bài tiểu luận quản lý nhà nước về nông thôn , nông thôn gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - Pdf 43

BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
MÔN HỌC: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG THÔN

ĐỀ TÀI:
QLNN VỀ KINH TẾ NÔNG THÔN GẮN VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP
HÓA VÀ ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
Ở TP.HCM

TP. Hồ Chí Minh, năm 2017

1


TP. Hồ Chí Minh, năm 2017

2


3


LỜI CẢM ƠN
.

Tp.HCM, ngày … tháng 05 năm 2017

4


chính trị, văn hoá, xã hội... Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với
địa bàn nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế
về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế... vừa có những đặc điểm
riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn
Xét về mặt kinh tế - kỹ thuật, kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều ngành kinh
tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ... trong đó
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu. Xét về mặt kinh tế - xã
hội, kinh tế nông thôn cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế
tập thể, kinh tế cá thể... Xét về không gian và lãnh thổ, kinh tế nông thôn bao gồm các
vùng như: vùng chuyên canh lúa, vùng chuyên canh cây màu, vùng trồng cây ăn quả...
Nông thôn mới
Là nông thôn mà trong đời sống vật chất , văn hóa, tinh thần của người dân không
ngừng được nâng cao giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, nông dân được
đào tạo tiếp thu câc tiến bộ KT tiên tiến có bản lĩnh vững vàng , đóng vai trò làm chủ
nông thôn mới.
Nông thôn mới có Kinh tế phát triển toàn diện , bền vững cơ sở hạ tầng được xây
đựng đồng bộ hiện đại, PT theo QH, gắn với kết hợp lý giữu Nông nghiệp, với công
nghiệp, dv và đô thị . Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh
thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao đảm bảo giữ vững an
ninh chính trị và trật tự xã hội.
Nghị quyết 26/TQ – TW của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X
đã đề ra chủ trương xây dựng nông thôn mới phát triển kinh tế xã hội, nâng
7


cao đời sống của nhân dân, phát triển nông nghiệp và nông thôn nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của cư dân ở nông thôn. Nghị quyết đã xác định rõ
mực tiêu: “ Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp
với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông

được mục đích ổn định và PT NT.
Quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn gắn với quả trình công nghiệp hóa và đô thị hóa
hiểu chung là thực hiện quản lý nhà nước về nông thôn theo định hướng phát triển công
nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn đã diễn ra rất nhanh hiện nay ở các vực nông
thôn( nông thôn mới) thuộc các tỉnh thành trong cả nước. Mà cụ thể hơn trong đề tài đề
cập là quản lý nhà nước về nông thôn gắn với công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay ở
thành phố Hồ Chí Minh.
1.2
Sự cần thiết của quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn gắn với quá trình
công nghiệp hóa và đô thị hóa
Qua hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta nói chung, ngành nông nghiệp nói
riêng đã đạt được những thành tựu to lớn. Sự phát triển và biến đổi của nông nghiệp và
nông thôn hiện nay thể hiện sự nỗ lực to lớn của Nhà nước ta trong lĩnh vực quản lý vùng
và ngành. Nói đến quản lý nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn chính là nói đến tính
hiệu lực, hiệu quả sự tác động của Nhà nước ta đối với sự phát triển kinh tế - x ã hội của
khu vực nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Suốt quá trình thực hiện đổi mới, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các nghị định,
quy định, văn bản pháp luật nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn thực hiện chức năng
quản lý của mình. Nhờ đó, nền nông nghiệp nước ta đã luôn đạt được sự tăng trưởng, xã
hội nông thôn không ngừng biến đổi cả về diện mạo cũng như chất lượng sống của người
nông dân. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại cần được
giải quyết cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn nhằm nâng cao hơn nữa vai trò quản
9


lý nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn. Một trong những vấn đề đó là Nhà nước tác
động đến nông nghiệp, nông thôn như thế nào và theo cách nào để thúc đẩy khu vực này
phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá? Làm thế nào để nâng cao hiệu lực
quản lý nhà nước trong nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay?

