TIỂU LUẬN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM
1
MỤC LỤC
2
MỞ ĐẦU
Giáo dục và đào tạo luôn được xem là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục chính
là đầu tư cho sự phát triển. Do vậy, bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới dù lớn hay nhỏ, dù
giàu hay nghèo, dù phát triển hay đang phát triển bao giờ cũng quan tâm đến giáo dục và
đào tạo. Đây là hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và
quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế trong xã hội đồng thời có tác động mạnh
mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của một quốc gia. Chính vì thế, quản lý nhà
nước về giáo dục – đào tạo đóng vai trò cực kỳ quan trọng hình thành nên hệ thống giáo dục
của một quốc gia.
Thời gian qua, giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đã có nhiều bước phát triển đáng tự
hào. Chất lượng nền giáo dục và trình độ dân trí được nâng lên, góp phần tích cực vào công
cuộc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Tuy nhiên, cũng với những thành tựu đạt được, nền giáo dục nước ta còn phải đối mặt
với nhiều khó khăn, yếu kém. Chất lượng và khâu quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo,
việc đào tạo nguồn nhân lực của hệ thống giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu của đổi mới kinh
tế, xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Đảng và Nhà nước ta cũng đã chủ trương đổi mới và
nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, đẩy mạnh đổi mới
nội dung chương trình và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại cùng với đổi mới cơ
chế quản lý.
Vì thế, quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo là một trong các lĩnh vực của quản lý
hành chính nhà nước. Giáo dục là một quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có kế
hoạch nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri thức được tích lũy của loài người. Đào tạo lại là
quá trình đặc thù của giáo dục, nó hướng đến giáo dục chuyên nghiệp. Đó là sự phát triển có
hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,… đòi hỏi ở một cá nhân để thực hiện nhiệm vụ
4
chuyên môn nhất định. Từ các khái niệm này, có thể rút ra khái niệm về quản lý nhà nước
về giáo dục – đào tạo như sau:
Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là việc các cơ quan nhà nước thực hiện
quyền lực nhà nước để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động GD-ĐT trong phạm vi
toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của Nhà nước.
Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo là sự tác động có tổ chức
và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động GD-ĐT do các cơ quan quản
lý có trách nhiệm về giáo dục của Nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành để thực
hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp GD-ĐT,
duy trì kỹ cương, thoả mãn nhu cầu GD-ĐT của nhân dân, thực hiện mục tiêu GD-ĐT của
nhà nước.
Chủ thể hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo là các cơ quan quản lý có
thẩm quyền được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Các chủ thể này có thể là
các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, và cơ quan quản lý giáo dục, là tổ chức,
người chịu trách nhiệm trước Nhà nước về giáo dục.
Khách thể của quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo là mọi hoạt động GD-ĐT của
hệ thống giáo dục quốc dân trong phạm vi toàn xã hội.
Đối tượng quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo là tất cả mọi thành tố của hệ thống
giáo dục quốc dân bao gồm: Nhân sự (cán bộ, giáo viên), chương trình giáo dục, các hoạt
động giáo dục, người học, các nguồn lực, học liệu, môi trường giáo dục, các cơ sở giáo dục,
các mối quan hệ trong giáo dục,…
Về tổng thể, mục tiêu của quản lý nhà nước về GD&ĐT là việc bảo đảm trật tự kỷ
chẽ trong quản lý nhà nước về GD-ĐT.
- Phương tiện quản lý nhà nước về GD-ĐT là các văn bản pháp luật và pháp quy.
Phương pháp chủ yếu để quản lý nhà nước là phương pháp Hành chính - Tổ chức. Cần nhận
thức rằng pháp luật, pháp quy là sự cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và nhà
nước; phản ánh lợi ích của toàn dân. Vì vậy đây chính là hành lang pháp lý cho việc
triển khai các hoạt động quản lý, bảo đảm tính quyền lực nhà nước trong quản lý. Việc
6
không tuân thủ hành lang pháp lý trong các hoạt động quản lý về giáo dục tức là vi phạm
trật tự kỷ cương và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Trong quản lý nhà nước phải tuân thủ thứ bậc chặt chẽ hoạt động quản lý theo sự
phân cấp rõ ràng và mệnh lệnh - phục tùng là biểu hiện rõ nhất của tính quyền lực trong
quản lý nhà nước. Tính quyền lực nhà nước ở đây cũng chính là việc các cơ quan quản lý
cần nhận thức đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa
phương phải phục tùng trung ương trong quá trình quản lý nhà nước về GD-ĐT.
