể thích ứng với môi trường luôn thay đổi.
Sự hình thành và thể hiện tâm lý người chịu sự chi phối chặt chẽ của sự tác động qua lại
giữa hai hệ thống tín hiệu, trong đó hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở của hoạt động trực
cá nhân (hay nhóm người) phản ánh thế giới khách quan thông qua “lăng kính chủ quan”
của mình.
- Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý thể hiện ở chỗ:
+ Cùng nhận sự tác động của thế giới về cùng một hiện thực khách quan nhưng ở những
chủ thể khác nhau xuất hiện những hình ảnh tâm lý với những mức độ, sắc thái khác nhau.
9
+ Cũng có khi cùng một hiện thực khách quan tác động vào một chủ thể nhưng ở các
thời điểm khác nhau, hoàn cảnh, trạng thái cơ thể, tinh thần khác nhau có thể sẽ cho ra mức
độ biểu hiện và sắc thái tâm lý khác nhau ở chủ thể ấy.
Tâm lý người này khác với người kia do nhiều yếu tố chi phối: mỗi người có những đặc
điểm riêng về cơ thể, giác quan, hệ thần kinh và não bộ. Mỗi người có hoàn cảnh sống
khác nhau, điều kiện giáo dục không như nhau và đặc biệt là mỗi cá nhân thể hiện mức độ
tích cực hoạt động, tích cực giao lưu khác nhau trong cuộc sống.
Từ luận điểm nêu trên, có thể rút ra một số kết luận thực tiễn sau:
- Tâm lý người có nguồn gốc từ thế giới khách quan, vì thế khi nghiên cứu cũng như khi
hình thành, cải tạo tâm lý phải nghiên cứu hoàn cảnh con người sống và hoạt động.
- Tâm lý người mang tính chủ thể, vì vậy trong dạy học, giáo dục, quản lý con người
phải chú ý đến nguyên tắc sát đối tượng.
- Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp, vì thế phải tổ chức hoạt động và giao
tiếp để nghiên cứu sự hình thành và phát triển tâm lý người.
1.2.1.3. Tâm lí người mang bản chất xã hội, lịch sử
Tâm lí người khác xa về chất so với tâm lí động vật đó là có bản chất xã hội lịch sử.
- Trước hết tâm lí người có nguồn gốc là thế giới khách quan. Trong thế giới khách
quan các hiện tượng tự nhiên, xã hội đều ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí, trong đó phần
xã hội (các mối quan hệ kinh tế, văn hóa xã hội, đạo đức, pháp luật...) đặc biệt quan hệ con
người với con người có ý nghĩa quyết định tâm lí người. Trên thực tế, nếu con người thoát
li khỏi xã hội, quan hệ người - người thì tâm lý sẽ mất bản tính người (trường hợp trẻ bị lạc
sống cùng động vật).
động cơ, mục đích của hoạt động, hướng hoạt động vào mục đích đã được xác định.
- Tâm lý là động lực thôi thúc, lôi cuốn con người hoạt động, khắc phục mọi khó khăn
vươn tới mục đích đề ra.
- Tâm lý điều khiển, kiểm tra quá trình hoạt động bằng chương trình, kế hoạch, phương
pháp, phương thức tiến hành hoạt động, làm cho hoạt động con người trở nên có ý thức,
đem lại hiệu quả nhất định.
- Tâm lý giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với mục tiêu đã xác định,
với điều kiện và hoàn cảnh thực tế cho phép.
Tóm lại, nhờ các chức năng trên mà tâm lý giúp con người không những thích ứng với
hoàn cảnh khách quan mà còn nhận thức, cải tạo và sáng tạo thế giới và chính trong quá
trình đó con người cũng nhận thức, cải tạo chính bản thân mình.
1.2.3. Phân loại hiện tượng tâm lý
1.2.3.1. Cách phân loại phổ biến
Phân loại các hiện tượng tâm lý theo thời gian tồn tại và vị trí tương đối của chúng
trong nhân cách. Theo cách phân loại này, các hiện tượng tâm lý có ba loại chính: các quá
trình tâm lý, các trạng thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý.