thôn. Đến lượt nó, sự thành công trong phát triển nông nghiệp, nông thôn sẽ thúc đẩy
mạnh mẽ sự đổi mới và phát triển của đô thị và các khu công nghiệp trong cả nước. Một
nước mà nông dân chiếm 73,5% dân số cả nước như Việt Nam thì vấn đề phát triển nông
nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ trọng yếu của Nhà nước trong cả quãng đường phát triển
sau này.
Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển của toàn bộ sự nghiệp
đổi mới ở nước ta hiện nay. Tuy giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng không lớn
trong GDP (khoảng 25%), nhưng lương thực thực phẩm do nông nghiệp đem lại giữ vị trí
trọng yếu trong sự phát triển xã hội. Nó liên quan chặt chẽ đến vấn đề dân sinh và phát
triển ổn định xã hội.
Nếu giải quyết tốt vấn đề lương thực, trước hết sẽ đảm bảo được an ninh lương thực quốc
gia. Bởi vì:
Thứ nhất, lương thực là thứ đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con người. Nếu vấn
đề này bị phụ thuộc vào nước ngoài (nhập khẩu lương thực) sẽ không đảm bảo được tính
lâu dài của sự phát triển. Giả định rằng, khi chiến tranh xảy ra hoặc bị phong toả kinh tế,
thì dù có tiền chúng ta cũng không mua được lương thực, thực phẩm từ nước ngoài.
Hai là, vấn đề lương thực được giải quyết tốt sẽ đảm bảo cho sự phát triển ổn định của xã
hội. Chỉ khi người dân không phải lo cái ăn, cái mặc hàng ngày thì lòng người mới ổn
định, và khi cuộc sống của đại đa số nông dân ổn định thì xã hội mới ổn định. Hơn nữa,
mục tiêu phát triển của xã hội ta là vì con người và cho con người, nên sự ổn định lòng
người là điều tối cần thiết đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay.
Ba là, giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông thôn sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền
vững của cả nền kinh tế - xã hội và do vậy, mục tiêu dân giàu nước mạnh mới trở thành
11


hiện thực. Dân giàu trước hết là đời sống của người nông dân phải được sung túc. Vấn đề
này, trên thực tế, đang trở thành vấn đề nổi cộm trong quyết sách phát triển kinh tế - xã
hội của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Có một tình hình là, dường như càng phát triển thì

đất đến giao đất, giao ruộng cho nông dân, hình thành hàng loạt các trang trại sản xuất
nông nghiệp đã thể hiện sự kết hợp một cách hợp lý giữa vai trò của thị trường và của
Nhà nước, giữa cơ chế tự điều chỉnh của “bàn tay vô hình” với cơ chế quản lý của Nhà
nước. Nhưng nếu nhìn vào suốt quá trình đổi mới ta sẽ thấy, trong giai đoạn đầu, quản lý
nhà nước giữ vai trò chủ yếu và mang tính quyết định. Nhà nước vừa điều hành sự phát
triển kinh tế - xã hội trong nông nghiệp, nông thôn, vừa sử dụng chính cơ chế thị trường
(hình thành từng bước theo sự hiện diện của nền kinh tế thị trường ở nước ta) thúc đẩy sự
phát triển của ngành nông nghiệp và xã hội nông thôn. Ở giai đoạn đầu, sự can thiệp của
Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả ở tầm vĩ mô và vi mô.
Ở tầm vi mô, Nhà nước gần như là người quản lý trực tiếp sự phát triển ngành nông
nghiệp nhằm chủ động tạo ra những thành phần, yếu tố của nền kinh tế thị trường trong
nông nghiệp. Lúc này, vai trò quản lý của Nhà nước ở tầm vi mô chiếm vị trí quan trọng
trong tương quan với quản lý ở tầm vĩ mô. Sự can thiệp sâu vào cơ cấu cũng như tốc độ
phát triển của nông nghiệp là cực kỳ cần thiết ở giai đoạn này. Nhưng khi nền kinh tế thị
trường đã dần hình thành thì vai trò quản lý của Nhà nước ở tầm vi mô sẽ ngày càng
giảm, vai trò quản lý ở tầm vĩ mô sẽ ngày càng tăng lên trong tương quan chung. Đến
giai đoạn hiện nay thì vai trò quản lý của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn chủ
yếu là ở tầm vĩ mô. Chính việc chuyển biến này đã tạo ra sự chủ động trong kinh doanh,
trong phát triển và trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành nghề cũng như lực lượng lao
động trong nông nghiệp, nông thôn. Vì thế, hiệu quả và tính hiệu lực của quản lý nhà
nước ngày càng cao hơn trong nông nghiệp, nông thôn. Từ đó, ta thấy, sự tác động của
Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn chuyển từ tầm vi mô sang tầm vĩ mô vừa mang
tính lịch sử, vừa là lôgic phát triển tất yếu của sản xuất nông nghiệp ở nước ta từ khi đổi
mới đến nay. Đó cũng chính là quá trình xoá bỏ dần và tiến đến xoá bỏ triệt để mô hình
quản lý kế hoạch hoá, quan liêu bao cấp đã từng tồn tại khá lâu ở nước ta; chuyển sang
thực hiện mô hình quản lý theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Với mô
hình này, người nông dân đã có sự chủ động trong quyết định sản xuất: trồng cây gì, nuôi
13




chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng. Nhà nước tác động đến nông nghiệp, nông
thôn bằng những công cụ quản lý chủ yếu, như hệ thống pháp luật, các nghị định và các
văn bản dưới luật, các chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Sự tác động này đã tạo
nên những thành quả to lớn, làm thay đổi một cách căn bản sản xuất nông nghiệp và bộ
mặt xã hội nông thôn theo chiều hướng tích cực. Chỉ trong ba năm thực hiện Nghị quyết
5 (khoá IX) từ năm 2002 - 2005, nông nghiệp, nông thôn đã đạt được những thành tựu
quan trọng: “an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm; giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ
sản tăng trưởng liên tục và mức cao (5,4%/năm vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX); cơ cấu nông nghiệp có sự chuyển dịch tích cực, chuyển mạnh sang
sản xuất hàng hoá, từng bước gắn sản xuất với chế biến và thị trường; khoa học công
nghệ được tăng cường và đã phát huy tác dụng; cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch
theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ gắn với chuyển dịch cơ cấu lao
động và tăng thời gian sử dụng lao động ở nông thôn; quan hệ sản xuất tiếp tục đổi mới
tích cực; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn được cải thiện; xoá đói, giảm nghèo
đạt được thành tựu lớn (tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, bình quân 3%/năm); công tác y tế,
giáo dục, văn hoá ở nông thôn được quan tâm hơn, đời sống nông dân ở nhiều vùng được
cải thiện, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi”. Có thể thấy, đây là đánh giá khá đầy đủ
và toàn diện sự thay đổi của nông nghiệp, nông thôn trong những năm gần đây.

1.3
Nội dung của quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn gắn với quá trình công
nghiệp hóa và đô thị hóa
1.3.1 Quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn
1.3.1.1Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt cả thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Một trong ba nội dung cơ bản của công nghiệp hoá
là xây dựng cơ cấu ngành kinh tế hợp lý. Kinh tế nông thôn là một bộ phận của nền kinh
tế, vì vậy, xây dựng cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn theo yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là tất yếu khách quan.

16


Do đó, chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn không được chủ quan
duy ý chí, mà phải hết sức chú ý những nhân tố khách quan như: khả năng về vốn, về tổ
chức quản lý, về công nghệ... và đặc biệt là điều kiện thị trường.
Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong nông nghiệp, nông
thônCông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải trang bị kỹ thuật cho các ngành
của nền kinh tế theo hướng hiện đại. Do đó, phát triển kinh tế nông thôn trong điều kiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá có nội dung rất quan trọng là phải đẩy mạnh ứng dụngtiến
bộ khoa học - công nghệ. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp thể hiện tập trung ở những lĩnh vực sau:- Cơ giới hoá. Các hoạt động sản xuất ở
nông thôn chủ yếu dựa vào lao động thủ công, kỹ thuật lạc hậu, do đó, năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm rất thấp. Cơ giới hoá, trước hết là cơ giới hoá sản xuất nông
nghiệp vừa giảm nhẹ lao động của con người, vừa nhằm nâng cao năng suất và hiệu
quả. Tuy nhiên, cơ giới hoá phải đặc biệt chú ý những đặc điểm riêng của sản xuất nông
nghiệp, nông thôn.Cơ giới hoá nông nghiệp phải tập trung vào những khâu lao động nặng
nhọc (chẳng hạn như làm đất) và những khâu trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng sản
phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh (chế biến).- Thuỷ lợi hoá. Sản xuất nông nghiệp
phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Việt Nam là nước nông nghiệp nhiệt đới, nắng lắm,
mưa nhiều, do đó, hạn hán và úng lụt thường xuyên xảy ra. Để hạn chế tác động tiêu cực
của thiên nhiên, việc xây dựng hệ thống thuỷ lợi đ ể chủ động tưới tiêu có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng.- Điện khí hoá. Điện khí hoá vừa nâng cao khả năng của con người trong
việc chế ngự tự nhiên, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế, vừa tạo điều kiện
cho cư dân nông thôn tiếp cận với văn minh nhân loại, phát triển văn hoá - xã hội ở nông
thôn. Do đó, điện khí hoá là điều kiện không thể thiếu để phát triển nông thôn.- Phát
triển công nghệ sinh học. Đây là lĩnh vực khoa học và công nghệ mới bao gồm nhiều
ngành khoa học và kỹ thuật mà trước hết là vi sinh học, di truyền học, hoá sinh học ...
Công nghệ sinh học là "mọi kỹ thuật sử dụng những cơ chế hay quá trình sống để tạo ra


