A: MỞ ĐẦU
Xây dựng, phát triển con người, nguồn nhân lực là quan điểm, chính
sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Bởi, nguồn nhân lực là nguồn lực nội
tại, cơ bản, có khả năng tái sinh, tự sản sinh và đổi mới phát triển nếu biết
chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý. Do đó, nguồn nhân lực là nguồn lực
của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên; vừa là chủ thể, vừa là
khách thể, vừa là động lực, vừa là mục tiêu giữ vị trí trung tâm trong các
nguồn lực giữ vai trò quyết định thành công của sự nghiệp Đổi mới.
Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay bên cạnh những ưu thế
về lực lượng lao động dồi dào, con người cần cù, thông minh, sáng tạo… vẫn
còn nhiều hạn chế, bất cập về cơ cấu, trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động,
thể lực… làm cho năng suất lao động xã hội nước ta thấp hơn các nước trong
khu vực từ 2 đến 15 lần. Sức cạnh tranh của lao động Việt Nam thấp. Tại Nhà
máy Xi măng Nghi Sơn (Thanh Hóa), tổng quỹ lương của 20 người Nhật làm
việc ở đây bằng tổng quỹ lương của gần 2.000 người Việt Nam trong nhà
máy. Trong các ngành dịch vụ như Ngân hàng, Y tế,... có tới 40% người có
thu nhập từ 14.000USD/năm trở lên thuộc về người nước ngoài.
Trong xu thế phát triển của khoa học, công nghệ hiện nay, thì vai trò
của nguồn nhân lực càng quan trọng. Trong ngành vi điện tử, trong tổng giá
trị của sản phẩm, nguyên liệu chỉ chiếm 1-3%, lao động cơ bắp chiếm 12%,
còn lại 85% là giá trị của tri thức, bí quyết công nghệ và chế thử. Điều đó nói
lên vai trò ngày càng tăng của nguồn nhân lực.
Tại Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục xác định con người, nhân tố con người là
một trong năm quan điểm phát triển: “...phát huy tối đa nhân tố con người; coi
con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”; là một
trong ba khâu đột phá chiến lược: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược…”; đồng thời cũng là
1 trong 12 định hướng phát triển kinh tế - xã hội: “Nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, đổi mới toàn diện và phát triển nhanh giáo dục đào tạo”.
1
lượng dạy và học, Nhà nước đã thực hiện xã hội hóa để huy động tiềm năng
của các thành phần kinh tế cho giáo dục và đào tạo. Ngân sách Nhà nước đầu
tư cho giáo dục và đào tạo đã tăng từ 15% năm 2000 lên 18% năm 2005 với
cơ cấu tăng chi cho những nhiệm vụ trọng tâm của ngành như đổi mới
chương trình, bồi dưỡng giáo viên, tăng cường giáo dục miền núi.
Các dự án ODA trong giáo dục đào tạo cũng đã dành phần lớn cho giáo
dục cơ bản và đang được triển khai với tổng vốn vay hàng trăm triệu USD.
Việt Nam cũng đang tiến hành một dự án đặc biệt "Dự án giáo dục tiểu học
cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn" với khoản kinh phí lớn nhằm tạo mọi cơ hội,
điều kiện cho những trẻ có hoàn cảnh khó khăn được đi học. Dự án đã được
triển khai tại 219 huyện khó khăn thuộc 40 tỉnh trong cả nước với gần 15.000
điểm trường.
Bên cạnh đó, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách công bằng trong
tiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng khó khăn.
Trước hết là ưu tiên đầu tư theo mục tiêu cho các địa bàn có nhiều khó khăn,
phát hành công trái giáo dục để hỗ trợ cho các tỉnh miền núi, vùng khó khăn
3
xây dựng trường học kiên cố, đạt chuẩn chất lượng và thực hiện xoá đói giảm
nghèo, thông qua đó tạo nhiều cơ hội cho trẻ tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ
giáo dục. Hệ thống các trường phổ thông nội trú và bán trú được củng cố và
mở rộng với 13 trường trung ương, 50 trường tỉnh, 266 trường huyện và 519
trường bán trú xã, cụm xã.