Thứ hai, kết hợp quản lý hành chính và quản lý chuyên môn trong các hoạt động
quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo
Hoạt động này vừa theo nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động
của quản lý giáo dục, vừa theo nguyên tắc hành chính giáo dục đối với một cơ sở giáo dục.
Hành chính - giáo dục thực chất là triển khai chức năng, nhiệm vụ quyền hạn do Nhà nước
quy định (phân cấp, phân công hoặc uỷ quyền). Các cơ quan, tổ chức thay mặt Nhà nước
triển khai sự nghiệp GD-ĐT và điều hành, điều chỉnh các hoạt động GD-ĐT. Quản lý hành
chính thực chất là việc xây dựng các văn bản pháp quy và chấp hành các văn bản. Kết hợp
với quản lý giáo dục là đưa việc xây dựng các văn bản cho các hoạt động chuyên môn của
giáo dục và làm cho một người hiểu, biết được các qui định của văn bản để thực hiện cho
đúng. Ví dụ: Từ quy định của Bộ GD&ĐT về việc soạn bài, giảng bài, chấm bài,… Cơ quan
Sở, Phòng GD-ĐT thậm chí đến hiệu trưởng nhà trường sẽ có những quy định chi tiết hơn
về các vấn đề đó để đảm bảo tính cụ thể, thiết thực và phù hợp với địa phương và cơ sở giáo
sở giáo dục.”1 Mục tiêu quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo là phát triển các thành tố
của hệ thống giáo dục trên các mặt: quy mô, cơ cấu, chất lượng; bảo đảm trật tự, kỷ cương
trong hoạt động giáo dục; nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; hoàn thiện
nhân cách công dân.
Để thực hiện được những nhiệm vụ và mục tiêu trên, Luật Giáo dục đã cụ thể hóa
những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về GD-ĐT tại Điều 99 như sau:
1 Điều 14 Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)
8
“1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát
triển giáo dục;
2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành
điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác;
3. Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu
chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách
giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;
4. Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo
dục;
5. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;
6. Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;
7. Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục;
8. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;
9. Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh
vực giáo dục;
10. Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
11. Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự
có thẩm quyền. Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về các cơ quan
quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm: Chính phủ; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ, cơ quan
ngang bộ và Uỷ ban nhân dân các cấp.
- Chính phủ
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục. Chính phủ trình Quốc hội trước
khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công
dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của một
10
cấp học; hằng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách
giáo dục.
Điều 11 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 cũng quy định cụ thể về nhiệm vụ và
quyền hạn của Chính phủ trong giáo dục và đào tạo gồm:
1. Thống nhất quản lý nhà nước hệ thống giáo dục quốc dân.
2. Quyết định chính sách cụ thể về giáo dục để bảo đảm phát triển giáo dục phù hợp
với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; ưu tiên đầu tư, khuyến khích các nguồn lực để phát
triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, thu hút, bồi
dưỡng và trọng dụng nhân tài.
3. Xây dựng cơ chế, chính sách phát huy các nguồn lực xã hội nhằm phát triển giáo
dục và đào tạo; tạo điều kiện xây dựng xã hội học tập.
4. Ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tạo điều kiện để người khuyết tật và
người nghèo được học văn hóa và học nghề.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà
nước về giáo dục. Cụ thể, Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và các cơ
sở giáo dục khác về các lĩnh vực: mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch, chất lượng
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Chương trình và nội dung giáo dục và đào tạo;
tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị
3 Khoản 4 Điều 100 Luật Giáo dục (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
4 Điều 8 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 4 tháng 4 năm 2014 Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
12
trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất
lượng giáo dục và đào tạo.5
5 Nghị định 37/2014/NĐ-CP ngày 5 tháng 5 năm 2014 Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
13
Chương II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO Ở
VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống quản lý nhà nước về giáo dục –
đào tạo ở nước ta
Sau Cách mạng tháng tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, cùng
với đó là sự ra đời của nền giáo dục dân chủ nhân dân. Từ đó đến nay, hệ thống giáo dục
nước ta đã trải qua ba cuộc cải cách:
- Cải cách giáo dục lần thứ nhất: Sau khi nước Việt Nam tuyên bố độc lập, tháng 10
năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 34/SL thành lập Hội đồng cố vấn học chính
có nhiều loại hình không chính quy, có các trường tư thục, dân lập, có phương thức đào tạo
từ xa, phương thức liên kết đào tạo với nước ngoài…Đó là một trong những thành tựu lớn
nhất mà nền giáo dục nước ta đã đạt được.