- Các quá trình tâm lý là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối
ngắn, có mở đầu, diễn biến, kết thúc tương đối rõ ràng. Người ta thường phân biệt ba quá
trình tâm lý:
+ Quá trình nhận thức, gồm: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy.
+ Quá trình cảm xúc biểu thị sự vui mừng hay tức giận, dễ chịu, khó chịu, nhiệt tình
hay thờ ơ...
+ Quá trình hành động ý chí
- Các trạng thái tâm lý là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài,
việc mở đầu và kết thúc không rõ ràng, như: chú ý, tâm trạng...
- Các thuộc tính tâm lý là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành
và khó mất đi, tạo thành những nét riêng của nhân cách. Người ta thường nói tới bốn nhóm
thuộc tính tâm lý cá nhân, như: xu hướng, tính cách, khí chất và năng lực.
Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý bằng sơ đồ sau:
Tâm lý
đồng thời tâm lý, ý thức, nhân cách là cái điều hành hoạt động. Vì thế chúng thống nhất
với nhau. Nguyên tắc này cũng khẳng định tâm lý luôn luôn vận động và phát triển. Cần
phải nghiên cứu tâm lý trong sự vận động của nó, nghiên cứu tâm lý qua sự diễn biến, cũng
như qua sản phẩm của hoạt động.
1.3.1.3. Nguyên tắc phải nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong mối quan hệ giữa
chúng với nhau và trong mối liên hệ giữa chúng với các loại hiện tượng khác.
Các hiện tượng tâm lý không tồn tại một cách biệt lập mà chúng có quan hệ chặt chẽ
với nhau, bổ sung cho nhau, chuyển hoá lẫn nhau, đồng thời chúng còn chi phối và chịu sự
chi phối của các hiện tượng khác.
1.3.1.4. Nguyên tắc phải nghiên cứu tâm lý của một con người cụ thể, của một nhóm
người cụ thể, chứ không nghiên cứu tâm lý một cách chung chung, nghiên cứu tâm lý ở
một con người trừu tượng, một cộng đồng trừu tượng.
1.3.2. Các phương pháp nghiên cứu tâm lý
1.3.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp nghiên cứu những biểu hiện bên ngoài của tâm lý con người
(hành vi, cử chỉ, nét mặt, lời nói, dáng điệu vv..) diễn ra trong điều kiện sinh hoạt tự nhiên,
bình thường của họ để từ đó rút ra kết luận.
- Quan sát là loại tri giác có chủ định, cho phép chúng ta thu được nhiều tài liệu cụ thể,
sinh động, trực quan, khách quan trong các điều kiện tự nhiên của con người.
- Quan sát có nhiều hình thức: quan sát toàn diện, quan sát bộ phận, quan sát có trọng
điểm, quan sát trực tiếp hay gián tiếp và tự quan sát.
- Muốn quan sát có hiệu quả cao cần chú ý:
+ Xác định mục đích, nội dung, kế hoạch quan sát.
+ Chuẩn bị chu đáo về mọi mặt.
+ Tiến hành quan sát một cách cẩn thận, có hệ thống.
+ Ghi chép một cách khách quan và rút ra những nhận xét trung thực.
- Ưu điểm của phương pháp quan sát là sẽ cho ta thu được các tài liệu cụ thể, khách
quan, các thông tin thô. Tuy nhiên, nó phụ thuộc khá lớn vào người tiến hành quan sát
(trình độ, kinh nghiệm, tính trạng sức khoẻ ...), dễ dẫn đến suy diễn, nhận định chủ quan..
Phương pháp này sẽ tốn nhiều thời gian và công sức. Đối với các biểu hiện tâm lý sâu kín
tưởng cho người được hỏi, nhưng cần có sự hợp tác và trách nhiệm cao của người trả lời để
thông tin được chính xác và khách quan.
- Để phương pháp này đạt được hiệu quả cao khi sử dụng cần:
+ Câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với trình độ của đối tượng được nghiên cứu.
+ Soạn kỹ bản hướng dẫn điều tra viên- người sẽ phổ biến câu hỏi điều tra cho các đối tượng
+ Khi xử lý số liệu cần dùng phương pháp toán xác suất thống kê để tránh sự sai sót.