Năm 2000, Việt Nam đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập
tiểu học. Từ năm học 2002-2003, tỷ lệ biết chữ của người lớn trong độ tuổi
15-24 đã đạt gần 95%, số năm đi học trung bình của người dân đạt mức 7,3
năm. Việc dạy chữ dân tộc đã được đẩy mạnh ở các địa phương, nhờ đó tỷ lệ
người dân tộc thiểu số mù chữ giảm mạnh.
Ngành giáo dục và đào tạo đã đạt và vượt các chỉ tiêu cơ bản mà Chiến
trường mầm non, gần 3.200 trường tiểu học, trên 400 trường trung học cơ sở
và phổ thông trung học đạt trường chuẩn quốc gia.
Việc đầu tư cho đội ngũ giáo viên nói chung được chú trọng đặc biệt.
Mạng lưới trường sư phạm rộng khắp cả nước với 10 trường đại học sư phạm,
11 trường đại học đa ngành được nâng cấp từ cao đẳng sư phạm (trong đó chủ
yếu là đào tạo sư phạm), trên 80 trường cao đẳng tham gia đào tạo giáo viên.
Trong vòng 5 năm qua, mạng lưới đào tạo này đã cung cấp thêm gần
250.000 giáo viên từ mầm non tới phổ thông trung học. Hiện có gần 1 triệu
giáo viên, giảng viên, trong đó có 700 giáo viên tiểu học có trình độ cao đẳng
sư phạm trong lĩnh vực dạy trẻ khuyết tật và gần 9.000 giáo viên mầm non,
tiểu học được tập huấn đào tạo về giáo dục hòa nhập.
1.2. Những hạn chề và nguyên nhân cần khắc phục trong nền giáo dụcđào tạo ở nước ta hiện nay:
* Một số hạn chế:
Xây dựng, phát triển nguồn nhân lực là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị, của tất cả các cấp, các ngành, của toàn xã hội; diễn ra trên mọi lĩnh
vực kinh tế - xã hội; thông qua thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó,
giáo dục và đào tạo là phương tiện chủ yếu nhất.
Thực trạng của giáo dục và đào tạo còn không ít hạn chế, bất cập.
“Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào
5
tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào
tạo theo nhu cầu của xã hội. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số
lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người. Chương
trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo
dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục
toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo còn bất cập. Xu
hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm,
dành nhiều thời gian học những kiến thức lạc hậu vô bổ (sau nhiều lần bàn cãi
cũng chỉ mới giảm được thời lượng bắt buộc).
Mặt khác lại quá thực dụng thiển cận, thiên về triết lý mì ăn liền mà coi
nhẹ những vấn đề có ý nghĩa cơ bản suốt đời cho mỗi người như: hình thành
nhân cách, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng cảm thụ.
Coi nhẹ kỹ năng lao động, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, đức tính
trung thực, năng lực sáng tạo, trí tưởng tượng, là những đức tính thời nào
cũng cần nhưng đặc biệt thời nay càng cần hơn bao giờ hết.
Bằng cách đặt nặng quá mức bằng cấp và thi cử, nhà trường đã vô tình
tuôn ra xã hội mọi thứ rác rưởi độc hại: bằng giả, bằng dỏm, học giả, v.v.
Chất lượng giáo dục sa sút một thời gian dài, nhất là ở đại học, cao
đẳng và dạy nghề, khiến nhân lực đào tạo ra còn rất xa mới đáp ứng được đòi
hỏi thực tế về cả chất lượng và số lượng, do đó đang trở thành nhân tố cản trở
nghiêm trọng sự phát triển kinh tế.
Dân trí thấp - hệ quả tất nhiên của giáo dục yếu kém -- tác động tiêu
cực đến môi trường, sức khỏe cộng đồng, an toàn giao thông, và hàng loạt vấn
nạn khác.
Thêm vào đó, chất lượng giáo dục quá thấp là nguyên nhân quan trọng
gây ra nạn chảy máu chất xám đang làm xã hội mất đi những nguồn lực trí tuệ
quý giá.
Trong khi chất lượng giáo dục sa sút thì chi phí giáo dục tăng liên tục,
trở thành gánh nặng phi lý không chỉ cho ngân sách quốc gia, mà còn cho mọi
7
gia đình vì phần đóng góp trực tiếp của dân ngoài thuế lên đến hơn 40% tổng
chi phí giáo dục.
