Tiểu luận tình huống quản lý nhà nước ngạch chuyên viên quản lý nhà nước về giáo dục - Pdf 43

Trong những năm qua, nhờ chính sách đúng đắn Đảng, Nhà nước ta coi giáo
dục là “quốc sách hàng đầu” mà nền giáo dục Việt Nam có những tiến bộ vượt bậc từ
một người biết chữ đến cả xã hội biết chữ (phong trào Bình dân học vụ); đến những
công trình khoa học được cả thế giới công nhận và ngưỡng mộ;…trong đó, hình ảnh
nhà giáo luôn được xã hội tôn vinh, trân trọng và quý trọng. Song, những hiện tượng
“buông lỏng quản lý” gây thất thoát ngân sách đầu tư cho giáo dục; cải cách giáo dục
theo cơ chế “xin-cho” đã trở thành gánh nặng cho giáo dục, Nhà nước và xã hội; hay
những hình ảnh “lu mờ” của nhà giáo trong cách hành xử theo kiểu “tuỳ thích”;… đã
làm xấu đi môi trường giáo dục lành mạnh, tạo tiền đề cho tiêu cực phát triển. Không
phải bây giờ chúng ta mới lên tiếng cảnh báo về những hiện tượng này, nhưng có lẽ
sự thay đổi của chính bản thân ngành giáo dục quá “nặng về cơ chế” dẫn đến tình
trạng chắp vá trong quản lý giáo dục.

Với những lý do trên, cùng những hạn chế nhất định của bản thân, tiểu luận lựa
chọn lĩnh vực “Quản lý nhà nước về giáo dục” làm nội dung cơ bản để nghiên cứu.

I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG

Hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động giáo dục là lĩnh vực rộng, có nhiều nội
dung phức tạp, như: chương trình khung; phương pháp dạy và học; chính sách giáo
dục; phân cấp quản lý;… Ở mỗi góc độ, cho ta thấy nhiều hướng tiếp cận và xu
hướng giải quyết vấn đề khác nhau. Một trong các tiêu chí chung mà góc độ quản lý
nhà nước đặt ra là nhằm xây dựng được một cơ chế, chính sách, thể chế, bộ máy quản
lý đồng bộ đáp ứng những đòi hỏi mới của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế,
không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực
giáo dục. Với cách tiếp cận này, và khả năng thực tiễn của bản thân, tiểu luận xác định

1


phạm vi nghiên cứu trong lĩnh vực “quản lý nhà nước về đạo đức nhà giáo” thông qua

dạy dỗ” trong giáo dục mà các nhà giáo sử dụng làm biện pháp chính trong quá trình
dạy học. Chẳng hạn như, gia đình em Sơn, cùng luật sư đòi cô giáo Thùy Trang bồi
thường 50 triệu, khi cô giáo bắt em Sơn phải “thụt dầu 150 lần” và Ban giám hiệu
Trường trung học cơ sở Mỹ hoá-thị xã Bến Tre phải chấp nhận bồi thường 18 triệu
đồng và xin lỗi em và gia đình em[1]; hay những cách hành xử thô bạo hơn của cô
giáo Lan bắt 47 học sinh lần lượt liếm sạch ghế ngồi của cô (Thanh Hoá năm 2005);
những trường hợp bắt học sinh giao cấu trái ý muốn hoặc đánh đập gây thương tích;
… là những bài học quá phổ biến trong nền giáo dục ở nước ta hiện nay. Nếu như, cô
giáo, thầy giáo nào khi vi vi phạm đạo đức nhà giáo đều dùng những lời lẽ “ăn năn”,
“khó khăn” hay “vì muốn các em nên người”, để biện minh thì thử hỏi môi trường
giáo dục hiện nay sẽ như thế nào ?. Để giải quyết, những câu hỏi trên là bài toán
không đơn giản chỉ là sự nhận thức của một nhà giáo, một học sinh mà cần có sự
“đồng thuận” của cả xã hội, trong đó, những chuyển biến mang tính căn bản nhất vẫn
phải xuất phát từ cơ chế, thể chế, chính sách giáo dục của Nhà nước. Với những vấn
đề đã nêu, tiểu luận tập trung làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản sau:

Một là, nguyên nhân căn bản và hậu quả của những hành vi vi phạm đạo đức nhà
giáo. Những nguyên nhân phải đánh giá đúng thực chất của vấn đề, tránh tình trạng
chỉ dừng ở việc xem xét hiện tượng, quy chụp chủ quan dẫn đến việc cải cách không
đúng, không trúng và chỉ mang tính hình thức.

Hai là, tìm ra giải pháp tối ưu, nhằm làm chuyển biến “nhận thức”, thay đổi “thói
quen” vi phạm đạo đức nhà giáo trong xu hướng thay đổi tính lệ thuộc theo kiểu
mệnh lệnh hành chính một chiều của mối quan hệ “nhà giáo-học sinh”; “nhà quản lýgiáo viên”...