nghiệp và xây dựng nông thôn mới; không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao hiệu
quả, năng suất và sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.4. Đào tạo
nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thônNguồn nhân lực ở nông thôn có đặc điểm là
trình độ học vấn rất thấp và phần lớn người lao động không qua đào tạo. Trình độ dân trí
19


thấp là trở ngại không nhỏ đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn, trước hết là
đối với sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Bởi
vậy, đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn trở thành nội dung quan trọng
trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn.Do khả năng kinh tế và nhận thức của cư
dân nông thôn có hạn, việc đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn phải có
sự trợ giúp của Nhà nước. Nhà nước phải có chính sách giáo dục, đào tạo riêng cho nông
nghiệp, nông thôn, đặc biệt cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... Chính sách giáo
dục, đào tạo không chỉ phải tính đến trình độ đầu vào, ưu đãi về tài chính cho khu vực
nông nghiệp, nông thôn... mà còn phải tính tới nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu
lao động được đào tạo trong hiện tại và tương lai...III- Cđảo... Chính sách giáo dục, đào
tạo không chỉ phải tính đến trình độ đầu vào, ưu đãi về tài chính cho khu vực nông
nghiệp, nông thôn... mà còn phải tính tới nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao
động được đào tạo trong hiện tại và tương lai...

1.3.1.2 Quản lý phát triền kinh tế ở nông thôn
Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ góp phần tạo ra những tiền đề quan trọng không thể
thiếu đảm bảo cho tiến trình CNH, HĐH trong thời kỳ quá độ của nước ta:
+ Nông nghiệp, nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống toàn xã hội.
+ Là nơi cung cấp nguyên liệu để công nghiệp hóa.
+ Phát triển kinh tế nông thôn tạo ra sản phẩm nông sản xuất khẩu, tích lũy một phần
vốn cho đất nước.
+ Nông thôn là thì trường rộng lớn tiêu thụ hàng hóa công nghiệp và cung cấp nguyên
liệu cho công nghiệp và dịch vụ.

với các chương trình trọng điểm của thành phố về phát triển “2 cây, 2 con”, từng buớc
giải quyết được đầu ra cho sản phẩm, ổn định sản xuất và có hướng phát triển thành hợp
tác xã. Tuy nhiên, chỉ có 71
tổ hợp tác đáp ứng được nhu cầu hợp tác của người dân và có chiều hướng phát
triển. Đây là những tổ hợp tác có sự chứng thực của Chính quyền (phường , xã), các tổ
21


hợp tác này tập trung trong lĩnh vực sản xuất rau an toàn, giống cây trồng, nuôi trồng
thuỷ sản, bò sữa va dịch vụ cho bò sữa tại xã Tân Phú Trung, Tân Thông Hội, huyện Củ
Chi; Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh;Tân Sơn Nhì, Xuân Thới Thượng huyện Hóc Môn
và các tổ nuôi tôm sú huyện Cần Giờ.
Ngoài ra, một số loại hình khác cũng đã mang lại hiệu quả như Câu lạc bộ
khuyến nông, các Hội ngành nghề và các tổ xoá đói giảm nghèo… cũng có sự đóng góp
tích cực cho việc phát triển kinh tế vùng nông thôn.
2/ Hợp tác xã nông nghiệp:
Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, hiện có 29 hợp tác xã nông nghiệp
(HTXNN) và 01 Liên hiệp Hợp tác xã đang hoạt động trong các lĩnh vực rau an toàn, bò
sữa, nuôi trồng thuỷ sản, dịch vụ nông nghiệp có hiệu quả, trong đó có 14 HTX chuyển
đổi, 15 HTX mới thành lập, (02 HTX rau an toàn, 01 HTX bò sữa, 03 HTX Thuỷ sản, 01
HTX ngành nghề nông thôn)
Đô thị hóa (ĐTH) là kết quả tất yếu của sự phát triển KT-XH, nó diễn ra cùng với
quá trình CNH, HĐH đất nước, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang
công nghiệp và dịch vụ. Nhịp độ ĐTH phụ thuộc vào trình độ phát triển KT-XH, nhưng
đồng thời quá trình ĐTH có tác động trở lại quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế. Việc
thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế CNH, HĐH phát triển
công nghiệp dịch vụ đòi hỏi phải tập trung dân cư, phát triển kết cấu hạ tầng KT-XH, từ
đó hình thành quá trình ĐTH ở khu vực nông nghiệp, nông thôn nằm trong quy hoạch
phát triển. ĐTH không chỉ tác động đến quá trình phát triển các ngành và nền kinh tế mà
còn tác động đến các vấn đề xã hội, môi trường và cuộc sống của các thế hệ trong tương