Tuy nhiên, còn may là vượt lên trên tình hình chung không mấy sáng
sủa đó vẫn có những điểm sáng nhất định (lác đác trong từng cấp học đều có
nguồn nhân lực, thực hiện công bằng trong giáo dục, xây dựng xã hội học tập,
tạo điều kiện để ai cũng được học hành. Mọi công dân không phân biệt dân
tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đùnh, địa vị xã hội, hoàn
cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập. Giáo dục tiểu học và giáo dục
trung học cơ sở là các cấp học phổ cập, mọi công dân trong độ tuổi lao động
đều có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Nhà nước và ngành
giáo dục rất quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ cho con em dân tộc thiểu số, con
em gia đình ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn và các trẻ em tàn tật, khuyết tật thực hiện quyền và nghĩa
vụ học tập của mình.
Trong những năm qua cùng hợp với Bộ Giáo dục - Đào tạo, Công đoàn Giáo
dục Việt Nam đã chỉ đạo, tổ chức và động viên đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản
lý giáo dục và lao động nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính
trị của ngành. Phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt” và các cuộc vận động xã
hội rộng lớn trong ngành tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh, góp phần xây
dựng đội ngũ nhà giáo phát triển về số lượng, nâng cao về trình độ chuyên
môn, nghiệp cụ. Đến năm học 2008 – 2009, trên cả nước, đội ngũ nhà giáo
trực tiếp đứng lớp có hơn một triệu người, tăng 2,2% so với năm học trước.
Tỷ lệ trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn của đội ngũ nhà giáo tiếp tục
tăng. Ở các trường đại học, đội ngũ giảng viên tăng, trong đó tỷ lệ giảng viên
có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ tăng.
Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã tích cực thực hiện nhiều biện
pháp quan trọng để phát huy và sử dụng có hiệu quả nguồn lực đầu tư của nhà
nước và nguồn lực đóng góp của cộng đồng vào việc tăng cường cơ sở vật
chất, thiết bị giáo dục, kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo
viên, phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Đầu tư của Nhà nước
cho giáo dục - đào tạo liên tục tăng, đến năm học 2008 - 2009, chi cho giáo
9
GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO
2.1. Mục tiêu
Trong những thời gian tới, tình hình khu vực và quốc tế vẫn còn nhiều
biến động phức tạp, kinh tế thế giới vẫn còn chứa đựng những tiềm ẩn rủi ro,
khó lường, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ vẫn còn có
những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam. Trong bối
cảnh đó, để góp phần phát triển bền vững sự nghiệp giáo dục - đào tạo, xuất
phát từ chức năng, nhiệm vụ, vị trí và vai trò của mình, đội ngũ nhà giáo và tổ
chức công đoàn giáo dục các cấp tập trung thực hiện một số giải pháp sau
đây:
- Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật trong đội
ngũ nhà giáo. Trọng tâm là tập trung làm cho mỗi nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục thống nhất được nhận thức, nắm vững nhiệm vụ của ngành, cấp học,
bậc học và nhiệm vụ của nhà giáo được qui định trong Luật Giáo dục, Chỉ thị
về nhiệm vụ năm học của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo và các văn bản
pháp luật khác; từ đó triển khai có hiệu quả trong thực tiễn giáo dục ở trường
học và đơn vị. Tôn vinh đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và nghề
dạy học trong xã hội.
- Động viên đội ngũ nhà giáo tiếp tục thực hiện tốt phong trào thi đua
“Dạy tốt - Học tốt”, phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực” và các cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự
học và sáng tạo”.
Thông qua đó, góp phần nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực của đội
ngũ nhà giáo. Tạo điều kiện cho đội ngũ nhà giáo tự học và ứng dụng công
nghệ thông tin đổi mới phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học và
chuyển giao công nghệ, sáng tạo và cải tiến đồ dùng dạy học, nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm. Quản lý tốt quá trình học tập và rèn
11
12
- Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý và nghiệp vụ
hoạt động công đoàn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt của công đoàn giáo dục các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; công đoàn các Đại học Quốc gia, Đại
học vùng; công đoàn các trường đại học và cao đẳng, từ đó góp phần đổi mới
các hoạt động công đoàn, xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh. Tăng
cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm hoạt động và những nội dung khác đã
được Công đoàn Giáo giới các nước ASEAN thoả thuận thực hiện.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp, đội ngũ nhà giáo sẽ góp phần xây
dựng nền giáo dục Việt Nam hiện đại, của dân, do dân, vì dân, đào tạo nguồn
nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước và hưởng ứng 5 năm cuối Thập
kỷ của Liên Hợp quốc về giáo dục vì sự phát triển bền vững (2005 - 2014).