1.3.2.4. Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm là phương pháp tác động vào đối tượng một cách chủ động trong những
điều kiện đã được khống chế để gây ra ở đối tượng những biểu hiện cần nghiên cứu, có thể
lặp đi lặp lại nhiều lần đo đạc định lượng, định tính một cách khách quan.
- Thường có hai loại thực nghiệm:
+ Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: được thực hiện dưới điều kiện khống chế một
cách nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài, chủ động tạo ra những điều kiện làm nẩy sinh
nội dung tâm lý cần nghiên cứu.
+ Thực nghiệm tự nhiên: được tiến hành trong điều kiện bình thường của cuộc sống.
Ngoài ra, tuỳ theo mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu mà người ta phân biệt thực nghiệm
tự nhiên lại được phân thành hai loại:
Thực nghiệm nhận định: là thực nghiệm nhằm xác định thực trạng vấn đề nghiên
cứu ở một thời điểm cụ thể.
Thực nghiệm hình thành: ở loại thực nghiệm này người nghiên cứu tiến hành các tác
động giáo dục, rèn luyện nhằm hình thành một phẩm chất tâm lý nào đó ở đối tượng thực
nghiệm (nghiệm thể).
- Yêu cầu:
+ Lựa chọn đối tượng tiêu biểu để thực nghiệm.
+ Phải xây dựng giả thuyết tốt.
+ Phải thực nghiệm nhiều lần và tách yếu tố tất nhiên - ngẫu nhiên.
+ Phối hợp với các phương pháp khác.
1.3.2.5. Phương pháp trắc nghiệm (Test)
Test là một phép thử để đo lường tâm lý, đã được chuẩn hoá trên một số lượng người là
đại diện tiêu biểu.
đối tượng nghiên cứu để chẩn đoán những đặc điểm tâm lý của họ.
- Phương pháp này nó có ưu điểm là dễ thực hiện, nhưng lại có nhược điểm là cần phải
quản lý tốt hồ sơ, đồng thời lý lịch theo mẫu định sẵn chỉ có thể phản ánh một cách tổng
quát theo một số nội dung nhất định nên khó phát hiện yếu tố tâm lý sâu sắc của họ.
Tóm lại, các phương pháp nghiên cứu tâm lý khá phong phú. Mỗi phương pháp đều có
những ưu điểm và hạn chế nhất định. Vì vậy, muốn nghiên cứu một chức năng tâm lý một
cách khoa học cần:
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thích hợp với vấn đề nghiên cứu;
- Sử dụng phối hợp và đồng bộ các phương pháp nghiên cứu để đem lại kết quả khoa
học toàn diện.
Câu hỏi ôn tập và thảo luận
1. Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu tâm lý học là gì ?
2. Phân tích bản chất hiện tượng tâm lý người và rút ra bài học sư phạm.
Thảo lụân: - Tại sao nói tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não
người thông qua chủ thể ? Bài học sư phạm rút ra từ luận điểm này là gì ?
- Chứng minh tâm lý người mang bản chất xã hội, lịch sử. Từ đó rút ra
những kết luận cần thiết.
Thực hành: Hướng dẫn sinh viên thực hiện các bài tập trong sách thực hành.
14
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA TÂM LÝ NGƯỜI
Con người là một thực thể sinh vật - xã hội và văn hoá. Do đó cần nghiên cứu, tiếp cận
con người trên cả ba mặt: sinh vật - tâm lý - xã hội. Muốn giải thích đời sống tâm lý của
con người một cách khoa học và duy vật cần phải hiểu biết cơ sở tự nhiên (cơ sở vật chất,
cơ sở sinh lý) và cơ sở xã hội của nó.
2.1. CƠ SỞ TỰ NHIÊN
Bàn về cơ sở tự nhiên của tâm lý con người có nhiều vấn đề cần nghiên cứu, ở đây
chúng ta chủ yếu chỉ giới hạn ở một số mối quan hệ giữa di truyền, bộ não, phản xạ có điều
- Não trung gian (gồm mấu não, hai đồi thị)
- Tiểu não ( nằm phía sau trụ não, dưới các bán cầu đại não)
- Bán cầu đại não (vỏ não và các hạch dưới vỏ)
Như vậy, tâm lý là kết quả của hệ thống chức năng những hoạt động phản xạ của não,
cùng với quá trình sinh lý não, hiện tượng tâm lý thực hiện chức năng định hướng, điều
chỉnh, điều khiển hành vi của con người.