III. NHỮNG NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA TÌNH HUỐNG VI PHẠM
ĐẠO ĐỨC NHÀ GIÁO
3



cấp đảm nhiệm được các một số nhiệm vụ nhất định. Bởi lẽ, xét về lý luận, có những
cấp học, như: cao đẳng, đại học hay thấp nhất như mẫu giáo cũng cần phải được phân
loại theo tiêu chí “công vụ”, hay nhiệm vụ để phân công, nhằm đảm bảo hiệu quả của
từng hoạt động công vụ, nhiệm vụ; tránh được tình trạng “cát cứ” quản lý theo cấp
học dẫn đến “cát cứ” trong quản lý để rồi có những hiện tượng “vô cảm”, “thờ ơ”,
“bàng quan”,… của những chính quyền không có trách nhiệm được phân cấp. Mặt
khác, những hạn chế về cơ chế thanh tra, kiểm tra đạo đức nhà giáo theo quy định
hiện hành. Xét theo quy định hiện hành[3], việc thanh tra, kiểm tra phải được tiến
hành định kỳ 6 tháng và 1 năm nhưng quan niệm lâu nay vẫn tồn tại “ngầm” trong
ngành giáo dục là thanh tra cũng chẳng qua mang tính “chiếu lệ”, để khẳng định “uy
thế” của cán bộ thanh tra nên vẫn thường rơi vào trạng thái “báo cáo” đạt chuẩn, đạt
tốt ở tỷ lệ rất cao.Điều này khẳng định, một mặt cơ chế “thẳng đứng” mệnh lệnh-hành
chính một chiều đã làm mất đi cơ hội giám sát và đánh giá chất lượng giáo dục của
người dân địa phương, của chính người học; tạo ra “tiêu cực” trong giáo dục. Chẳng
hạn như, tất cả các vấn đề của giáo dục trung học cơ sở ở huyện Giồng Riềng chỉ
được biết thông qua kênh thanh tra, kiểm tra của cán bộ thanh tra huyện, thì có biết
bao nhiêu vấn đề hạn chế mang tính chủ quan nảy sinh như: hiện tượng “bao che”;
“hình thức”;… Trong khi đó, những người thụ hưởng dịch vụ giáo dục trực tiếp thì
không có tiếng nói, thậm chí không có khả năng để được đánh giá chất lượng giáo
dục, chất lượng giáo viên;…Như vậy, nghịch lý về cách đánh giá thông qua hình thức
thanh tra, kiểm tra hiện hành của Nhà nước ta. Đồng thời, điều này giúp chúng ta
khẳng định tại sao các vấn đề cần quan tâm lại không được các cấp, cơ quan, ban
giám hiệu nhà trường tổ chức thực hiện nghiêm túc.

Nếu như các quy định trên tạo ra mối quan hệ mệnh lệnh-hành chính một chiều thì
ngay trong Quyết định số 11/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28/3/2008 ban hành Điều lệ
Ban đại diện cha mẹ học sinh, cũng không xác định cho họ cái quyền năng được giám
sát và đánh giá tư cách đạo đức của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục hàng năm.
5




quân chủ nghĩa”. Nên, giáo viên có quyền “thích làm gì thì làm” đối với học sinh
trong giờ học của mình.

Đối với các em học sinh, vì lý do tuổi còn nhỏ (mới chỉ học lớp 6) nên việc nhận thức
về hành vi của cô giáo Thư đúng hay không đúng; chuẩn mực hay không chuẩn mực;
và các quyền lợi của mình được làm gì để bảo vệ mình;… đã dẫn đến tình trạng cô
dùng que đánh vào người vẫn phải chấp nhận,… là những nguyên nhân chủ quan làm
nảy sinh tình huống trên. Nếu các em hiểu được các khả năng để thực hiện về quyền,
lợi ích của mình trước hành vi sai trái của cô thì chắc chắn cô Thư không thể thực
hiện được hành vi của mình đối với các em.

2. Hậu quả của hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo đối với hoạt động quản lý nhà
nước, xã hội và học sinh

Qua phân tích và nội dung tình huống nêu lên những hậu quả trực tiếp, gián tiếp như:

Một là, môi trường giáo dục bị ảnh hưởng theo hướng “bạo lực hoá” học đường.
Một khi giáo viên hành xử “bạo lực” với học sinh của mình, ít nhiều những tác động
đó reo vào tâm trí “thiếu niên” cách xử trí, và giải quyết công việc “độc đoán” mang
tính chất gia trưởng. Đây là hậu quả nguy hại cho tương lai giáo dục và xã hội trong
những năm đầu hội nhập quốc tế.

Thứ hai, tạo ra những tiền lệ xấu trong quản lý và lối hành xử của giáo viên trong môi
trường giáo dục. Những ảnh hưởng từ việc xử lý không nghiêm hoặc không có hình
thức chế tài xử lý thích đáng đã để lại hệ quả mang tính chất “dây truyền” trong môi
trường giáo dục ở Việt Nam trong những năm qua. Nguy hiểm hơn là những hành vi

7

8


chen lấn trong quyết định mức xử lý. Kế hoạch thực hiện, chỉ cần Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân huyện ban hành Chỉ thị áp dụng chế tài “buộc thôi việc” đối với tất cả hành
vi vi phạm đạo đức nhà giáo trong phạm vi quản lý của huyện.