2.2. Phương hướng
Nhà nước ta coi giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc
sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Với cuộc cách mạng về khoa học công nghệ đang diễn
ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới hiện nay, khoa học và công nghệ đã trở
thành "lực lượng sản xuất trực tiếp", trong đó tri thức và thông tin trở thành
yếu tố quan trọng và nguồn tài nguyên đặc biệt, có giá trị cao. Do đó, vai trò
của các yếu tố truyền thống trong sản xuất và cạnh tranh đã có sự thay đổi
lớn: yếu tố trí tuệ có vai trò quyết định nhất trong mối tương quan với các yếu
tố tài nguyên thiên nhiên, vốn và sức lao động. Đồng thời cũng chính từ nó
đã hình thành nên nguồn lực nội sinh cho sự phát triển.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tiếp tục phát
triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế
và đời sống xã hội; các quốc gia lớn, họ tham gia ngày càng nhiều vào quá
trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và
tạo, chủ yếu là giữa những người trực tiếp sản xuất, những cán bộ thiết kế và
kỹ thuật, những cán bộ là công tác nghiên cứu và phát triển, cân chú trọng
đồng thời cả ba mặt: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
chỉ làm như vậy mới có thể tạo nên nguồn lực nội sinh dồi dào, mạnh mẽ và
14
có khả năng kết hợp chặt chẽ được với nguồn lực ngoại sinh, thực hiện tốt
nhiệm vụ trong giai đoạn đầu tiên của cả thời kỳ công nghiệp hóa, hiên đại
hóa ở nước ta là: tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ bên ngoài, vận dụng phù
hợp với điều kiện thực tế bên trong, đồng thời đi thẳng vào công nghệ tiên
tiến ở những ngành, những lĩnh vực có tác động chi phối nền kinh tế quốc
dân, và tiến tới sáng tạo ra công nghệ mới.
Ngoài ra, phải phân đấu xây dựng xã hội ta thành một xã hội có trình
độ dân trí và học vấn cao. Tùy theo điều kiện cụ thể từng giai đoạn mà nâng
dần trình độ phổ cập giáo dục cho toàn dân theo độ tuổi quy định (trước mắt
là phổ cập giáo dục tiểu học, tiến lên phổ cập ở bậc trung học cơ sở), khuyến
khích để ngày càng có nhiều người lao động trực tiếp sản xuất vươn tới trình
độ học vấn cao đẳng, đủ khả năng làm việc trong một hệ thống dây chuyền
công nghệ hiện đại. Cần đào tạo điều kiện cho con em các dân tộc ở vùng sâu,
vùng xa… được học hành, tiếp thu nền giáo dục tốt và có khả năng vươn lên
trình độ học vấn cao. Như vậy, vừa bảo đảm được sự công bằng xã hội trong
giáo dục, vừa góp phần bảo đảm sự phân bố cán bộ khoa học- công nghệ theo
vùng và lãnh thổ một cách phù hợp, tạo lực lượng nòng cốt cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các ngành và các địa phương.
Trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nhà nước đòi hỏi phải không ngững
nâng cao chất lượng đào tạo. hiện nay nhiều nước trên thế giới đã bước vào
giai đoạn phát triển cao của khoa học và công nghệ, còn ước ta vẫn ở trong
tình trạng khá lạc hậu, chưa ứng dụng được nhiều thành tự của nền khao học
trường, hoặc thành lập một trường riêng biệt, mà là cần căn cứy vào thế
mạnh, truyền thống của các trường trọng điểm quốc gia hiện nay (Đại học
Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố HCM, Đại học Bách Khoa Hà
Nội) để hình thành những trung tâm chất lượng cao phù hợp với đẳng cấp
Quốc tế.