vùng Đông Nam Á.
Thành phố Hồ Chí Minh, nghề kim hòan còn tiếp tục được duy trì và hoạt động tại
các chợ quận 5, 6, Phú Nhuận, Bình Thạnh.
3. Nghề chạm khắc gỗ:
Nghề chạm khắc gỗ vào thế kỷ XVII, đã nảy sinh trên vùng đất Sài Gòn –
Gia Định do những lưu dân người Việt và người Hoa vào định cư mang theo. Nhu
cầu xây dựng các công trình kiến trúc nghệ thuật, nhu cầu dân dụng của một vùng
23


đất mới đã tạo điều kiện xuất hiện một đội ngũ thợ chạm khắc gỗ có tay nghề cao.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của nghề chạm khắc gỗ Sài Gòn – Gia Định trước kia
chủ yếu đáp ứng nhu cầu nội địa. Gần đây sản phẩm chạm khắc gỗ đã được xuất
khẩu sang nhiều nước trên thế giới.
4. Nghề dệt:
Nghề dệt xuất hiện ở Sài Gòn – Gia định vào thế kỷ thứ XVII, do những lưu dân
người Việt mang theo trong tiến trình khai phá vùng đất phương Nam. Đến nửa
cuối thế kỷ XIX, nghề dệt phát triển rộng khắp, hình thành nên các làng nghề của
các dòng thợ dệt khác nhau như: Bảy Hiền (Tân Bình), Hãng Đồng (Phú Nhuận),
Bùi Mộn (Hóc Môn), Am Hà (Thủ Đức)
5. Nghề đúc đồng:
Từ thời đại đồ đồng cách nay khoảng 3.500 năm, nghề đúc đồng ở Việt Nam
đã khá phát triển. Quá trình khai phá vùng đất Sài Gòn – Gia Định cũng là quá trình
hình thành những làng nghề đúc đồng nổi tiếng như: Khu Chợ Quán (Quận 5), ba
làng Tân Kiểng, Nhơn Giang, Bình Yên (Chợ Lớn), Tân Hòa Đông (Quận 6), khu
Hòa Hưng (Quận 10)…
Tại thành phố Hồ Chí Minh, những vùng còn sản xuất đồ đồng là Tân Hòa Đông
(Quận 6), khu Thông Tây Hội (Gò Vấp), và khu Thuận Kiều (Hóc Môn)
Tuy nhiên, CN - TTCN và làng nghề vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, chưa phát triển
tương xứng với tiềm năng lợi thế của quận, huyện ; chưa tạo ra nhiều việc làm và

khí sửa chữa, nhà hàng, khách sạn...; chỉ đạo chuyển đổi mô hình quản lý chợ nhằm
xã hội hoá đầu tư phát triển các chợ đô thị, chợ nông thôn để các chợ là trung tâm
hoạt động thương mại của từng vùng trong huyện, tạo điều kiện giao thương hàng
hoá, thúc đẩy phát triển sản xuất.
Ba là: Khuyến khích các cơ sở sản xuất CN-TTCN, làng nghề đổi mới thiết bị, áp
dụng các tiến bộ KHKT công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng
sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trên thị
trường. Khai thác, phát triển thị trường; hỗ trợ tích cực cho phát triển các sản phẩm
nghề và làng nghề; tổ chức tham gia các hội chợ triển lãm các sản phẩm làng nghề,
các sản phẩm thủ công mỹ nghệ; xúc tiến thương mại thông qua việc giới thiệu sản
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status