2.1.2. Vấn đề định khu chức năng tâm lý trong não
Đây là vấn đề hết sức phức tạp, từ trước đến nay có nhiều quan điểm khác nhau:
Theo quan điểm duy vật biện chứng (tâm lý học hoạt động) khẳng định: Trên vỏ não có
nhiều miền (vùng, thùy), mỗi miền là cơ sở vật chất của các hiện tượng tâm lý tương ứng.
15
Tuy nhiên, mỗi quá trình tâm lý xảy ra là do sự phối hợp của nhiều miền trên vỏ não. Một
hiện tượng tâm lý xẩy ra, nhất là các hiện tượng tâm lý phức tạp, bao giờ cũng có nhiều
trung khu, nhiều miền tham gia tạo thành hiện tượng đó. Tùy theo hiện tượng tâm lý khác
nhau mà các trung khu thần kinh cũng được tạo thành khác nhau - nghĩa là hệ thống trung
khu thần kinh luôn luôn thay đổi. Sự hoạt động dựa trên nguyên tắc “phân công” kết hợp
với nguyên tắc “nhịp nhàng” như vậy tạo nên một hệ thống mà các nhà sinh lý học, tâm lý
học Nga (A.R.Luria, P.K.Anokhin...) gọi đó là hệ thống chức năng cơ động.
1. Vùng thị giác;
2. Vùng thính giác;
3. Vùng vị giác;
4. Vùng cảm giác cơ thể;
5. Vùng vận động;
6. vùng viết ngôn ngữ;
7. Vùng nói ngôn ngữ; 8. Vùng nghe hiểu tiếng nói;
9. Vùng nhìn hiểu chữ viết.
một loại kích thích đặc biệt có thể lập bất cứ một phản xạ có điều kiện nào.
+ Phản xạ có điều kiện báo hiệu gián tiếp kích thích không điều kiện sẽ tác động vào cơ thể.
Tất cả các hiện tượng tâm lý đều có cơ sở sinh lý là phản xạ có điều kiện. Hoạt động
phản xạ có điều kiện giúp cơ thể thích ứng với môi trường luôn thay đổi.
16
2.1.4. Quy luật hoạt động thần kinh cấp cao
2.1.4.1. Quy luật hoạt động theo hệ thống
Trong điều kiện tự nhiên của đời sống, các kích thích không tác động một cách riêng lẻ,
mà chúng thường tạo thành một tổ hợp kích thích đồng thời hoặc nối tiếp đến cơ thể. Mặt
khác, cơ thể cũng không phản ứng một cách riêng lẻ mà phản ứng một cách tổ hợp với các
kích thích đó. Như vậy, hoạt động tổng hợp của vỏ não cho phép hợp nhất những kích
thích riêng lẻ hay không riêng lẻ thành một hệ thống. Các hoạt động phản xạ có điều kiện
kế tiếp nhau theo một thứ tự nhất định, tạo nên hệ thống định hình động lực của vỏ não,
làm cho trong não khi có một phản xạ nào đó xảy ra thì kéo theo các phản xạ khác cũng
xảy ra.
2.1.4.2. Quy luật lan toả và tập trung
Hưng phấn và ức chế là hai trạng thái cơ bản của thần kinh (Hưng phấn là hiện tượng
hoạt hoá tổ chức sống khi có kích thích tác động, đây là quá trình giúp hệ thần kinh thực
hiện chức năng tăng độ mạnh của một hay nhiều phản xạ. Ức chế là quá trình hoạt động
thần kinh nhằm làm mất hoặc yếu hưng tính của tế bào thần kinh, nói cách khác nó giúp
kìm hãm hoặc làm mất đi một hay một số phản xạ). Khi trên vỏ não có một điểm (vùng)
nào đó hưng phấn hoặc ức chế, thì nó sẽ không dừng lại ở điểm ấy mà lan tỏa ra các điểm,
vùng khác (gọi là lan tỏa). Sau đó, trong điều kiện bình thường, chúng tập trung lại một
điểm nhất định. Hai quá trình này diễn ra nối tiếp nhau trong một trung khu thần kinh. Nhờ
đó mà hình thành một hệ thống chức năng các phản xạ có điều kiện..