Cần làm cho đất nước ta trở thành đất nước của những người hiền tài, ở
đó , mọi năng lực trọng dụng và tạo điều kiện để phát triển mọi sáng tạo được
khuyến khích và phát huy, giúp phần thực hiện được mục tiêu "dân giàu, nước
16
mạnh, xa hội công bằng, dân chủ văn minh", sánh vai cùng các nước trên thế
giới trong nhịp bước khẩn trương củathời đại (Báo cáo chính trị Đại hội X).
Trong giai đoạn phát triển hiện nay của cách mạng khoa học công nghệ
trên thế giới, chất lượng đào tạo còn gắn với việc trang bị cho người học khả
năng khai thác được thông tin toàn cầu về khoa học và công nghệ như là một
dạng tài nguyên đặc biệt qua hệ thống các mạng thông tin khổng lồ. ở đây cần
hết sức lưu ý việc giáo dục cho thế hệ trẻ bản lĩnh chính trị vững vàng, biết
lựa chọn thông tin cần thiết cho nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, loại trừ những tư tưởng độc hại và mọi âm mưu diễn biến hòa bình qua
các dòng thác thông tin đó.
Ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, chu kỳ từ
lúc có phát minh khao học đến lúc nó được ứng dụng trong thực tiễn ngày
càng rút ngắn, thông tin đã trở thành một nguồn lực, một nguồn tài nguyên
thực sự, luôn luôn thay đổi và phát triển. Trong điều kiện đó, giáo dục và đào
tạo ở nhà trường được coi là gia đoạn mở đầu của một quá trình học tập liên
tục, không bao giờ ngừng nghỉ trong suốt cuộc đời hoạt động của mỗi người.
Giáo dục phải trở thành một hệ thống đa dạng, mềm dẻo hướng tới số đông
nhưng lại trên cơ sở cá biệt hóa và tự đào tạo, chú ý đến năng lực và triển
vọng của từng người. Mọi bằng cấp và học vị chỉ có giá trị ghi nhận trình độ
mọi ngành mọi thành phần kinh tế và mọi người dân đều có nghĩa vụ chăm lo
đến sự nghiệp giáo dục với những hình thức, tính chất và mức độ khác nhau.
ngoài hệ thống các trường công lập, khuyến khích mở các trường bán công,
dân lập và trường tư thục để đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng và phong phú,
ngày càng tăng của toàn xã hội. áp dụng tộng rãi mô hình trường cao đẳng
cộng đồng nhằm phục vụ thiết thực cho lợi ích phát triển kinh tế – xã hôi của
18
từng địa phương trong cả nước. Sinh viên của các trường cao đẳng cộng đồng
phải được đào tạo nghề nghiệp tốt, đồng thời, tròn sự liên thông của toàn bộ
hệ thống, họ cần được tạo điều kiện để học tiếp chuyển lên đại học.
Tất cả các loại hình trường nói trên đầu phải có sự quản lý của Nhà
nước và các cơ quan quản lý giáo dục. Các tổ chức kinh doanh, sản xuất, dịch
vụ là những tổ chức trực tiếp sử dụng các sản phẩm của giáo dục và đào tạo
đầu phải có nghĩa vụ đóng góp cho sự nghiệp phát triển giáo dục của Nhà
nước.
Tóm lại chúng ta cần nắm vững xu hướng vận động và phát triển nền
giáo dục dưới tác độngcủa cách mạng khoa học và công nghệ thế giới cũng
như xu thế hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay để tận dụng thời cơ, vượt
qua thử thác, phấn đấu xây dựng một nền giáo dục Việt Nam tiên tiến, có bản
sắc dân tộc đậm nét và tính định hướng xã hội chủ nghĩa rõ ràng, xứng đáng
ngang tầm và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A: MỞ ĐẦU.....................................................................................................1
B: NỘI DUNG..................................................................................................3
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG NỀN GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO NƯỚC TA. 3
1.1. Những thành tựu của nền giáo dục – đào tạo nước ta:.........................3
1.2. Những hạn chề và nguyên nhân cần khắc phục trong nền giáo dụcđào tạo ở nước ta hiện nay:............................................................................5
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NHẰM PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO................................................................................11
2.1. Mục tiêu...................................................................................................11
2.2. Phương hướng........................................................................................13
C: KẾT LUẬN...............................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................20
21