Quy mô giáo dục ngày càng lớn và mở rộng, tăng nhanh ở các vùng, các ngành học
và cấp học. Quy mô phát triển giáo dục trước hết thể hiện ở số lượng người học. Nhìn
chung, số học sinh trong toàn bộ hệ thống giáo dục không ngừng được tăng lên, số học sinh
các trường ngoài công lập tăng nhanh: Số trẻ em tăng bình quân 7%/ năm; mẫu giáo tăng
bình quân 5,2%; số học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 15,1%/ năm và dạy nghề dài hạn
tăng 12%/năm; sinh viên đại học và cao đẳng tăng 8,4%/năm. 6 Cùng với số lượng người
học, quy mô giáo dục còn được đánh giá qua mạng lưới trường học theo địa bàn dân cư, số
lượng nhà giáo, trang thiết bị dạy học. Số trường đại học và cao đẳng liên tục tăng.
Chất lượng giáo dục có chuyển biến trên một số mặt. Trình độ hiểu biết, năng lực
tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên được nâng cao; giáo dục trung học
phổ thông chuyên đạt trình độ cao của khu vực và thế giới, số học sinh phổ thông đạt giải
quốc gia và quốc tế ở một số môn học ngày càng tăng. Giáo dục đại học đã từng bước vươn
lên, đào tạo được một đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật từ cử nhân, thạc sỹ cho
6 />
15
đến tiến sĩ đã và đang công tác và có những cống hiến quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực
kinh tế, xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, hệ thống giáo dục nước ta còn những
hạn chế nhất định. Nhìn tổng thể cả về quy mô và chất lượng đào tạo, giáo dục nước ta chưa
đáp ứng kịp những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực của các mục tiêu kinh tế - xã
hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiến tới
xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thể hiện thông qua:
+ Chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển đất nước, chưa
tiếp cận được với trình độ và kết quả giáo dục ở các nước phát triển trong khu vực và trên
sáng tạo, năng lực thực hành và hướng nghiệp; chưa gắn bó chặt chẽ với nhu cầu của thực
tiễn phát triển kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu của người học; chưa gắn bó hiệu quả với
nghiên cứu khoa học – công nghệ và triển khai ứng dụng.
2.2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo
- Thực trạng xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục –
đào tạo
Thời gian qua, các cơ quan nhà nước đã ban hành được nhiều văn bản quy phạm
pháp luật với phạm vi điều chỉnh bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động giáo dục – đào
tạo. Nhiều quy phạm pháp luật đã được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của
thực tiễn. Hiến pháp năm 2013 là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để xây dựng các văn bản
quy phạm pháp luật, điều chỉnh mọi hoạt động giáo dục và đào tạo. Kế đến là Luật Giáo dục
năm năm 2005 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009. Ngoài ra còn nhiều văn bản khác do Bộ
Giáo dục và đào tạo ban hành. Một số văn bản đã điều chỉnh đúng các vấn đề có tính bức
thiết. Một số văn bản khác được ban hành kịp thời để điều chỉnh những hoạt động mới phát
sinh đối với giáo dục và đào tạo.
Tuy nhiên, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa động bộ và còn
nhiều hạn chế. Tư duy pháp lý đã được đổi mới ở mức độ nhất định song còn mang nặng
quan điểm pháp lý đơn thuần, chưa chú ý đến sự vận động khách quan của hoạt động giáo
dục và những điều kiện thực tế bảo đảm thực hiện pháp luật trong đời sống. Trong lĩnh vực
giáo dục và đào tạo, đặt biệt đối với một số loại hình đào tạo mới như đào tạo sau đại học,
17
đào tạo từ xa, đào tạo ngoài công lập,… văn bản pháp luật còn tản mạn, thiếu tính hệ thống
và đồng bộ. Phần lớn các lĩnh vực trong hệ thống giáo dục quốc dân được điều chỉnh bằng
các văn bản dưới luật của Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của các cơ quan hành
chính nhà nước.
- Thực trạng xây dựng và kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo
Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo thống nhất từ trung
ương đến địa phương. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý không ngừng tăng cả về số
địa phương ở các trường; đã kiểm tra và xử lý nhiều hành vi vi phạm, các hành vi làm giả hồ
sơ, văn bằng, chứng chỉ, thi hộ, thi kèm…Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra, giám sát chưa bao
quát hết nội dung quản lý giáo dục – đào tạo, chưa có chiến lược tổng thể mà chủ yếu xử lý
các vụ việc do dư luận phản ánh; chế tài xử lý quá nhẹ, không có tác dụng ngăn chặn, răn
đe; chưa kịp thời phát hiện các sai sót, khiếm khuyết của các quy định pháp luật giáo dục –
đào tạo để điều chỉnh, bổ sung kịp thời.