2.1.4.3. Quy luật cảm ứng qua lại
Hai quá trình thần kinh cơ bản luôn ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên qui
luật cảm ứng qua lại. Có bốn loại cảm ứng:
hoạt của hai quá trình thần kinh (tốc độ chuyển hóa) giữa hưng phấn và ức chế mà ta có 4
kiểu thần kinh chung cho cả người và động vật:
- Kiểu thần kinh mạnh, cân bằng, linh hoạt
- Kiểu thần kinh mạnh, cân bằng không linh hoạt
- Kiểu thần kinh mạnh, không cân bằng.
- Kiểu thần kinh yếu.
Ngoài ra ở người còn có 3 kiểu thần kinh:
- Kiểu "Nghệ sĩ" loài người này ưu thế hoạt động thuộc về tín hiệu một
- Kiểu "Tri thức" ưu thế hoạt động thuộc về tín hiệu hai.
- Kiểu "Trung gian" cả hai hệ thống một và hai tương đương nhau.
2.2. CƠ SỞ XÃ HỘI
2.2.1. Quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội và tâm lý con người
2.2.1.1. Thuyết tiến hoá thực chứng luận của G.Spenxơ
Con người không chỉ tồn tại trong môi trường tự nhiên mà còn tồn tại trong môi trường
xã hội, sau khi chuyển biến thành người, các qui luật và cơ chế thích nghi của động vật kể
cả cơ chế tự tạo trong kinh nghiệm cá thể cũng không thay đổi (theo quan điểm này họ đề
cao yếu tố sinh học, hạ thấp vai trò yếu tố xã hội).
2.2.1.2. Quan điểm xã hội học
Coi xã hội tạo ra bản chất người, con người là một tồn tại “giao lưu” chứ không phải là
một tồn tại xã hội hành động và quá trình “xã hội hoá” cá thể là quá trình giao lưu ngôn
ngữ, giao lưu tinh thần giữa người này với người khác để lĩnh hội “biểu tượng xã hội”, các
tập tục, lề thói... tạo ra “hành vi xã hội”. Đây là quan điểm tiến bộ, đã đề cao vai trò xã hội.
2.2.1.3. Quan điểm duy vật biện chứng
Chủ nghĩa Mác đã khẳng định: Các quan hệ xã hội tạo nên bản chất con người, “... bản
chất con người không phải là cái gì trừu tượng, tồn tại đối với từng cá nhân riêng biệt,
trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. Qui
luật cơ bản chi phối sự phát triển xã hội loài người là quan hệ sản xuất phải phù hợp với
lực lượng sản xuất chứ không phải quy luật chọn lọc tự nhiên. Hoạt động tâm lý của con
Như vậy, bằng hoạt động con người đã tạo ra sản phẩm cho thế giới vừa tạo ra tâm lý
của mình (“sản phẩm kép”). Nói cách khác, tâm lý được bộc lộ, hình thành và phát triển
trong hoạt động.
b. Đặc điểm của hoạt động
- Hoạt động bao giờ cũng là “hoạt động có đối tượng”: Đối tượng hoạt động là cái mà
con người cần làm ra, cần chiếm lĩnh. Đó là động cơ luôn thúc đẩy con người hoạt động
nhằm tác động vào khách thể để làm thay đổi, biến nó thành sản phẩm. Đồng thời, tiếp
nhận ở đối tượng chuyển vào đầu óc mình, tạo nên cấu tạo tâm lý mới, năng lực mới cho
bản thân.
- Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể: hoạt động do chủ thể thực hiện (có thể một hoặc
nhiều người).
- Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích: mục đích của hoạt động là làm biến đổi thế
giới (khách thể) và biến đổi bản thân chủ thể. Tính mục đích gắn liền với tính đối tượng và
bị chế ước bởi nội dung xã hội.
- Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp: trong hoạt động, con người gián tiếp
tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý trong đầu, phương tiện ngôn ngữ, công cụ lao
động. Như vậy, công cụ tâm lý, ngôn ngữ và công cụ lao động giữ chức năng trung gian
giữa chủ thể - khách thể tạo nên tính gián tiếp của hoạt động.
2.2.2.2. Các loại hoạt động
Có nhiều cách phân loại khác nhau:
- Xét về phương diện cá thể, có: hoạt động học tập, vui chơi, lao động xã hội.
- Xét về phương diện sản phẩm, có: hoạt động thực tiễn, hoạt động lý luận.
- Căn cứ vào tính chất, có: hoạt động biến đổi, hoạt động nhận thức, hoạt động định
hướng giá trị và hoạt động giao lưu.
2.2.2.3. Cấu trúc hoạt động
Theo quan điểm của N.A.Lêônchiev, hoạt động có cấu trức vĩ mô bao gồm sáu thành tố
có mối quan hệ biện chứng với nhau, chia thành hai dãy:
Dãy thứ nhất (về phía chủ thể): hoạt động - hành động - thao tác. Ba thành tố này thuộc
các đơn vị thao tác (mặt kỹ thuật của hoạt động).
Dãy thứ hai (về phía khách thể): động cơ - mục đích - điều kiện. Ba thành tố này tạo
Giao tiếp là mối quan hệ giữa con người với con người, là sự tiếp xúc tâm lý giữa người
với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn
nhau, ảnh hưởng, tác động qua lại với nhau.
Giao tiếp xác lập, vận hành các mối quan hệ người - người, hiện thực hoá các quan hệ
xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác..
Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xẩy ra với các hình thức sau
đây: - Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân
- Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm
- Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng.
2.3.2. Chức năng của giao tiếp
Trong giao tiếp, những người tham gia đều là chủ thể, do vậy họ có tác động và ảnh
hưởng lẫn nhau.
- Chức năng thông tin: Qua giao tiếp, con người trao đổi, truyền đạt tri thức, kinh
nghiệm với nhau. Mỗi cá nhân vừa là nguồn phát thông tin vừa là nơi tiếp nhận thông tin.
Thu nhận và xử lý thông tin là một con đường quan trọng để phát triển nhân cách.
- Chức năng cảm xúc: Giao tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn tạo ra những ấn
tượng, những cảm xúc mới giữa các chủ thể. Vì vậy, giao tiếp là một trong những con
đường hình thành tình cảm của con người.
- Chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau: Trong giao tiếp, mỗi chủ thể tự bộc lộ
quan điểm, tư tưởng, thái độ, thói quen... của mình, do đó các chủ thể có thể nhận thức
được về nhau, làm cơ sở đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá bản thân mình.
- Chức năng điều chỉnh hành vi: Trên cơ sở nhận thức và đánh giá lẫn nhau, tự đánh giá
mà mỗi chủ thể có khả năng tự điều chỉnh hành vi của mình cũng như có thể tác động đến
động cơ, mục đích, quá trình ra quyết định và hành động của chủ thể khác.
- Chức năng phối hợp hành động: Nhờ giao tiếp, con người có thể phối hợp hoạt động
để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ nào đó nhằm đạt tới mục tiêu chung. Đây là chức năng
giao tiếp phục vụ các nhu cầu chung của xã hội hay một nhóm người.
2.3.3. Các loại giao tiếp
Có nhiều cách phân loại dựa trên những góc độ khác nhau:
- Căn cứ vào phương tiện, có: giao tiếp vật chất; giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp bằng
Xã hội (các quan hệ
XH, nền văn hoá XH)
Giao tiếp
Đối tượng của giao tiếp
Con người- chủ thể (tâm
lý- ý thức- nhân cách)
Đối tượng của hoạt động
Hoạt động
Câu hỏi ôn tập và thảo luận
1. Phân tích cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của tâm lý người
2. Tại sao nói tâm lý là sản phẩm hoạt động và giao lưu ?
Thảo luận: - Các quy luật hoạt động thần kinh cấp cao.