* Phương án 3: Xây dựng cơ chế có sự tham gia giám sát của học sinh, phụ huynh
học sinh trong quan hệ “nhà giáo-học sinh” ; “Nhà giáo-Ban đại diện cha mẹ học
sinh”. Phương án này có ưu điểm là cải cách được bản chất của vấn đề “độc tôn”,
“một chiều”,… của người có quyền trong quan hệ; đảm bảo tính khách quan trong
việc đánh giá chất lượng giáo dục và kiềm chế, hạn chế những tồn tại do cơ chế quản
lý hành chính công truyền thống tạo ra. Nhược điểm, vẫn chủ yếu phụ thuộc vào tính
chủ động, giám làm,… của người có thẩm quyền trong cơ quan quản lý cấp huyện.
Kế hoạch thực hiện phương án cần tiến hành các bước như: Cụ thể hoá Quy chế và
Điều lệ của học sinh và Ban đại diện cha mẹ học sinh theo hướng tạo khả năng giám
sát, quyền đánh giá nhất định cho họ; phổ biến, tổ chức, rút kinh nghiệm để hoàn
thiện dần Quy chế và Điều lệ trong phạm vi của huyện.

V. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN TỐI ƯU

Mỗi phương án trên đều có những ưu điểm, hạn chế nhất định, song xét điều kiện thể
chế pháp luật và xu hướng phân cấp quản lý ở Trung ương và địa phương hiện hành
của Việt Nam, cùng với những vấn đề nảy sinh từ hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo
trong các trường trung học cơ sở công lập, bán công và dân lập trên địa bàn huyện,
tiểu luận lựa chọn phương án 3 là phương án tối ưu nhằm giải quyết các mục tiêu của
tình huống. Việc lựa chọn phương án này xuất phát từ những lý do như: Phương án 3
có những ưu điểm về tính khả thi, nhanh và phù hợp với sự thay đổi của cấp Huyện.
Đồng thời, phương án là điều kiện quyết định làm thay đổi mang tính bản chất nhiều
vấn đề quản lý không chỉ liên quan đến đạo đức nhà giáo trong học đường mà còn



+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trên cơ sở quy chế hoàn thiện ban hành Quyết định
của Uỷ ban kèm theo Quy chế áp dụng bắt buộc đối với các cấp học, bậc học trong
phạm vi phân cấp của huyện.

Bước 2: Tuyên truyền và tổ chức thực hiện Quyết định ban hành kèm theo quy chế
của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện

Thứ nhất, tổ chức tuyên truyền phổ biến ở các cơ quan, các bộ phận, các nhà
trường , học sinh, Ban đại diện học sinh và nhân trên trên địa bàn. Đây là khâu quan
trọng trong quá trình tổ chức thực hiện. Để đảm bảo cần cân nhắc, lựa chọn hình thức
và biện pháp tuyên truyền phù hợp với điều kiện của từng xã trong toàn huyện.

Thứ hai, tổ chức thực hiện quy chế. Trong quy chế xác định trách nhiệm, thẩm
quyền và nhiệm vụ của từng vị trí trong việc tham gia giám sát đạo đức nhà giáo
trong môi trường công tác và sinh hoạt ở địa phương; cơ chế giám sát, phát hiện và
xử lý thuộc thẩm quyền theo quy định. Đây là những quy định cơ bản có liên quan
đến nhiều đối tượng, chủ thể và được đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm theo từng
học kỳ, từng năm học từ đó làm cơ sở cho việc hoàn thiện dần cơ chế, các quy định
của Quy chế.

VI. KIẾN NGHỊ-KẾT LUẬN

1. Một số kiến nghị

Trên đây chỉ là những giải pháp mang tính cơ bản, lâu dài nên trong quá trình xây
dựng và tổ chức thực hiện vẫn có những vấn đề vướng mắc nảy sinh. Để đáp ứng nhu
11



đó, xây dựng “môi trường” giáo dục lành mạnh là tiền đề, cơ sở cho sự phát triển
giáo dục Việt Nam phù hợp với xu hướng phát triển giáo dục ở trong nước và trên thế
giới.

TN (tieuluantinhhuongquanlynhanuoc)

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo điện tử ViệtNamnet ngày 5/03.2009.
2. Báo điện tử Dân trí ngày 10/12/2008.
3. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày
26/11/2003.
4. Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy
định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương.
5. Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy
định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
6. Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/04/2007 ban hành
Quyết định kèm theo Điều lệ trường Trung học cơ sở, trường trung
học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, xác định
phân cấp quản lý đối với trường phổ thông.
7. Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/04/2008 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục-Đào tạo, ban hành Quy chế về đạo đức nhà giáo.
8. Quyết định số 11/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28/03/2008 ban hành
Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh.
9. Thông tư liên tịch số 35/2008/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 14/7/2008
hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status