2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
Nền giáo dục nước ta bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cơ chế thị trường, việc thi hành kỷ
cương kỷ luật và pháp chế ngành còn chưa nghiêm túc. Bệnh chạy theo thành tích, chủ
nghĩa hình thức còn nặng nề dẫn đến đánh giá sai lệch kết quả thực của giáo dục.
Công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo còn yếu kém, bất cập và chậm đổi
mới, nặng về kinh nghiệm, thiếu cơ sở lý luận và khoa học.
Sự lãnh đạo của tổ chức Đảng và chính quyền địa phương nhiều lúc nhiều nơi còn
chưa sát sao và thiếu thường xuyên, liên tục. Bên cạnh đó, có những nơi lại can thiệp sâu lấn
sân vào hoạt động chuyên môn của hoạt động giáo dục – đào tạo gây cản trở công tác phát
triển giáo dục.
Mặt khác, sự suy thoái về đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, giáo
viên, giảng viên cũng gây không ít khó khăn cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo.
Nhưng nhìn chung, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới những hạn chế đó là
do sự quản lý của nhà nước về giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Do vậy, việc đưa ra
19
những định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo
là yếu tố khách quan.
2.3 Định hướng đổi mới công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo
2.3.1 Yêu cầu tất yếu của đổi mới công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào
tạo
Đổi mới là một quá trình liên tục có tính kế thừa và tiếp tục phát triển ở bậc cao hơn
đào tạo từ trung ương đến địa phương. Thực hiện phân cấp quản lý giáo dục một cách hợp
lý giữa trung ương và địa phương nhằm bảo đảm nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo
dục quốc dân và nâng cao tính chủ động của các cơ sở giáo dục – đào tạo tại địa phương.
Đồng thời, bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và thực sự mở rộng dân chủ cho tất cả
các đơn vị.
Thứ tư, cùng với việc tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo, nhà nước phải có
biện pháp phân bổ và quản lý ngân sách hợp lý và phù hợp với nhu cầu từng địa phương,
từng ngành học, bậc học đáp ứng nhu cầu ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo vừa tiết
kiệm, vừa hiệu quả.
Thứ năm, quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo là vấn đề rộng và phức tạp. Vì vậy,
cần phải xây dựng cơ chế quản lý giáo dục và đào tạo theo cả năm lĩnh vực: quản lý chuyên
môn, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản lý bộ máy và quản lý cơ sở vật chất kết hợp
với thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục và phân cấp quản lý hợp lý.
Thứ sáu, thực hiện nghiêm túc kiểm tra, thanh tra nhà nước về việc thực hiện những
quy định pháp luật trong giáo dục và đào tạo thông qua hoạt động thanh tra giáo dục nhằm
thiết lập kỷ cương trong hoạt động giáo dục, ngăn ngừa các hiện tương vi phạm chính sách,
pháp luật của nhà nước, bảo vệ lợi ích của người học và cơ sở giáo dục – đào tạo. Cần nâng
cao chất lượng và đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra giáo dục từ trung ương xuống địa
phương, trong đó đặc biệt quan tâm đến tầm quan trọng của thanh tra công tác chuyên môn,
thanh tra công tác quản lý nhân sự, công tác quản lý tài chính.
21
Trên đây là một số giải pháp định hướng nhằm góp phần đổi mới quản lý nhà nước
về giáo dục và đào tạo. Song để quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có hiệu quả và hệ
thống giáo dục phát triển thì cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trên.
22
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo
4. ĐH Luật TP.HCM, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB Đại học quốc gia
TP.HCM, 2010.
5. GS. Hoàng Tuy, Cải cách và chấn hưng giáo dục, NXB Tổng hợp TP.HCM,
2005.
6. Trần Kiểm, Khoa học quản lý giáo dục – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB
Giáo dục, 2006.
7. PGS.TS Đặng Bá Lãm, Quản lý nhà nước về giáo dục-Lý luận và thực tiễn, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
8. Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 4 tháng 4 năm 2014 Quy định tổ chức các cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
9. Nghị định 37/2014/NĐ-CP ngày 5 tháng 5 năm 2014 Quy định tổ chức các cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh
10. Nguyễn Văn Hộ, Giáo trình Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, Thái
Nguyên, 2006.
24