- Hoạt động là gì? Tại sao nói hoạt động tạo ra “sản phẩm kép”? Lấy ví dụ thực tiễn để
minh hoạ cho 2 quá trình xuất tâm và nhập tâm của hoạt động.
- Lấy ví dụ về một hoạt động cụ thể để phân tích cấu trúc của hoạt động.
- Giao tiếp là gì? Phân tích các chức năng của giao tiếp và cho ví dụ cụ thể về các loại
giao tiếp.
Thực hành: Hướng dẫn sinh viên thực hiện các bài tập trong sách thực hành.
21
CHƯƠNG 3. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ, Ý THỨC
3.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ
3.1.1. Sự hình thành tâm lý về phương diện loài người
3.1.1.1. Tiêu chuẩn xác định sự nảy sinh tâm lý
Nhưng bản năng của con người khác xa về chất so với bản năng của con vật “bản năng của
con người là bản năng có ý thức´ (C.Mác). Bản năng của con người có sự tham gia của tư
duy, mang tính xã hội và mang đặc điểm lịch sử loài người.
- Thời kỳ kỹ xảo: Kĩ xảo là hành vi mới tự tạo do lặp đi lặp lại nhiều lần trở thành định
hình trong não động vật. So với bản năng, hành vi kỹ xảo có tính mềm dẻo và khả năng
biến đổi lớn hơn.
- Thời kỳ hành vi trí tuệ: Là kết quả của luyện tập, do cá thể tự tạo trong đời sống.
Hành vi trí tuệ động vật nhằm giải quyết tình huống cụ thể liên quan thoả mãn nhu cầu sinh
vật của cơ thể, hành vi trí tuệ con người nảy sinh trong hoạt động nhằm nhận thức bản
chất, các mối quan hệ có tính quy luật, nhằm thích ứng và cải tạo thế giới khách quan, gắn
liền với ngôn ngữ, là hành vi có ý thức.
3.1.2. Sự hình thành tâm lý về phương diện cá nhân
3.1.2.1. Thế nào là sự phát triển tâm lý (về phương diện cá thể)
Theo nguyên lý chung của mọi sự phát triển trong thế giới, sự phát triển tâm lý trải qua
nhiều giai đoạn khác. Đó là quá trình chuyển đổi liên tục từ cấp độ này sang cấp độ khác, ở
mỗi cấp độ lứa tuổi, sự phát triển tâm lý đạt tới một chất lượng mới và diễn ra theo quy
22
luật đặc thù. Sự phát triển tâm lý đạt tới một chất lượng mới và diễn ra theo quy luật đặc
thù gắn liền sự phát triển hoạt động trong đó hoạt động chủ đạo đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển.
Mỗi giai đoạn lứa tuổi có một hoạt động chủ đạo :
- Tuổi sơ sinh là hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp với người lớn.
- Tuổi nhà trẻ là hoạt động với đồ vật
- Tuổi mẫu giáo là hoạt động vui chơi
- Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi học sinh
- Lao động và hoạt động xã hội là hoạt dộng chủ đạo của lứa tuổi thanh niên và người
trưởng thành.
Các hoạt động chủ đạo có tác dụng quyết định chủ yếu nhất đối với sự hình thành
3.2.1.3. Cấu trúc của ý thức
Trong ý thức có 3 mặt thống nhất hữu cơ với nhau, điều khiển hoạt động có ý thức của
con người:
- Mặt nhận thức:
+ Quá trình nhận thức cảm tính mang lại những tài liệu đầu tiên cho ý thức, là tầng bậc
thấp của ý thức.
+ Quá trình nhận thức lý tính là bậc tiếp theo trong mặt nhận thức của ý thức, đem lại
cho con người những hiểu biết bản chất, khái quát về hiện thực khách quan. Đây chính là
nội dung cơ bản, là hạt nhân của ý thức, giúp con người hình dung ra trước kết quả của
hoạt động và hoạch định kế hoạch hành vi.
23
- Mặt thái độ của ý thức: Nói lên thái độ lựa chọn, thái độ cảm xúc, thái độ đánh giá
của chủ thể đối với thế giới.
- Mặt năng động của ý thức: Thể hiện ở khả năng điều khiển, điều chỉnh mọi hoạt
động của con người, đó là quá trình con người vận dụng những hiểu biết và tỏ thái độ của
mình nhằm thích nghi, cải tạo thế giới và cả biến cả bản thân. Mặt khác, ý thức nảy sinh và
phát triển trong hoạt động, cấu trúc của hoạt động quy định cấu trúc của ý thức. Vì thế, nhu
cầu, động cơ, hứng thú, ý chí... đều có vị trí nhất định trong cấu trúc của ý thức.
3.2.2. Sự hình thành và phát triển ý thức
3.2.2.1. Sự hình thành ý thức của con người (xét về phương diện loài)
Chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ: Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động
là ngôn ngữ, đó là hai động lực chủ yếu đã biến bộ não vượn thành bộ óc con người, đây
cũng chính là hai yếu tố tạo nên sự hình thành ý thức con người.
a. Vai trò lao động đối với sự hình thành phát triển ý thức
Điều khác biệt giữa người với vật (người kiến trúc sư với con ong, người thợ dệt với
con nhện) là trước khi lao động con người đã hình dung ra trước mô hình cái cần làm và
cách làm ra cái đó trên cơ sở huy động toàn bộ vốn hiểu biết, năng lực trí tuệ của mình, từ
đó con người có ý thức về cái mà mình sẽ làm ra.
d. Ý thức cá nhân được hình thành bằng con đường tự nhận thức, tự đánh giá, tự phân
tích hành vi của mình: Trên cơ sở đối chiếu mình với người khác, với chuẩn mực xã hội, tự
giáo dục, tự hoàn thiện bản thân mà cá nhân có ý thức về bản thân mình (ý thức bản ngã tự ý thức).
3.2.2.3. Các cấp độ ý thức
24
a. Cấp độ chưa ý thức (vô thức)
Hàng ngày có những hiện tượng tâm lý chưa có ý thức diễn ra chi phối hoạt động của
con người (mộng du, say rượu, người bị thôi miên, người bị động kinh...). Hiện tượng tâm
lý không có ý thức (vô thức) này khác xa với từ “vô ý thức” mà ta vấn dùng (vô ý thức tổ
chức kỷ luật...). Ở đây, người vô ý thức thể hiện sự thiếu ý thức tôn trọng tổ chức, tôn
trọng kỷ luật, quy định chung của tập thể.
Vô thức là hiện tượng tâm lý ở tầng bậc chưa ý thức - nơi mà ý thức không thực hiện
được chức năng của mình (điều khiển, điều chỉnh...). Nó bao gồm những hiện tượng tâm lý
khác nhau ở tầng không (chưa) ý thức:
- Vô thức ở tầng bản năng (dinh dưỡng, tự vệ, sinh dục) tiềm tàng, mang tính bẩm
sinh, di truyền
- Vô thức còn bao gồm những hiện tượng tâm lý dưới ngưỡng ý thức (tiền ý thức)
- Hiện tượng tâm thế: Là hiện tượng tâm lý dưới ý thức, hướng tâm lý sẵn sàng chờ
đợi, tiếp nhận một điều gì đó, ảnh hưởng đến tính linh hoạt và tính ổn định của hoạt động.
Cũng có lúc phát triển xâm nhập cả vào tầng ý thức.
- Có những hiện tượng tâm lý vốn là có ý thức nhưng do lặp đi lặp lại nhiều lần
chuyển thành dưới ý thức. Chẳng hạn một số kĩ xảo, thói quen trở thành “tiềm thức”, một
dạng tiềm tàng sâu lắng của ý thức. Tiềm thức thường trực chỉ đạo hành động, lời nói, suy
nghĩ... của một người tới mức không cần ý thức tham gia.
b. Cấp độ ý thức và tự ý thức
- Ở cấp độ ý thức, con người nhận thức, tỏ thái độ có chủ tâm và dự kiến trước hành vi
của mình làm cho hành vi có ý thức.
- Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức, biểu hiện ở các mặt sau: